Chủ đề CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (từ năm 1945 đến năm 1991)- Lịch sử 9

Chủ đề: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

(từ năm 1945 đến năm 1991)

1. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc

* Hoàn cảnh/Điều kiện lịch sử:


- Thắng lợi của Liên Xô và các lực lượng dân chủ cùng với đó là sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, quân phiệt đã cổ vũ nhân dân các nước Đông Nam Á nổi dậy đấu tranh.

- Bản thân các nước đế quốc có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Hà Lan cũng bị thiệt hại nặng nề. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cho sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh.

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống XHCN trên thế giới đã hình thành. Liên Xô đạt nhiều thành tựu…, sự lớn mạnh và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của các lực lượng dân chủ hòa bình… là chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc.

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á là nơi đụng đầu quyết liệt nhất giữa hai lực lượng quốc tế… Từ đây, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á có những điều kiện khách quan thuận lợi và khó khăn…

* Diễn biến:

- Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) là thuộc địa của các nước thực dân phương Tây. Trong chiến tranh, toàn bộ khu vực bị quân phiệt Nhật chiếm đóng. Từ cuộc đấu tranh chống đế quốc Âu - Mĩ, nhân dân Đông Nam Á chuyển sang đấu tranh chống quân phiệt Nhật, giải phóng dân tộc.

- Chớp thời cơ Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân nhiều nước Đông Nam Á nổi dậy và đã giành được độc lập như: In-đô-nê-xi-a, Việt Nam (đều trong tháng 8 – 1945), Lào (10-1945).

- Khi các nước thực dân quay trở lại tái chiếm Đông Nam Á, nhân dân các nước trong khu vực lại phải tiếp tục đấu tranh chống xâm lược và giành được thắng lợi vào những thời điểm khác nhau.

Phi-líp-pin được Mỹ trao trả độc lập (1946), Miến Điện được thực dân Anh trao trả độc lập (1948), Cộng hoà Liên bang In-đô-nê-xi-a được thực dân Hà Lan công nhận (1949). Cam-pu-chia được thực dân Pháp trao trả độc lập (1953), Mã Lai được Anh công nhận độc lập (1957), Xin-ga-po được Anh công nhận quyền tự trị (1959).

Nhân dân Việt Nam và Lào tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954), tiếp tục kháng chiến chống Mỹ và giải phóng hoàn toàn (1975).

Nhân dân Campuchia phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ, đến năm 1975 mới giành thắng lợi hoàn toàn.

+ Riêng Bru-nây đến năm 1984 mới tuyên bố độc lập.

* Tác động đến quan hệ quốc tế

- Thắng lợi phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á đã làm thay đổi căn bản tình hình và bộ mặt khu vực cũng như thế giới.

Bản đồ chính trị thế giới có sự biến đổi khác trước: từ những nước thuộc địa, nô dịch không có tên trên bản đồ thế giới, các nước Đông Nam Á đã có nền độc lập thực sự, ghi tên mình trên bản đồ thế giới.

- Góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, giáng một đòn nặng nề vào hậu phương của CNĐQ, gây sự bất ổn và góp phần làm suy yếu CNĐQ, tạo điều kiện thuận lợi và cổ vũ phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi và Mĩ Latinh.

- Thắng lợi phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á góp phần làm đảo lộn Chiến lược toàn cầu của Mĩ, làm “xói mòn” trật tự hai cực Ianta.

- Trong mối quan hệ quốc tế, các nước Đông Nam Á mới được giải phóng đã bước lên vũ đài chính trị, tham gia tích cực vào đời sống chính trị khu vực và thế giới. Các nước này ngày càng có vị thế lớn và cũng đóng góp vai trò quan trọng trong diễn đàn quốc tế tiêu biểu là Liên hợp quốc.

2. Công cuộc bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước sau khi giành độc lập

* Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po:


- Những năm 50, 60 của thế kỉ XX:

+ Thực hiện công nghiệp hoá hướng nội, đẩy mạnh sản xuất công nghiệp tiêu dùng để thay thế nhập khẩu.

+ Đáp ứng được nhu cầu cơ bản của đất nước, giải quyết được thất nghiệp, sản phẩm quốc dân tăng, nhưng còn những bất cập: thiếu vốn, nguyên liệu, kĩ thuật.

- Những năm 70, 80 của thế kỉ XX:

+ Thực hiện công nghiệp hoá hướng ngoại, đẩy mạnh sản xuất công nghiệp hướng vào xuất khẩu.

+ Tạo ra biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội: tăng trưởng kinh tế khá cao, gia tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp và ngoại thương. Nổi trội nhất là Xin-ga-po – đã trở thành "con rồng" kinh tế châu Á.

* Việt Nam, Lào:

- Từ năm 1945-1975: Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

+ Tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954), tiếp tục kháng chiến chống Mỹ và giải phóng hoàn toàn (1975).

