Bài 3 Châu Á từ năm 1918 đến năm 1945- Lịch sử 9

Nêu những nét chính về tình hình Nhật Bản trong những năm 1918 – 1929 .Nhật Bản là nước thứ hai (sau Mỹ) thu được nhiều nguồn lợi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Vì vậy, nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng sau chiến tranh. Tình hình nước Nhật có điểm gì giống so với tình hình nước Mỹ trong thập niên 20 của thế kỉ XX ? Đặc điểm nổi bật của Nhật Bản Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động đến kinh tế Nhật Bản như thế nào? Vì sao giới cầm quyền Nhật Bản lại chọn con đường quân phiệt hoá bộ máy nhà nước, gây chiến tranh xâm lược

Bài 3 Châu Á từ năm 1918 đến năm 1945- Lịch sử 9

1. Nhật Bản từ năm 1918 đến năm 1945

a) Nhật Bản trong những năm 1918-1929


- Nhờ hưởng lợi từ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng sau chiến tranh. Tuy nhiên, sự phát triển đó chỉ kéo dài trong 18 tháng.

- Đến những năm 1920-1921, nền kinh tế Nhật Bản sa sút. Đời sống người lao động không được cải thiện, phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân bùng lên mạnh mẽ.

- Tháng 7/1922, Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập và trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào công nhân.

- Vào những năm 1924-1929, kinh tế Nhật Bản phát triển nhưng không ổn định:

+ Năm 1926, sản lượng công nghiệp phục hồi vượt mức trước chiến tranh.

+ Từ năm 1927, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Tô-ki-ô, kinh tế nb lâm vào khủng hoảng, suy thoái.

b) Nhật Bản trong những năm 1929-1945

- Giai đoạn 1929 - 1933: Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế Nhật Bản.

+ So với năm 1929, năm 1931, sản lượng công nghiệp giảm 32,5%, ngoại thương giảm 80%, khoảng 3 triệu người thất nghiệp.

+ Cuộc dại suy thoái làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Năm 1929 có 276 cuộc bãi công nổ ra, đến năm 1931 đã có gần 1.000 cuộc bãi công.

- Giai đoạn 1933 - 1939: Để đưa đất nước ra khỏi đại suy thoái, Chính phủ Nhật Bản tăng cường chính sách quân sự hoá bộ máy nhà nước, gây chiến tranh xâm lược, bành trưởng ra bên ngoài.

+ Ngay từ năm 1927, Thủ tướng Ta-na-ca đã đệ trình lên Nhật hoàng bản Tấu trình, đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới.

+ Tháng 9-1931, Nhật Bản xâm chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, đánh dấu việc hình thành "lò lửa chiến tranh" ở châu Á-Thái Bình Dương.

- Giai đoạn 1939 - 1945:

+ Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu diễn ra, Nhật Bản cũng ráo riết chuẩn bị chiến tranh.

+ Tháng 9/1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương. Tháng 12-1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu cảng. Nhật Bản xâm lược các nước Đông Nam Á khác, tiến đánh nhiều đảo thuộc châu Á-Thái Bình Dương,...

+ Đến ngày 15-8-1945, Nhật Bản phải chấp nhận đầu hàng không điều kiện trước quân Đồng minh.

Lý thuyết Lịch Sử 9 Kết nối tri thức Bài 3: Châu Á từ năm 1918 đến năm 1945


Nhật Bản kí văn kiện đầu hàng Đồng minh không điều kiện (tháng 8/1945)

2. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á từ năm 1918 đến năm 1945

a) Khái quát


- Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã tác động đến nhiều nước châu Á. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc dâng cao và lan rộng khắp các khu vực: Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á.

- Phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Á giai đoạn này diễn ra theo hai khuynh hướng chính: dân chủ tư sản (tiêu biểu là Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a,...) và vô sản (tiêu biểu là Trung Quốc, Việt Nam,...).

+ Ở Ấn Độ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc dại, dứng đầu là M. Gan-di, nhân dân dã đấu tranh dòi quyền độc lập, tẩy chay hàng hoá của Anh và phát triển nền kinh tế dân tộc.

