Trang Dimple
Moderator
- Xu
- 5,856
“Cơ cấu nền kinh tế và các tiêu chí đánh giá giúp chúng ta hiểu rõ trình độ phát triển và định hướng phát triển của mỗi quốc gia.”Trình bày được khái niệm cơ cấu kinh tế và phân biệt được các loại cơ cấu kinh tế.Phân tích được các tiêu chí đánh giá nền kinh tế của 1 quốc gia (GDP, GNI, GDP và GNI bình quân đầu người).
1. Cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu kinh tế: là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
2. Các loại cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu kinh tế theo ngành: Là tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng. Cơ cấu ngành kinh tế gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ.
- Cơ cấu theo thành phần kinh tế: Được hình thành dựa trên chế độ sở hữu, bao gồm nhiều thành phần kinh tế có tác động qua lại với nhau, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Trong nền kinh tế quốc gia có các thành phần kinh tế: khu vực kinh tế trong nước (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ: Là kết quả của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ dựa trên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội. Ứng với mỗi cấp phân công lao động theo lãnh thổ có các vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia: vùng kinh tế, tiểu vùng kinh tế.
3. Tổng sản phẩm trong nước và tổng thu nhập quốc gia
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
+ Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối dùng được sản xuất ra bên trong lãnh thổ một nước, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài tạo ra.
+ GDP thể hiện số lượng nguồn của cải được tạo ra bên trong một quốc gia, sự phồn thịnh hay khả năng phát triển kinh tế. GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát triển và mức sống của con người.
- Tổng thu nhập quốc gia (GNI)
+ Là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối dùng do công dân một nước tạo ra, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), không phân biệt họ cư trú ở lãnh thổ nào (kể cả ở trong nước và ở nước ngoài). Như vậy, GNI bằng GDP cộng với các khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài, trừ đi các khoản thu nhập chuyển trả cho nước ngoài.
+ GNI là thước đo tổng hợp nhất của nền kinh tế, chỉ rõ chủ sở hữu và hưởng thụ nguồn của cải làm ra. GNI thường được sử dụng trong xem xét đầu tư nước ngoài của một nước. Nhìn chung, những nước có vốn đầu tư ra nước ngoài cao thì GNI lớn hơn GDP. Ngược lại, những nước đang tiếp nhận đầu tư nhiều hơn là đầu tư ra nước ngoài sẽ có GDP lớn hơn GNI
- GDP và GNI bình quân theo đầu người
+ Được tính bằng GDP và GNI chia cho tổng số dân ở một thời điểm nhất định.
+ Là những tiêu chí quan trọng dùng để so sánh, đánh giá trình độ phát triển kinh tế và mức sống dân cư giữa các quốc gia, là một trong những căn cứ để tính chỉ số phát triển con người.
Cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia, còn các tiêu chí như GDP, HDI giúp đánh giá toàn diện mức độ phát triển. Sự chuyển dịch cơ cấu hợp lí là xu hướng tất yếu để phát triển bền vững
XEM THÊM :Các nguồn lực phát triển kinh tế- Vì sao có quốc gia phát triển mạnh, có quốc gia còn chậm phát triển?”
- “Làm thế nào để biết một nền kinh tế phát triển hay chưa?”
- “Vì sao cơ cấu kinh tế của các nước lại khác nhau?”
- “Chỉ số nào phản ánh trình độ phát triển kinh tế?”
ĐỊA LÝ 1O CƠ CẤU NỀN KINH TẾ. MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Cơ cấu kinh tế- Cơ cấu kinh tế: là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
2. Các loại cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu kinh tế theo ngành: Là tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng. Cơ cấu ngành kinh tế gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ.
- Cơ cấu theo thành phần kinh tế: Được hình thành dựa trên chế độ sở hữu, bao gồm nhiều thành phần kinh tế có tác động qua lại với nhau, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Trong nền kinh tế quốc gia có các thành phần kinh tế: khu vực kinh tế trong nước (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ: Là kết quả của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ dựa trên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội. Ứng với mỗi cấp phân công lao động theo lãnh thổ có các vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia: vùng kinh tế, tiểu vùng kinh tế.
3. Tổng sản phẩm trong nước và tổng thu nhập quốc gia
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
+ Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối dùng được sản xuất ra bên trong lãnh thổ một nước, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài tạo ra.
+ GDP thể hiện số lượng nguồn của cải được tạo ra bên trong một quốc gia, sự phồn thịnh hay khả năng phát triển kinh tế. GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát triển và mức sống của con người.
- Tổng thu nhập quốc gia (GNI)
+ Là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối dùng do công dân một nước tạo ra, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), không phân biệt họ cư trú ở lãnh thổ nào (kể cả ở trong nước và ở nước ngoài). Như vậy, GNI bằng GDP cộng với các khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài, trừ đi các khoản thu nhập chuyển trả cho nước ngoài.
+ GNI là thước đo tổng hợp nhất của nền kinh tế, chỉ rõ chủ sở hữu và hưởng thụ nguồn của cải làm ra. GNI thường được sử dụng trong xem xét đầu tư nước ngoài của một nước. Nhìn chung, những nước có vốn đầu tư ra nước ngoài cao thì GNI lớn hơn GDP. Ngược lại, những nước đang tiếp nhận đầu tư nhiều hơn là đầu tư ra nước ngoài sẽ có GDP lớn hơn GNI
- GDP và GNI bình quân theo đầu người
+ Được tính bằng GDP và GNI chia cho tổng số dân ở một thời điểm nhất định.
+ Là những tiêu chí quan trọng dùng để so sánh, đánh giá trình độ phát triển kinh tế và mức sống dân cư giữa các quốc gia, là một trong những căn cứ để tính chỉ số phát triển con người.
Cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia, còn các tiêu chí như GDP, HDI giúp đánh giá toàn diện mức độ phát triển. Sự chuyển dịch cơ cấu hợp lí là xu hướng tất yếu để phát triển bền vững
XEM THÊM :Các nguồn lực phát triển kinh tế- Vì sao có quốc gia phát triển mạnh, có quốc gia còn chậm phát triển?”