+ Việt Nam: xây dựng, phát triển vùng giải phóng (1945-1954), xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975);

+ Lào: xây dựng căn cứ địa cách mạng, mở rộng vùng giải phóng.

- Từ năm 1975-1986:

+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước: củng cố bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.

+ Ổn định về chính trị, song còn nghèo nàn, kém phát triển về kinh tế.

- Từ năm 1986-1991:

+ Tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

+ Kinh tế – xã hội đạt được những thành tựu bước đầu.

* Cam-pu-chia:

- Từ năm 1953-1970: Thành lập Chính phủ, thi hành chính sách hòa bình, trung lập.

- Từ năm 1970-1975: Tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ.

- Từ năm 1975-1979: rơi vào thảm họa diệt chủng dưới sự thống trị của tập đoàn Pôn Pốt

- Từ năm 1979-1991:

+ Năm 1979, các lực lượng cách mạng Cam-pu-chia được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã lật đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt.

+ Ký kết hiệp định Hòa bình về Cam-pu-chia (10-1991), tạo điều kiện cho quá trình khôi phục và phát triển đất nước.

* Bru-nây:

1984-1991: Chuyển từ nền kinh tế hoàn toàn dựa vào nguồn dầu mỏ và khí tự nhiên sang nền kinh tế đa dạng hóa, phát triển công nghiệp tiêu dùng và xuất khẩu.

* Miến Điện:

- Từ năm 1948-1988: Thực hiện chính sách tự lực, hướng nội dưới sự lãnh đạo của chính quyền quân sự độc tài. Những năm 80, Miến Điện lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội.

- Từ năm 1988-1991: Khôi phục trật tự xã hội, cải cách, mở cửa nền kinh tế và đã đạt được thành tựu bước đầu.

3. Sự ra đời của tổ chức ASEAN

* Bối cảnh ra đời/Quá trình hình thành


- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xu hướng khu vực hóa trên thế giới bắt đầu xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến.

- Sau khi giành độc lập các quốc gia Đông Nam Á có nhu cầu hợp tác để cùng phát triển kinh tế, xã hội.

- Nhiều nước Đông Nam Á muốn tạo ra sức mạnh tập thể để hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực trong bối cảnh Chiến tranh lạnh.

Đầu những năm 60 của thế kỷ 20, một số tổ chức khu vực được thành lập ở Đông Nam Á như Hiệp hội Đông Nam Á (1961), tổ chức MAPHILINDO (1963),…

Tuy nhiên, các tổ chức này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn do những bất đồng trong quan hệ song phương Giữa một số nước thành viên.

Vào nửa sau những năm 60 của thế kỷ 20, các nước Đông Nam Á ngày càng nhận thức rõ về sự cần thiết của việc hợp tác khu vực, đồng thời quan hệ giữa các nước có những diễn biến thuận lợi cho việc thành lập một tổ chức khu vực.

- Đồng thời, họ cũng muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương ngày càng không thuận lợi, khó tránh khỏi thất bại.

- Những tổ chức liên kết khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là thành tựu của khối Thị trường chung châu Âu (EEC) đã cổ vũ rất lớn với các nước Đông Nam Á.

Vì vậy, ngày 8-8-1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của năm nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan.

* Tôn chỉ và mục đích của Hiệp hội được nêu rõ tại Tuyên bố Băng Cốc (8 - 1967):

- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.

- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của hiến chương liên hợp quốc.

Có thể thấy, ASEAN được thành lập nhằm mục đích chính là:

- Tăng cường hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo điều kiện cho các nước thành viên phát triển và hội nhập với khu vực và thế giới.

- Phấn đấu để Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, tự do, thịnh vượng và ASEAN trở thành tổ chức bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á.

* Nguyên tắc hoạt động được nêu rõ trong Tuyên bố Ba-li (2-1976).

Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực đối với nhau; Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; Hợp tác có hiệu quả trong kinh tế, văn hóa và xã hội.

* Quá trình phát triển của ASEAN

- Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1976: ASEAN là tổ chức non trẻ, sự hợp tác giữa các thành viên còn lỏng lẻo, chưa có vị thế trên trường quốc tế.

- Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1991: ASEAN có những bước tiến mới.

+ Tháng 2-1976, các nước ASEAN đã kí Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a).

+ Hiệp ước Bali được kí kết, đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước, thúc đẩy sự hợp tác giữa các thành viên.

+ Quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện cho việc mở rộng ASEAN giai đoạn sau.

+ Năm 1984, Bru-nây tham gia và trở thành thành viên thứ sáu của tổ chức ASEAN.

+ Tháng 7 – 1991, Tuyên bố Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN về vấn đề Cam-pu-chia đã thống nhất một giải pháp chính trị toàn diện cho Cam-pu-chia.