+ Ở Mông Cổ, trong những năm 1921-1924 dã diễn ra phong trào giải phóng dân tộc, dẫn tới sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ.

+ Ở Thổ Nhĩ Kỳ, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong những năm 1919-1922 đã đưa đến sự thành lập nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ.

b) Cách mạng Trung Quốc trong những năm 1919-1945

- Để chống lại âm mưu xâu xé Trung Quốc của các nước đế quốc, ngày 4-5-1919, phong trào Ngũ Tứ đã nổ ra ở Bắc Kinh. Phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước, lôi cuốn đông đảo công nhân, nông dân, trí thức yêu nước tham gia.

Lý thuyết Lịch Sử 9 Kết nối tri thức Bài 3: Châu Á từ năm 1918 đến năm 1945


Tranh minh họa về phong trào Ngũ Tứ (1919)

- Tháng 7-1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập.

- Trong những năm 1927-1937, ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản.

- Tháng 7-1937, Nhật Bản mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính toàn bộ Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Quốc Dân đảng và Đảng Cộng sản đã hợp tác để cùng kháng chiến chống Nhật.

c) Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á trong những năm 1918-1945

- Giai đoạn 1919 - 1939:


+ Giai cấp vô sản ở các nước Đông Nam Á từng bước trưởng thành, đã tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động một số nước đã bùng nổ. Nổi bật là: cuộc khởi nghĩa tại Gia-va và Xu-ma-tơ-ra (1926-1927) ở In-đô-nê-xi-a và cao trào Xô viết Nghệ-Tĩnh (1930-1931) ở Việt Nam… Những cuộc nổi dậy này đều bị chính quyền thực dân đàn áp đẫm máu.

Lý thuyết Lịch Sử 9 Kết nối tri thức Bài 3: Châu Á từ năm 1918 đến năm 1945


Tranh sơn dầu về phát triển Xô viết Nghệ - Tĩnh

+ Phong trào dân chủ tư sản cũng có bước tiến rõ rệt so với những năm đầu thế kỉ XX; nhiều chính đảng có tổ chức và ảnh hưởng xã hội rộng lớn đã ra đời như: Đảng Dân tộc ở In-đô-nê-xi-a, Phong trào Tha-kin ở Miến Điện, Liên minh Thanh niên Ma-lay-a ở Mã Lai....

- Giai đoạn 1940 - 1945: phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á phát triển mạnh mẽ. Năm 1940, quân phiệt Nhật Bản xâm lược các nước Đông Nam Á. Năm 1945, lợi dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, phong trào giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi ở một số nước.

Lý thuyết Lịch Sử 9 Kết nối tri thức Bài 3: Châu Á từ năm 1918 đến năm 1945


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập,

tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

XEM THÊM :

Bài 2: Châu Âu và nước Mỹ từ năm 1918 đến năm 1945- Lịch sử 9

 
Sửa lần cuối:
CÂU HỎI BÀI TẬP

Câu 1 Nêu những nét chính về tình hình Nhật Bản trong những năm 1918-1929. Tình hình Nhật Bản trong những năm 1929-1945 có điểm gì nổi bật? Trong thập niên 20 của thế kỉ XX, kinh tế Mĩ và Nhật Bản có điểm gì giống và khác nhau? Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, cách giải quyết của Mĩ và Nhật Bản khác nhau như thế nào? Từ sự phát triển kinh tế của Mĩ, Nhật Bản, Việt Nam cần học hỏi những gì để phát triển kinh tế đất nước?

* Những nét chính về tình hình Nhật Bản trong những năm 1918-1929

Nhật Bản là nước thứ hai
(sau Mỹ) thu được nhiều nguồn lợi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Vì vậy, nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng sau chiến tranh.

- Nhờ hưởng lợi từ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng sau chiến tranh. Tuy nhiên, sự phát triển đó chỉ kéo dài trong 18 tháng.

- Đến những năm 1920-1921, nền kinh tế Nhật Bản sa sút. Đời sống người lao động không được cải thiện, phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân bùng lên mạnh mẽ.( Kinh tế Nhật Bản phát triển xen kẽ với các đợt khủng hoảng, suy thoái ngắn do ảnh hưởng của thiên tai và lạm phát. + Các cuộc đấu tranh của công nhân và các tầng lớp nhân dân tiếp tục diễn ra, tiêu biểu là cuộc bạo động gạo năm 1918 lôi kéo 10 triệu người tham gia).


