Trang Dimple
Moderator
- Xu
- 41,337
Chủ đề: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
(từ năm 1945 đến năm 1991)
(từ năm 1945 đến năm 1991)
1. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
* Hoàn cảnh/Điều kiện lịch sử:
- Thắng lợi của Liên Xô và các lực lượng dân chủ cùng với đó là sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, quân phiệt đã cổ vũ nhân dân các nước Đông Nam Á nổi dậy đấu tranh.
- Bản thân các nước đế quốc có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Hà Lan cũng bị thiệt hại nặng nề. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cho sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh.
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống XHCN trên thế giới đã hình thành. Liên Xô đạt nhiều thành tựu…, sự lớn mạnh và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của các lực lượng dân chủ hòa bình… là chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc.
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á là nơi đụng đầu quyết liệt nhất giữa hai lực lượng quốc tế… Từ đây, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á có những điều kiện khách quan thuận lợi và khó khăn…
* Diễn biến:
- Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) là thuộc địa của các nước thực dân phương Tây. Trong chiến tranh, toàn bộ khu vực bị quân phiệt Nhật chiếm đóng. Từ cuộc đấu tranh chống đế quốc Âu - Mĩ, nhân dân Đông Nam Á chuyển sang đấu tranh chống quân phiệt Nhật, giải phóng dân tộc.
- Chớp thời cơ Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân nhiều nước Đông Nam Á nổi dậy và đã giành được độc lập như: In-đô-nê-xi-a, Việt Nam (đều trong tháng 8 – 1945), Lào (10-1945).
- Khi các nước thực dân quay trở lại tái chiếm Đông Nam Á, nhân dân các nước trong khu vực lại phải tiếp tục đấu tranh chống xâm lược và giành được thắng lợi vào những thời điểm khác nhau.
Phi-líp-pin được Mỹ trao trả độc lập (1946), Miến Điện được thực dân Anh trao trả độc lập (1948), Cộng hoà Liên bang In-đô-nê-xi-a được thực dân Hà Lan công nhận (1949). Cam-pu-chia được thực dân Pháp trao trả độc lập (1953), Mã Lai được Anh công nhận độc lập (1957), Xin-ga-po được Anh công nhận quyền tự trị (1959).
Nhân dân Việt Nam và Lào tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954), tiếp tục kháng chiến chống Mỹ và giải phóng hoàn toàn (1975).
Nhân dân Campuchia phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ, đến năm 1975 mới giành thắng lợi hoàn toàn.
+ Riêng Bru-nây đến năm 1984 mới tuyên bố độc lập.
* Tác động đến quan hệ quốc tế
- Thắng lợi phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á đã làm thay đổi căn bản tình hình và bộ mặt khu vực cũng như thế giới.
Bản đồ chính trị thế giới có sự biến đổi khác trước: từ những nước thuộc địa, nô dịch không có tên trên bản đồ thế giới, các nước Đông Nam Á đã có nền độc lập thực sự, ghi tên mình trên bản đồ thế giới.
- Góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, giáng một đòn nặng nề vào hậu phương của CNĐQ, gây sự bất ổn và góp phần làm suy yếu CNĐQ, tạo điều kiện thuận lợi và cổ vũ phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi và Mĩ Latinh.
- Thắng lợi phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á góp phần làm đảo lộn Chiến lược toàn cầu của Mĩ, làm “xói mòn” trật tự hai cực Ianta.
- Trong mối quan hệ quốc tế, các nước Đông Nam Á mới được giải phóng đã bước lên vũ đài chính trị, tham gia tích cực vào đời sống chính trị khu vực và thế giới. Các nước này ngày càng có vị thế lớn và cũng đóng góp vai trò quan trọng trong diễn đàn quốc tế tiêu biểu là Liên hợp quốc.
2. Công cuộc bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước sau khi giành độc lập
* Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po:
- Những năm 50, 60 của thế kỉ XX:
+ Thực hiện công nghiệp hoá hướng nội, đẩy mạnh sản xuất công nghiệp tiêu dùng để thay thế nhập khẩu.
+ Đáp ứng được nhu cầu cơ bản của đất nước, giải quyết được thất nghiệp, sản phẩm quốc dân tăng, nhưng còn những bất cập: thiếu vốn, nguyên liệu, kĩ thuật.
- Những năm 70, 80 của thế kỉ XX:
+ Thực hiện công nghiệp hoá hướng ngoại, đẩy mạnh sản xuất công nghiệp hướng vào xuất khẩu.
+ Tạo ra biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội: tăng trưởng kinh tế khá cao, gia tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp và ngoại thương. Nổi trội nhất là Xin-ga-po – đã trở thành "con rồng" kinh tế châu Á.
* Việt Nam, Lào:
- Từ năm 1945-1975: Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.
+ Tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954), tiếp tục kháng chiến chống Mỹ và giải phóng hoàn toàn (1975).