+ Tháng 10 – 1991, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được kí kết, đã mở ra cho nhân dân Cam-pu-chia đi đến một giải pháp hòa bình, hòa hợp dân tộc.

Một thời kì mới mở ra cho các nước ASEAN với nhiều sự kiện.
 
CÂU HỎI ÔN TẬP

Câu 1: Trình bày những biến đổi quan trọng của khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Biến đổi nào là quan trọng nhất? Vì sao?

* Những biến đổi quan trọng của khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai
:

- Hiện nay, khu vực Đông Nam Á gồm có 11 nước… Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước trong khu vực (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của đế quốc Âu, Mĩ. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai bị phát xít Nhật chiếm đóng. Sau năm 1945, khu vực Đông Nam Á có những biến chuyển quan trọng sau:

- Biến đổi thứ nhất: Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và là nơi khởi đầu của cao trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Các quốc gia Đông Nam Á từ thân phận các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và lê thuộc đều giành được độc lập, chủ quyền.

(Khái quát kết quả cuộc đấu tranh giành độc lập các nước ĐNA từ năm 1945 - 1984)


- Biến đổi thứ hai: Sau khi giành độc lập, các nước Đông Nam Á đều ra sức xây dựng và phát triển đất nước và đã có bước phát triển nhanh chóng về kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là các nước sáng lập ASEAN. (có thể dẫn chứng thêm tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước) Xin-ga-po trở thành một trong bốn “con rồng kinh tế” của châu Á, Thái Lan đứng trước ngưỡng cửa của nước NICs…

- Biến đổi thứ ba: từ quan hệ đối đầu, các nước Đông Nam Á chuyển sang hợp tác cùng phát triển, tiêu biểu là sự thành lập và mở rộng Hiệp hội các quốc gia ĐNA (ASEAN), nhằm tiến tới xây dựng ĐNA hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Từ 5 nước thành viên ban đầu, đến năm 1999, tổ chức ASEAN đã kết nạp và có 10 thành viên. ASEAN có quan hệ với tất cả các trung tâm kinh tế - tài chính và tổ chức quốc tế lớn (Mĩ, Nhật, Tây Âu, Nga, TQ…)

Hiện nay, nhiều chuyên gia nhận định, ASEAN là một liên minh kinh tế - chính trị khu vực hoạt động hiệu quả, phát triển năng động chỉ sau liên minh châu Âu (EU).

* Biến đổi quan trọng nhất:

Trong các biến đổi trên thì việc từ thân phận là các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, phụ thuộc trở thành những nước độc lập là quan trọng nhất, bởi vì:

Từ chỗ là thuộc địa, phụ thuộc, các nước Đông Nam Á đã trở thành những quốc gia độc lập, sau đó bước vào quá trình xây dựng và phát triển.

Từ khi giành được độc lập, các nước Đông Nam Á mới có những điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển về kinh tế, xã hội của mình ngày càng phồn vinh.

Nhiều nước đã trở thành nước công nghiệp mới (NICs) hoặc hóa “Rồng” bay lên, tiêu biểu là Xin-ga-po. Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam... cũng đang chuyển mình nhanh chóng.



Câu 2: Trong các năm 1945, 1967, 1976 và 1991, những sự kiện nào ở khu vực đã tác động đến quá trình phát triển của các nước Đông Nam Á? Hiện nay, các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN hoặc Việt Nam) cần làm gì để đảm bảo hòa bình và an ninh của khu vực?

a. Trong các năm 1945, 1967, 1976 và 1991
, những sự kiện ở khu vực đã tác động đến quá trình phát triển của các nước Đông Nam Á

- Giữa năm 1945, chớp thời cơ quân phiệt Nhật Bản đầu hàng không điều kiện, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc các nước thực dân cũ chưa kịp quay trở lại tái chiếm, các lực lượng xã hội ở khu vực trưởng thành. Trong điều kiện đó nhân dân Đông Nam Á đã đứng lên giành độc lập dân tộc, trước hết là ba nước trong khu vực tuyên bố độc lập là Inđônêxia, Việt Nam, Lào. Các nước khác Miến Điện, Mã Lai, Philippin nhân dân đã nổi dậy giải phóng nhiều vùng rộng lớn.