- Tháng 7/1922, Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập và trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào công nhân.

- Vào những năm 1924-1929, kinh tế Nhật Bản phát triển nhưng không ổn định:

+ Năm 1926, sản lượng công nghiệp phục hồi vượt mức trước chiến tranh.

+ Từ năm 1927, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Tô-ki-ô, kinh tế nb lâm vào khủng hoảng, suy thoái.

* Tình hình Nhật Bản trong những năm 1929-1945 có điểm gì nổi bật?

- Giai đoạn 1929 – 1933: Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế Nhật Bản,đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

+ So với năm 1929, năm 1931, sản lượng công nghiệp giảm 32,5%, ngoại thương giảm 80%, khoảng 3 triệu người thất nghiệp. ( Những tác động dễ thấy nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Nhật Bản (cũng như đối với các nền kinh tế khác) là sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP, tình trạng phá sản của các công ty và nạn thất nghiệp gia tăng, giá cả thị trường bất ổn định)

+ Cuộc dại suy thoái làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Năm 1929 có 276 cuộc bãi công nổ ra, đến năm 1931 đã có gần 1.000 cuộc bãi công.

- Giai đoạn 1933 – 1939: Để đưa đất nước ra khỏi đại suy thoái, Chính phủ Nhật Bản tăng cường chính sách quân sự hoá bộ máy nhà nước, gây chiến tranh xâm lược, bành trưởng ra bên ngoài.

+ Ngay từ năm 1927, Thủ tướng Ta-na-ca đã đệ trình lên Nhật hoàng bản Tấu trình, đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới.

+ Tháng 9-1931, Nhật Bản xâm chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, đánh dấu việc hình thành "lò lửa chiến tranh" ở châu Á-Thái Bình Dương.

- Giai đoạn 1939 – 1945:

Nhật Bản thực hiện phát xít hóa bộ máy nhà nước, tích cực chạy đua vũ trang

+ Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu diễn ra ráo riết chuẩn bị chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ, như: xâm chiếm Mãn Châu (1931), mở rộng xâm lược Trung Quốc (1937).

+ Tháng 9/1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương. Tháng 12-1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu cảng. Nhật Bản xâm lược các nước Đông Nam Á khác, tiến đánh nhiều đảo thuộc châu Á-Thái Bình Dương,...

Từ cuối năm 1944, nhiều thành phố ở Nhật Bản bị tàn phá bởi các cuộc ném bom của Mỹ.

+ Đến ngày 15-8-1945, Nhật Bản phải chấp nhận đầu hàng không điều kiện trước quân Đồng minh.

* Trong thập niên 20 của thế kỉ XX, kinh tế Mĩ và Nhật Bản có điểm gì giống và khác nhau?

- Giống nhau: Cùng là nước thắng trận, thu được nhiều lợi nhuận, không bị mất mát gì nhiều trong chiến tranh.

- Khác nhau:

+ Kinh tế Mỹ phát triển cực kỳ nhanh chóng do cải tiến kỹ thuật thực hiện phương pháp sản xuất dây chuyển, tăng cường độ lao động và bóc lột công nhân.

+ Ở Nhật phát triển không đều, mất cân đối (trong vòng mấy năm đầu) rồi lại lâm vào khủng hoảng, công nghiệp không có sự cải thiện, nông nghiệp trì trệ, lạc hậu, kinh tế phát triển chậm chạp, bấp bênh.

* Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, cách giải quyết của Mĩ và Nhật Bản khác nhau như thế nào?

- Mĩ giải quyết khủng hoảng bằng cải cách kinh tế, xã hội, thực hiện chính sách mới.
- Nhật giải quyết khủng hoảng bằng cách tăng cường chính sách quân sự hóa đất nước, phát xít hóa bộ máy chính trị, gây chiến tranh bành trướng ra bên ngoài.

