Trang Dimple
Moderator
- Xu
- 39,666
Nông nghiệp Việt Nam: phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học công nghệ. Sản phẩm nông nghiệp phát triển theo ba trục sản phẩm chủ lực, chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái. Dưới đây là tóm tắt chi tiết, đầy đủ và chuẩn xác nội dung kiến thức cơ bản Bài 5: Nông nghiệp -Địa Lý 9
I. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp
Sự phát triển và phân bố nông nghiệp nước ta chịu ảnh hưởng quyết định bởi hai nhóm nhân tố: Tự nhiên và Kinh tế - xã hội.
1. Nhân tố tự nhiên (Cơ sở để phát triển nông nghiệp nhiệt đới)
Nền nông nghiệp nước ta đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao và liên kết chuỗi giá trị. Năm 2024, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 2,9% (đóng góp 74,4% giá trị toàn ngành nông - lâm - thủy sản). Cơ cấu ngành có xu hướng giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Các mô hình nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ và VietGAP/GlobalGAP phát triển rộng khắp cả nước.
1. Ngành trồng trọt (Chiếm 65,3% giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2024)
a. Cây lương thực (Chủ yếu là cây lúa)
Chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ từ quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ sang mô hình trang trại tập trung, khép kín và ứng dụng công nghệ cao.
Luyện tập 2: Nhận xét biểu đồ diện tích cây lương thực và cây lúa nước ta (2010 – 2024)
Bài 5 Nông nghiệp- Địa Lý 9
I. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệpSự phát triển và phân bố nông nghiệp nước ta chịu ảnh hưởng quyết định bởi hai nhóm nhân tố: Tự nhiên và Kinh tế - xã hội.
1. Nhân tố tự nhiên (Cơ sở để phát triển nông nghiệp nhiệt đới)
- Địa hình và đất:
- Địa hình đồi núi: Chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ (chủ yếu là đồi núi thấp), một số vùng có các cao nguyên lớn (Tây Nguyên, Trung du và miền núi phía Bắc, Duyên hải Nam Trung Bộ). Đất chủ yếu là đất feralit, rất thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả và đồng cỏ chăn nuôi gia súc lớn.
- Địa hình đồng bằng: Chiếm 1/4 diện tích (Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và các đồng bằng duyên hải). Đất chủ yếu là đất phù sa, rất màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi trồng lúa nước, rau màu và cây ăn quả.
- Khí hậu:
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa giúp cây trồng, vật nuôi sinh trưởng nhanh, phát triển quanh năm và cho năng suất cao.
- Khí hậu có sự phân hóa đa dạng (theo chiều bắc - nam, theo độ cao địa hình và theo mùa) giúp đa dạng hóa cơ cấu mùa vụ, sản phẩm nông nghiệp và dễ dàng quy hoạch các vùng chuyên canh nông nghiệp ôn đới, cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới.
- Nguồn nước:
- Hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều hồ đầm tự nhiên/nhân tạo cùng nguồn nước ngầm phong phú cung cấp lượng nước tưới tiêu dồi dào cho sản xuất nông nghiệp.
- Sinh vật:
- Động, thực vật phong phú là cơ sở để thuần dưỡng, lai tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt, thích nghi cao với điều kiện sinh thái từng vùng.
- Hạn chế: Đất dễ bị thoái hóa; khí hậu nóng ẩm phát sinh nhiều sâu bệnh dịch hại; thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.
- Dân cư và lao động:
- Quy mô dân số đông tạo ra thị trường tiêu thụ nội địa rộng lớn.
- Lực lượng lao động dồi dào, cần cù, giàu kinh nghiệm sản xuất; trình độ lao động ngày càng nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại.
- Chính sách phát triển:
- Nhiều chủ trương gắn liền phát triển nông nghiệp với nông thôn bền vững.
- Chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, tạo ra sản phẩm giá trị cao theo chuỗi liên kết.
- Khoa học - công nghệ và cơ sở vật chất - kĩ thuật:
- Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới năng suất cao, chịu hạn, chịu mặn tốt ra đời.
- Cơ sở vật chất hoàn thiện với các công trình thủy lợi đồ sộ như: hồ Dầu Tiếng (Đông Nam Bộ), hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải (Đồng bằng sông Hồng), hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé (Đồng bằng sông Cửu Long).
- Các cơ sở chế biến nông sản gắn với vùng chuyên canh được đầu tư quy mô lớn.
- Thị trường:
- Thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước mở rộng giúp thúc đẩy xuất khẩu và đa dạng hóa nông sản.