- Tháng 8 – 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời với sự tham gia của 5 nước thành viên với mục tiêu phát triển kinh tế và văn hóa thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hòa bình và ổn định khu vực. Sự ra đời của ASEAN đặt nền tảng cho quá trình liên kết, hợp tác giữa các nước trong khu vực trong khu vực Đông Nam Á,…

- Tháng 2 - 1976, các nước ASEAN kí Hiệp ước Ba-li (Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á), xác định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các nước ASEAN như (nêu 5 nguyên tắc…) Hiệp ước Ba-li đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho tổ chức ASEAN, tạo sự ổn định về an ninh – chính trị để các nước tập trung phát triển kinh tế…

- Tháng 10 - 1991, vấn đề Cam-pu-chia được giải quyết bằng việc ký hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia. Từ đó, quan hệ giữa ba nước Đông Dương với tổ chức ASEAN và Trung Quốc được cải thiện tích cực, ba nước Đông Dương lần lượt gia nhập ASEAN (Việt Nam năm 1995, Lào năm 1997 và Cam-pu-chia năm 1999),…

b. Các nước Đông Nam Á/ ASEAN/ VN cần làm gì để duy trì hòa bình, an ninh của khu vực:

- Các nước Đông Nam Á cần thực hiện nghiêm chỉnh các quy định, tuân thủ các quy tắc hoạt động của Liên hợp quốc. Đồng thời dựa vào các văn bản mang tính pháp lý quốc tế để đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền.

- ASEAN cần kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lý, lên án mạnh mẽ những hành động phá hoại hòa bình khu vực, khiêu khích, xâm phạm chủ quyền và sự can thiệp thô bạo của các cường quốc.

- ASEAN cần nêu cao tinh thần đoàn kết khu vực, tạo ra một cộng đồng thống nhất có sức mạnh để có thể giải quyết được những vấn đề bất ổn.

- ASEAN cần tranh thủ, kêu gọi sự giúp đỡ từ cộng đồng quốc tế và các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới như Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ đến các cá nhân…

- ASEAN cần chuẩn bị tiềm lực, sức mạnh, đặc biệt là khả năng quốc phòng, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.

Câu 3: Những yếu tố nào làm cho ASEAN mở rộng thành viên trên toàn ĐNA? Giải thích vì sao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời năm 1967 nhưng việc mở rộng thành viên từ 5 nước ban đầu lên 10 nước lại diễn ra lâu dài và đầy trở ngại?

a. Những yếu tố nào làm cho ASEAN mở rộng thành viên trên toàn ĐNA


- Ngày 8 – 8 – 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập Băng Cốc với sự tham gia của năm nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a Phi-lip-pin, Thái Lan và Xin-ga-po.

Sau đó lần lượt các nước Brunây (1984), Việt Nam (1995), Lào và Mi-an-ma (1997), Cam-pu-chia (1999) gia nhập vào ASEAN, nâng tổng số nước lên 10 thành viên.

- Các nước Đông Nam Á đã giành được độc lập dân tộc hoàn toàn, tạo cơ sở quan trọng hàng đầu để mở rộng thành viên của ASEAN trên toàn khu vực.

- Các nước Đông Nam Á có một nền kinh tế không cách biệt nhau lắm và từ lâu đã liên hệ trao đổi kinh tế, văn hóa với nhau.

- Tác động của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật và xu thế toàn cầu hóa làm cho các nước Đông Nam Á có xu hướng liên kết về kinh tế và chính trị.

- Sau khi giành được độc lập do nền kinh tế đã bắt đầu phát triển, các nước Đông Nam Á ngày càng muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào các nước lớn…

- Các nước Đông Nam Á đứng riêng lẻ không thể đọ sức được với các nước lớn, họ cần phải liên kết cùng nhau trong cuộc cạnh tranh với các nước ngoài khu vực.

b. Giải thích việc mở rộng thành viên ASEAN từ 5 nước ban đầu lên 10 nước lại diễn ra lâu dài và đầy trở ngại:

- Ngày 8 – 8 – 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập Băng Cốc với sự tham gia của năm nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a Phi-lip-pin, Thái Lan và Xin-ga-po.

Sau đó lần lượt các nước Brunây (1984), Việt Nam (1995), Lào và Mi-an-ma (1997), Cam-pu-chia (1999) gia nhập vào ASEAN, nâng tổng số nước lên 10 thành viên.

Việc mở rộng kết nạp thành viên từ 5 nước ban đầu lên 10 nước diễn ra lâu dài và đầy trở ngại vì:

1/ Do cuộc đấu tranh giành độc lập của mỗi nước giành thắng lợi vào những thời điểm khác nhau. Các nước thực dân Âu - Mỹ lần lượt công nhận nền độc lập của Phi-lip-pin (1946), Miến Điện (1948), In-đô-nê-xi-a (1950), Mã Lai (1957) Xin-ga-po (1959), Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1975), thực dân Anh công nhận nền độc lập của Brunnây (1984).

2/ Do các nước Đông Nam Á hình thành hai nhóm nước với các hệ tư tưởng không giống nhau, thậm chí còn đối lập nhau: Nhóm nước sáng lập ASEAN gồm Thái Lan, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a Ma-lai-xi-a Xin-ga-po theo hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa; nhóm các nước Đông Dương trong đó Việt Nam, Lào theo hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, Thái Lan, Phi-lip-pin đã tham gia vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ tiến hành. Điều đó làm cho quan hệ giữa các nước xảy ra nghi kị, nghi ngại lẫn nhau.