+ Việt Nam: xây dựng, phát triển vùng giải phóng (1945-1954), xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975);
+ Lào: xây dựng căn cứ địa cách mạng, mở rộng vùng giải phóng.
- Từ năm 1975-1986:
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước: củng cố bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
+ Ổn định về chính trị, song còn nghèo nàn, kém phát triển về kinh tế.
- Từ năm 1986-1991:
+ Tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
+ Kinh tế – xã hội đạt được những thành tựu bước đầu.
* Cam-pu-chia:
- Từ năm 1953-1970: Thành lập Chính phủ, thi hành chính sách hòa bình, trung lập.
- Từ năm 1970-1975: Tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Từ năm 1975-1979: rơi vào thảm họa diệt chủng dưới sự thống trị của tập đoàn Pôn Pốt
- Từ năm 1979-1991:
+ Năm 1979, các lực lượng cách mạng Cam-pu-chia được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã lật đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt.
+ Ký kết hiệp định Hòa bình về Cam-pu-chia (10-1991), tạo điều kiện cho quá trình khôi phục và phát triển đất nước.
* Bru-nây:
1984-1991: Chuyển từ nền kinh tế hoàn toàn dựa vào nguồn dầu mỏ và khí tự nhiên sang nền kinh tế đa dạng hóa, phát triển công nghiệp tiêu dùng và xuất khẩu.
* Miến Điện:
- Từ năm 1948-1988: Thực hiện chính sách tự lực, hướng nội dưới sự lãnh đạo của chính quyền quân sự độc tài. Những năm 80, Miến Điện lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội.
- Từ năm 1988-1991: Khôi phục trật tự xã hội, cải cách, mở cửa nền kinh tế và đã đạt được thành tựu bước đầu.
3. Sự ra đời của tổ chức ASEAN
* Bối cảnh ra đời/Quá trình hình thành
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng khu vực hóa trên thế giới bắt đầu xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến.
- Sau khi giành độc lập các quốc gia Đông Nam Á có nhu cầu hợp tác để cùng phát triển kinh tế, xã hội.
- Nhiều nước Đông Nam Á muốn tạo ra sức mạnh tập thể để hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực trong bối cảnh Chiến tranh lạnh.
Đầu những năm 60 của thế kỷ 20, một số tổ chức khu vực được thành lập ở Đông Nam Á như Hiệp hội Đông Nam Á (1961), tổ chức MAPHILINDO (1963),…
Tuy nhiên, các tổ chức này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn do những bất đồng trong quan hệ song phương Giữa một số nước thành viên.
Vào nửa sau những năm 60 của thế kỷ 20, các nước Đông Nam Á ngày càng nhận thức rõ về sự cần thiết của việc hợp tác khu vực, đồng thời quan hệ giữa các nước có những diễn biến thuận lợi cho việc thành lập một tổ chức khu vực.
- Đồng thời, họ cũng muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương ngày càng không thuận lợi, khó tránh khỏi thất bại.
- Những tổ chức liên kết khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là thành tựu của khối Thị trường chung châu Âu (EEC) đã cổ vũ rất lớn với các nước Đông Nam Á.
Vì vậy, ngày 8-8-1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của năm nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan.
* Tôn chỉ và mục đích của Hiệp hội được nêu rõ tại Tuyên bố Băng Cốc (8 - 1967):
- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.
- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của hiến chương liên hợp quốc.
Có thể thấy, ASEAN được thành lập nhằm mục đích chính là:
- Tăng cường hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo điều kiện cho các nước thành viên phát triển và hội nhập với khu vực và thế giới.
- Phấn đấu để Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, tự do, thịnh vượng và ASEAN trở thành tổ chức bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á.
* Nguyên tắc hoạt động được nêu rõ trong Tuyên bố Ba-li (2-1976).
Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực đối với nhau; Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; Hợp tác có hiệu quả trong kinh tế, văn hóa và xã hội.
* Quá trình phát triển của ASEAN
- Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1976: ASEAN là tổ chức non trẻ, sự hợp tác giữa các thành viên còn lỏng lẻo, chưa có vị thế trên trường quốc tế.
- Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1991: ASEAN có những bước tiến mới.
+ Tháng 2-1976, các nước ASEAN đã kí Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a).
+ Hiệp ước Bali được kí kết, đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước, thúc đẩy sự hợp tác giữa các thành viên.
+ Quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện cho việc mở rộng ASEAN giai đoạn sau.
+ Năm 1984, Bru-nây tham gia và trở thành thành viên thứ sáu của tổ chức ASEAN.
+ Tháng 7 – 1991, Tuyên bố Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN về vấn đề Cam-pu-chia đã thống nhất một giải pháp chính trị toàn diện cho Cam-pu-chia.
+ Tháng 10 – 1991, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được kí kết, đã mở ra cho nhân dân Cam-pu-chia đi đến một giải pháp hòa bình, hòa hợp dân tộc.
Một thời kì mới mở ra cho các nước ASEAN với nhiều sự kiện.