- Hạn chế: Cơ sở vật chất kỹ thuật ở một số vùng sâu vùng xa còn thô sơ; thị trường biến động và tính cạnh tranh quốc tế gay gắt.
Nền nông nghiệp nước ta đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao và liên kết chuỗi giá trị. Năm 2024, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 2,9% (đóng góp 74,4% giá trị toàn ngành nông - lâm - thủy sản). Cơ cấu ngành có xu hướng giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Các mô hình nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ và VietGAP/GlobalGAP phát triển rộng khắp cả nước.
1. Ngành trồng trọt (Chiếm 65,3% giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2024)
a. Cây lương thực (Chủ yếu là cây lúa)
- Vai trò: Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phục vụ xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
- Sự phát triển: Ứng dụng rộng rãi các giống lúa mới ngắn ngày, chịu hạn mặn, kháng sâu bệnh tốt. Cơ giới hóa đồng bộ từ khâu gieo cấy đến thu hoạch.
- Vùng trọng điểm:Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.
- Số liệu diện tích và sản lượng lương thực có hạt (2010 – 2024):
- Diện tích gieo trồng: Giảm nhẹ từ 8,6 triệu ha (2010) xuống còn 8,0 triệu ha (2024) (trong đó diện tích lúa giảm từ 7,5 triệu ha xuống còn 7,1 triệu ha).
- Sản lượng: Tăng liên tục từ 44,6 triệu tấn (2010) lên đến 47,9 triệu tấn (2024) (sản lượng lúa tăng từ 40,0 triệu tấn lên 43,5 triệu tấn), chứng tỏ năng suất tăng vượt bậc nhờ kỹ thuật thâm canh tốt.
- Diện tích ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Phân bố: Trồng nhiều ở Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng.
- Cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, đậu tương, bông...):
- Lạc, đậu tương: Trồng nhiều ở Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ.
- Mía: Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ.
- Bông: Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu...):
- Chè: Trồng chủ yếu ở Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
- Cà phê, cao su, hồ tiêu, điều: Trồng nhiều nhất tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
- Số liệu diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm (2024):
- Cao su: Diện tích đạt 909,3 nghìn ha, sản lượng 1 327,7 nghìn tấn.
- Cà phê: Diện tích đạt 731,9 nghìn ha, sản lượng 2 015,2 nghìn tấn.
- Chè: Diện tích đạt 121,9 nghìn ha, sản lượng 1 154,1 nghìn tấn.
- Nước ta có thế mạnh trồng nhiều cây ăn quả nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới, nhiều vùng đặc sản nổi tiếng thế giới (vải thiều Lục Ngạn, bưởi Phúc Trạch, xoài cát Hòa Lộc...).
- Sự phát triển: Diện tích trồng cây ăn quả tăng nhanh chóng, từ 779,7 nghìn ha (2010) lên 1 297,7 nghìn ha (2024).
- Vùng lớn nhất:Đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ.
Chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ từ quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ sang mô hình trang trại tập trung, khép kín và ứng dụng công nghệ cao.
- Chăn nuôi trâu, bò:
- Trâu: Đàn trâu giảm liên tục từ 2,9 triệu con (2010) xuống còn 2,0 triệu con (2024) do quá trình cơ giới hóa nông nghiệp thay thế sức kéo của trâu. Trâu được nuôi nhiều nhất tại Trung du và miền núi phía Bắc.
- Bò: Đàn bò duy trì ổn định ở mức 6,2 triệu con (2024). Bò thịt nuôi nhiều ở Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Bò sữa tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ.
- Chăn nuôi lợn:
- Số lượng lợn đạt 26,5 triệu con (năm 2024).
- Phân bố: Nuôi nhiều nhất ở Trung du và miền núi phía Bắc và Đông Nam Bộ.
- Chăn nuôi gia cầm:
- Tăng trưởng rất nhanh từ 301,9 triệu con (2010) lên 584,1 triệu con (2024).
- Phân bố: Nuôi nhiều nhất ở Đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Luyện tập 2: Nhận xét biểu đồ diện tích cây lương thực và cây lúa nước ta (2010 – 2024)
- Nhận xét:
- Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt nói chung và diện tích lúa nói riêng của nước ta có xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn 2010 - 2024 (diện tích lương thực có hạt giảm 0,6 triệu ha; diện tích lúa giảm 0,4 triệu ha).
- Tuy diện tích gieo trồng giảm, nhưng nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa các giống mới năng suất cao vào sản xuất nên tổng sản lượng lương thực và sản lượng lúa của nước ta vẫn tăng liên tục (sản lượng lúa tăng thêm 3,5 triệu tấn). Điều này cho thấy hiệu quả sản xuất nông nghiệp của nước ta ngày càng được nâng cao đáng kể.