3/ Do quan hệ giữa các nước trong khu vực chịu sự tác động của cuộc Chiến tranh lạnh và sự chi phối của các nước lớn đối với khu vực. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á trở thành điểm sôi động nhất trong cuộc Chiến tranh lạnh. Đông Nam Á là nơi đụng đầu quyết liệt nhất giữa hai lực lượng quốc tế, tình hình đó có ảnh hưởng rất lớn đến cục diện khu vực. Điều đó làm chia rẽ hai khối nước Đông Nam Á, từ đó ngăn cản sự tham gia của các nước Đông Dương.

4/ Do tác động của “vấn đề Cam-pu-chia” khiến quan hệ giữa các nước Đông Nam Á căng thẳng. Việc Việt Nam tiến vào Cam-pu-chia tiêu diệt chế độ Khơme Đỏ đã gặp phải sự phản đối của nhóm các nước sáng lập ASEAN điều này làm cho quan hệ giữa hai nhóm nước căng thẳng. Phải đến đầu những năm 90 khi Chiến tranh lạnh chấm dứt và vấn đề Campuchia được giải quyết thì ASEAN mới có điều kiện mở rộng thêm thành viên.

Câu 4: Vì sao vào những năm 90 của thế kỉ XX, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đẩy mạnh hợp tác kinh tế? (hoặc hợp tác kinh tế song song với hợp tác an ninh chính trị) Biểu hiện? Theo anh/chị, sự hợp tác đó có tác động tích cực đến Việt Nam như thế nào?

* Vào những năm 90 của thế kỉ XX, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đẩy mạnh hợp tác kinh tế vì:


- Trên thế giới: Chiến tranh lạnh chấm dứt, trật tự hai cực Ianta sụp đổ, xu thế toàn cầu hóa tiếp tục phát triển; các nước lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm; quan hệ quốc tế từ đối đầu chuyển sang đối thoại; môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác dần thay cho những căng thẳng, xung đột…

- Trong khu vực: vấn đề Camphuchia được giải quyết (1991)…, tạo ra môi trường hòa dịu giữa nhóm nước sáng lập ASEAN và nhóm nước Đông Dương. Đông Dương từ chiến trường thành thị trường…

- ASEAN từng bước được mở rộng, phát triển từ 6 (1984) lên 10 thành viên. Các thành viên đều có nguyện vọng hợp tác kinh tế, hợp tác an ninh chính trị để xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và phát triển.

* Biểu hiện:

- Năm 1992, ASEAN quyết định sẽ tổ chức Đông Nam Á thành một khu vực mậu dịch tự do (AFTA) trong vòng từ 10-15 năm.

- Năm 1994, ASEAN thành lập Diễn đàn khu vực (ARF) với sự tham gia của 23 quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm tạo nên một môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc hợp tác phát triển của Đông Nam Á.

- Năm 2007, Hiến chương ASEAN được thông qua, nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN có vị thế cao hơn, có hiệu lực hơn.

- Năm 2015, Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời dựa trên ba trụ cột: An ninh - chính trị; kinh tế; văn hóa – xã hội. Điều đó càng khẳng định, hiện nay trong hoạt động của mình ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế (song song với hợp tác an ninh chính trị).

* Tác động tích cực đến Việt Nam:

- Trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN (1995).

- Có điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

- Có cơ hội hợp tác, thu hút vốn đầu tư và công nghệ.

- Có điều kiện thuận lợi mở rộng hợp tác song phương và đa phương.

- Có cơ hội mở rộng thị phần ở một số nước trong khu vực.

- Có môi trường khu vực thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước.

- Có cơ hội tham gia những chuỗi giá trị toàn cầu…

Câu 5: Trình bày và nêu nhận xét về hoạt động của tổ chức ASEAN. Vai trò của tổ chức ASEAN đối với sự phát triển của khu vực Đông Nam Á. Vì sao ASEAN coi trọng vấn đề an ninh – chính trị?

a. Trình bày hoạt động ASEAN:

b. Nhận xét:


- Trước 1975, vấn đề an ninh - chính trị được tổ chức ASEAN nhấn mạnh trong quá trình hoạt động.

- Đến Hiệp ước Bali (1976), trong bối cảnh cuộc chiến tranh của Mĩ ở Đông Dương đã kết thúc nhưng ASEAN vẫn nhấn mạnh vấn đề an ninh - chính trị, còn vấn đề hợp tác kinh tế còn chưa chú trọng.

