Trang Dimple
Moderator
- Xu
- 39,666
Giai cấp tư sản ở Tây Âu được hình thành thông qua một quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự ra đời của các thành thị trung đại và quá trình tích lũy vốn ban đầu. Quá trình hình thành này bao gồm các bước và các nhóm đối tượng cụ thể sau:
1. Nguồn gốc lịch sử từ tầng lớp thị dân
1. Nguồn gốc lịch sử từ tầng lớp thị dân
- Từ nông nô thành thị dân: Tổ tiên của giai cấp tư sản vốn là những nông nô ở nông thôn. Họ chạy trốn khỏi các lãnh địa phong kiến để tìm đến các thành thị mới hình thành, thoát khỏi thân phận nông nô và trở thành tầng lớp thị dân tự do.
- Tích lũy tài sản: Tại thành thị, nhờ các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp phát đạt, một bộ phận thị dân dần tích lũy được nhiều tiền của, làm ăn phát đạt và trở nên giàu có, từ đó chuyển hóa thành giai cấp tư sản.
2. Sự phân hóa trong sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp
Sự ra đời của hình thức sản xuất công trường thủ công trong công nghiệp đã trực tiếp tạo ra những nhà tư sản đầu tiên. Họ xuất hiện từ hai nguồn chính:
Sự ra đời của hình thức sản xuất công trường thủ công trong công nghiệp đã trực tiếp tạo ra những nhà tư sản đầu tiên. Họ xuất hiện từ hai nguồn chính:
- Thợ thủ công khá giả: Trong các phường hội thủ công, một số chủ xưởng nhờ tích lũy được một số vốn nhất định đã bất chấp quy chế cũ để tự động mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật và thuê mướn những người thợ không có tư liệu sản xuất vào làm việc tập trung (hình thành nên các công trường thủ công tập trung). Những thợ thủ công khá giả này chính là những nhà tư sản đầu tiên.
- Lái buôn bao mua: Trong hình thức công trường thủ công phân tán, các lái buôn trung gian đem nguyên liệu và công cụ đến ứng trước cho thợ thủ công làm việc tại nhà, sau đó thu mua lại sản phẩm và trả thù lao. Qua quá trình này, thợ thủ công thực chất bị biến thành người làm thuê bị bóc lột giá trị thặng dư, còn các lái buôn bao mua thực tế đã trở thành các chủ xí nghiệp tư sản.
- Thương nhân lớn: Sự phát triển mạnh mẽ của giao thương quốc tế và ngành hàng hải tạo nên tầng lớp thương nhân lớn giàu có, cấu thành một bộ phận quan trọng của giai cấp tư sản mới nổi.
3. Sự hình thành các nhà tư sản nông nghiệp
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào nông nghiệp cũng làm xuất hiện tầng lớp tư sản ở nông thôn:
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào nông nghiệp cũng làm xuất hiện tầng lớp tư sản ở nông thôn:
- Chủ đồn điền: Các nhà tư sản nông nghiệp thuê ruộng đất đai của lãnh chúa phong kiến bằng những hợp đồng dài hạn, sau đó thuê mướn công nhân nông nghiệp đến làm việc tại các đồn điền để thu giá trị thặng dư.
- Phú nông: Một số ít nông dân tự do làm ăn thuận lợi nhờ kinh tế hàng hóa, trở nên giàu có, chủ động mở rộng đất đai và thuê mướn cố nông (nông dân bị phá sản) vào làm việc.
- Địa chủ phong kiến chuyển đổi: Một số địa chủ phong kiến thay đổi cách bóc lột, không phát canh thu tô nữa mà thuê cố nông làm việc trên đất của mình, trở thành tầng lớp quý tộc mới có lợi ích gắn liền với chủ nghĩa tư bản.
4. Đòn bẩy từ quá trình tích lũy vốn ban đầu và các phát kiến địa lý
- Quá trình tích lũy vốn: Giai cấp tư sản tăng cường sức mạnh kinh tế bằng cách tập trung vốn vào tay mình và tước đoạt tư liệu sản xuất của quần chúng lao động (chủ yếu là nông dân) thông qua các biện pháp tàn bạo như phong trào rào đất cướp ruộng ở Anh hay cướp bóc thuộc địa.
- Tác động từ "cuộc cách mạng giá cả": Sau các cuộc phát kiến địa lý, lượng vàng bạc khổng lồ đổ về Tây Âu làm cho đồng tiền mất giá, kéo theo hiện tượng giá cả hàng hóa tăng vọt. Sự kiện này đem lại lợi ích kép cực kỳ lớn cho các nhà tư sản mới ra đời ở cả thành thị và nông thôn, vì họ bán được sản phẩm đầu ra với giá không ngừng tăng cao nhưng chỉ phải thuê nhân công lao động với giá rẻ mạt. Điều này giúp họ tích lũy tiền vốn một cách nhanh chóng để mở rộng sản xuất.
Tóm lại, giai cấp tư sản được hình thành từ những thị dân giàu lên trong các thành thị, các thương nhân lớn, chủ công trường thủ công và các nhà tư sản nông nghiệp. Họ nắm giữ nhiều tư liệu sản xuất và sử dụng sức lao động làm thuê để vận hành nền kinh tế.