- Đến những năm 90, đặc biệt khi 10 nước gia nhập ASEAN thì vấn đề kinh tế - xã hội được đề cao song song với vấn đề an ninh - chính trị.

c. Vai trò của tổ chức ASEAN

- Là tổ chức hợp tác toàn diện và chặt chẽ của khu vực Đông Nam Á, đã hạn chế sự chi phối của các nước lớn vào khu vực.

- Góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định cùng phát triển.

- Đạt được nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế các nước thành viên phát triển mạnh.

- Mở rộng quan hệ quốc tế và vị thế của ASEAN trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

d. ASEAN coi trọng vấn đề an ninh – chính trị vì: (thi tỉnh năm 2022 – 2023)

- Do ASEAN ra đời trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh đang bao trùm khắp thế giới mà Đông Nam Á là điểm sôi động nhất. Điều này đã tác động đến khu vực Đông Nam Á, đe dọa an ninh chính trị của các nước trong khu vực.

- Do cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ đang diễn ra quyết liệt ở Việt Nam và được mở rộng ra toàn Đông Dương. Tình hình ấy đã đặt các nước ASEAN phải coi trọng vấn đề an ninh chính trị.

- Do ASEAN ra đời nhằm bảo vệ cho sự ổn định và phát triển kinh tế nên họ rất e ngại sự can thiệp của các nước lớn vào khu vực, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và cũng để đối phó với áp lực của các nước khác như Mỹ, Nhật.

- Do tình hình khu vực Đông Nam Á không ổn định:

+ Cuộc chiến tranh Việt Nam từ những năm 50 đến giữa những năm 70 có ảnh hưởng lớn đến các nước khi Thái Lan và Phi-lip-pin tham chiến cùng với Mĩ tại Việt Nam.

+ Từ năm 1979 đến năm 1993 vấn đề Campuchia lại nổi lên. Đây là một sự bất ổn của khu vực, thậm chí dẫn đến đối đầu giữa hai khối nước Đông Dương và ASEAN.

- Do vấn đề khủng bố của các phân tử Hồi giáo cực đoan, sự trỗi dậy của nhóm vũ trang li khai với nhiều vụ đánh bom đẫm máu, xung đột kéo dài ở Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin đang đe dọa hòa bình, an ninh của khu vực.

- Do tình trạng tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biển đảo giữa các nước Đông Nam Á với nhau, giữa các nước Đông Nam Á với các nước ngoài khu vực (nhất là Trung Quốc) diễn ra phức tạp và không thể giải quyết một cách dễ dàng, nhanh chóng.

Câu 6: Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ASEAN từ năm 1967 - 1991. Vai trò của tổ chức ASEAN trong tiến trình phát triển lịch sử Đông Nam Á từ 1967 – 1991.

a. Khái quát quá trình hình thành và phát triển


- Bối cảnh ra đời

- Sự ra đời

- Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động

- Quá trình phát triển đến năm 1991

b. Vai trò của tổ chức ASEAN

- Là tổ chức hợp tác toàn diện và chặt chẽ của khu vực Đông Nam Á, đã hạn chế sự chi phối của các nước lớn vào khu vực.

- Góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định cùng phát triển.

- Đạt được nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế các nước thành viên phát triển mạnh.

- Mở rộng quan hệ quốc tế và vị thế của ASEAN trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.
 
Câu 7: Trình bày nội dung hiệp ước Ba-li (1976). Có đúng hay không khi cho rằng, Hiệp ước Ba-li (1976) mở ra thời kì phát triển mới cho tổ chức ASEAN?

a. Nội dung Hiệp ước

Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á
(Hiệp ước Ba-li) được kí kết tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a) tháng 2 - 1976 đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước ASEAN:

1/ Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ;

2/ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

3/ Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với nhau;

4/ Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình;

5/ Hợp tác phát triển có hiệu quả trong kinh tế, văn hóa và xã hội.

b. Hiệp ước Ba-li đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho tổ chức ASEAN là đúng vì:

- Tổ chức ASEAN được thành lập năm 1967, có 5 nước thành viên đầu tiên. Trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1975 chưa có hoạt động gì nổi bật, ít được biết đến. Năm 1976, Hiệp ước Ba-li được thông qua đã xác định các nguyên tắc hoạt động của ASEAN.

- Hiệp ước Ba-li phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và khu vực, mở ra thời kì phát triển mới cho tổ chức này. Các nước trong khu vực lần lượt gia nhập ASEAN, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành viên ngày càng cao.

- Hiệp ước Ba-li đã mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đồng thời tăng cường quan hệ hợp tác với các nước bên ngoài khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,…

Câu 8. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ASEAN từ 1967 – 1991. Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập ASEAN?

a. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ASEAN


Trình bày theo kiến thức cơ bản phần ASEAN.

b. Cơ hội và thách thức

Việt Nam đã gia nhập ASEAN vào ngày 28-7-1995.

- Cơ hội:

+ Nền kinh tế Việt Nam được hội nhập với nền kinh tế khu vực. Đó là cơ hội để nước ta vươn xa ra thế giới, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế trong nước với các nước trong khu vực và thế giới.

+ Việt Nam điều kiện giao lưu, tiếp thu văn hóa, khoa học kĩ thuật, y tế, thể thao với các nước. Tiếp nhận nguồn vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài để xây dựng và phát triển đất nước.

+ Tiếp thu, học hỏi trình độ quản lí của các nước trong khu vực, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lí.

+ Là cơ hội để Việt Nam có thể hội nhập hơn nữa với khu vực và thông qua khu vực để tạo dựng những mối quan hệ với thế giới, từng bước thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, xã hội.

+ Tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc hợp tác, bảo vệ hòa bình và an ninh khu vực, qua đó góp phần bảo vệ nền độc lập dân tộc.

- Thách thức:

+
Khi tham gia hội nhập, Việt Nam có một xuất phát điểm hết sức khó khăn và điều kiện cơ sở vật chất – kĩ thuật thấp hơn và một cơ chế chưa phù hợp. Nếu Việt Nam không tận dụng và khai thác triệt để cơ hội phát triển thì nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ bị tụt hậu so với các nước khác.

+ Sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế giữa các nước, trong khi xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn các nước.

+ Những bất đồng tranh chấp trên Biển Đông, vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia, nguy cơ lây lan dịch bệnh mang tính toàn cầu… cũng được đặt ra.

+ Có điều kiện hoà nhập với các nước trong khu vực về mọi mặt nhưng dễ bị đánh mất bản sắc dân tộc.

Câu 9: Anh chị hãy làm sáng tỏ nhận định: “Những năm 90 của thế kỉ XX đã mở ra một chương mới trong quá trình phát triển của tổ chức ASEAN”. Ý nghĩa của sự phát triển thời kì này.

a.
Nhận định: “Những năm 90 của thế kỉ XX đã mở ra một chương mới trong quá trình phát triển của tổ chức ASEAN” là một nhận định đúng đắn, được biểu hiện cụ thể như sau:

- Do thập niên 90 chứng kiến việc cải thiện quan hệ giữa nhóm các nước sáng lập ASEAN và nhóm các nước Đông Dương.

Sau Chiến tranh lạnh quan hệ giữa các nước chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, quan hệ giữa nhóm các nước ASEAN và các nước Đông Dương được cải thiện. Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết năm 1991 đã mở ra một thời kỳ mới, thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước ASEAN với các nước còn lại, nhất là Việt Nam.

- Do thập niên 90 chứng kiến sự phát triển và mở rộng thành viên của ASEAN từ ASEAN 5 lên thành ASEAN 10.

Đến năm 1991 sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, quan hệ giữa các nước ASEAN và các nước Đông Dương được cải thiện. Năm 1992, Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ước Bali. Năm 1995, việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã tạo điều kiện để ASEAN nhanh chóng kết nạp thêm các quốc gia còn lại. Năm 1997, Lào và Mianma gia nhập ASEAN, đến năm 1999 Campuchia được kết nạp vào tổ chức này. Như vậy cho đến cuối thập niên 90, toàn bộ các nước khu vực Đông Nam Á đều đã gia nhập tổ chức ASEAN.

- Do từ thập niên 90, bên cạnh việc hợp tác về an ninh - chính trị thì ASEAN đặc biệt quan tâm chú trọng và thúc đẩy sự hợp tác về kinh tế.

Từ thập niên 90, ASEAN đã đặc biệt chú trọng và thúc đẩy sự hợp tác về kinh tế. Hàng loạt các diễn đàn hợp tác đã được đưa ra như: Năm 1992, ASEAN quyết định tổ chức Đông Nam Á thành một khu vực mậu dịch tự do (AFTA). Năm 1994 diễn đàn khu vực (ARF) được thành lập. Năm 2015, Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời trên cơ sở nền tảng: chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội.

- Do từ thập niên 90 chứng kiến ASEAN đã tham gia tích cực và hiệu quả vào các tổ chức khu vực và quốc tế, thúc đẩy và phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế với các cường quốc, các tổ chức quốc tế lớn như với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu...

Như vậy, “Những năm 90 của thế kỉ XX đã mở ra một chương mới trong quá trình phát triển của tổ chức ASEAN”.

b. Ý nghĩa của sự phát triển thời kì này

- Những bước tiến đạt được trong thời kì này chứng tỏ sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của ASEAN, đưa ASEAN trở thành tổ chức liên kết, hợp tác khu vực thành công thứ hai trên thế giới.

- Sự phát triển trong những năm 90 TK XX là cơ sở để ASEAN đạt được sự phát triển trong thế kỉ XXI, tạo ra tiền đề để bước sang thế kỉ XXI ASEAN hoạt động có hiệu quả hơn nữa, nâng cao vị thế và ảnh hưởng của khu vực trên thế giới.

- Sự phát triển của ASEAN cùng với sự thành công của các tổ chức hợp tác khu vực khác chứng tỏ xu thế liên kết, hợp tác khu vực đang diễn mạnh mẽ và là một xu thế phù hợp với sự phát triển của lịch sử; cổ vũ và để lại bài học cho các quốc gia khác tiến hành hợp tác khu vực.

Câu 10: Hoàn cảnh ra đời của EU và ASEAN có những điểm nào giống nhau? Hiện nay sự phát triển của EU và ASEAN đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nào?

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của quan hệ quốc tế, xu thế liên kết khu vực phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là sự ra đời và phát triển của Liên minh châu Âu (EU) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sự ra đời của hai tổ chức này có nhiều điểm giống nhau, cụ thể như sau:

a. Giống nhau về hoàn cảnh ra đời

- Đều xuất phát từ nhu cầu hợp tác giữa các nước trong cùng khu vực sau khi ổn định tình hình đất nước.
Ở Đông Nam Á, nhu cầu đó xuất hiện sau khi các nước giành được độc lập dân tộc; còn ở Tây Âu, yêu cầu đó xuất hiện sau khi các nước tư bản phục hồi được nền kinh tế và ổn định xã hội sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

- Đều xuất phát từ yêu cầu hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực mà cụ thể ở đây là Mỹ.

+ Trong bối cảnh Mĩ ngày càng sa lầy ở chiến trường Việt Nam, các nước Đông Nam Á muốn liên kết lại để giảm bớt sức ép của các nước lớn, trước hết là Mĩ.

+ Trong khi đó ở Tây Âu, sau khi nền kinh tế được phục hồi, các nước muốn hạn chế ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực; mặt khác vươn lên trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ.

- Đều xuất hiện các tổ chức tiền thân đưa tới sự ra đời của tổ chức chính thức. Ở Đông Nam Á, trước khi ASEAN ra đời đã xuất hiện các tổ chức liên kết giữa một vài nước với nhau, nhưng không thành công. Ở Tây Âu, trước khi chính thức ra đời đã có các tổ chức như Cộng đồng than - thép châu Âu, Cộng đồng châu Âu. Đầu năm 1993, Liên minh châu Âu chính thức ra đời.

- Đều ra đời trong bối cảnh xu thế liên kết hợp tác, liên kết khu vực phát triển mạnh mẽ. Trong khi các tổ chức tiền thân của EU ra đời chịu ảnh hưởng từ các tổ chức liên kết như khối các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC, tổ chức Thương mại thế giới WTO thì sự ra đời của ASEAN lại chịu tác động từ chính các tổ chức tiền thân của Liên minh châu Âu, mà tiêu biểu là EEC.

b. Khó khăn thách thức

Từ khi ra đời cho đến nay, EU và ASEAN đã đạt được sự phát triển nhanh chóng và được đánh giá là hai tổ chức hợp tác, liên kết khu vực thành công nhất thế giới. Tuy nhiên, hiện nay EU và ASEAN đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức:

- Sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế bởi các đối thủ như Mĩ, Nhật Bản, Trung Quốc, các nước đang phát triển như nhóm các nước công nghiệp mới nổi NICs và ngay cả sự cạnh tranh giữa các nước trong cùng liên minh.

- Chủ nghĩa khủng bố là thách thức to lớn và đang có những biểu hiện ngày càng phức tạp ở EU và ASEAN. Thông qua làn sóng tị nạn các thành phần khủng bố đã thâm nhập vào châu Âu gây ra những vụ tấn công như ở Pháp, Tây Ban Nha. Ở Đông Nam Á, nhiều nhóm vũ trang li khai gây ra tình trạng bất ổn trong khu vực.

- Mâu thuẫn nội bộ giữa các nước trong liên minh là một thách thức lớn với cả EU và ASEAN.

+ Đối với EU, sự ra đi của Anh gây ảnh hưởng tới đường lối, chính sách phát triển chung của khu vực. Bên cạnh đó, các nước EU còn mâu thuẫn trong việc giải quyết vấn đề người nhập cư, tị nạn.

+ Ở ASEAN, đôi khi còn xảy ra tranh chấp lãnh thổ trên đất liền cũng như trên biển. Các nước ASEAN chưa thống nhất trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp, xâm phạm chủ quyền biển đảo của các nước lớn đối với khu vực.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng cả EU và ASEAN vẫn đạt được nhiều kết quả rực rỡ trong sự phát triển. Nếu như các quốc gia thành viên đoàn kết, thống nhất, đặt lợi ích chung của cả khu vực lên trên thì mọi khó khăn, thách thức đều có thể khắc phục.
 

Dành cho học sinh

Trending content

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top