* Việt Nam học hỏi để phát triển đất nước:

-Sau Chiến tranh thế giới, các nước phát triển, đặc biệt là các nước tư bản chủ nghĩa trong đó có Mĩ đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại vào sản xuất giúp tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm.

-Mĩ trở thành những trung tâm kinh tế tài - chính lớn nhất thế giới. Chính vì thế, để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Việt Nam cần ứng dụng các thành tựu khoa học – kĩ thuật vào sản xuất, lấy đó làm nhân tố nòng cốt tạo nên sự tăng trưởng nhanh về kinh tế.

- Chú trọng tiếp thu những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại, áp dụng sáng tạo công nghệ mới để đi tắt đón đầu, rút ngắn thời gian xây dựng và phát triển kinh tế.
- Tăng cường vai trò của nhà nước trong việc quản lý, điều tiết nền kinh tế, tiếp thu kinh nghiệm quản lý của các nước khác.


- Ngoài việc phát huy tối đa yếu tố nội lực (tài nguyên phong phú, nhân công dồi dào), cần phải tận dụng tốt những yếu tố bên ngoài để phát triển kinh tế (tranh thủ vốn đầu tư của nước ngoài, thời cơ từ hội nhập quốc tế và khu vực…)
 
Câu 2 Hãy lập bảng hệ thống những nét chính về tình hình châu Á từ năm 1918 đến năm 1945?

Vấn đề
Thời gian
Nội dung chính
Sự phát triển của Nhật Bản​
1918 - 1929​
- Kinh tế Nhật Bản phát triển xen kẽ với các đợt khủng hoảng, suy thoái ngắn.
- Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập và trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào công nhân​
1929 - 1933​
- Nhật Bản lâm vào khủng hoảng do tác động của cuộc đại suy thoái; đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.​
1933 - 1945​
- Nhật Bản thực hiện phát xít hóa bộ máy nhà nước, tích cực chạy đua vũ trang.
- Nhật Bản tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, tiến hành xâm lược nhiều nước ở châu Á. Tới 15/8/1945, Nhật Bản buộc phải đầu hàng.​
Phong trào giải phóng dân tộc​
1918 - 1945​
- Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dân cao, lan rộng khắp các châu lục.
- Phong trào đấu tranh diễn ra theo hai khuynh hướng chính: dân chủ tư sản (tiêu biểu là Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a,...) và vô sản (tiêu biểu là Trung Quốc, Việt Nam,...).
- Năm 1945, nhân cơ hội Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, nhân dân nhiều nước đã nổi dậy đấu tranh; nhiều nước đã giành chính quyền hoặc giải phóng được phần lớn lãnh thổ,…​
 
câu 3 Em có nhận xét gì về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các nước châu Á sau Chiến tranh thế giới thứ nhất?
- Quy mô: Phong trào diễn ra mạnh mẽ và lan rộng ở nhiều khu vực của lục địa châu Á, được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.
- Hình thức đấu tranh: có nhiều hình thức như đấu tranh chính trị, bãi công, đấu tranh vũ trang

- Kết quả: Nhiều phong trào giành được thắng lợi như cách mạnh Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kì

Câu 4. Em có nhận xét gì về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ nhất?
- Phong trao độc lập diễn ra sôi nổi, liên tục ở nhiều nước, dưới những hình thức phong phú
- Phong trao được đông đảo của các tầng lớp nhân dân tham gia, giai cấp vô sản từng bước trưởng thành và tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh. Đặc biệt ở Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đấu tranh chống Pháp, tạo bước ngoặt cho phong trào.
- Phong trào Dân chủ tư sản tiếp tục phát triển, chưa có phong trào nào thắng lợi, nhưng đã cổ vũ mạnh mẽ
tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân chống kẻ thù chung: từ 1940 chống phát xít.
Câu 5 .Thống kê về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các nước châu Á (1918 – 1939)


Thời gian

Tên phong trào

Kết quả

4 - 5 - l 919

Phong trào Ngũ tứ ở Trung Quốc

Mở đầu cho cao trào CM chống đế quốc, chống PK ở châu Á

Những năm 1921 - 1924

Cuộc cách mạng của nhân dân Mông Cổ

Giành được thắng lợi., thành lập nhà nước DCND Mông Cổ

Những năm 1918 - 1939

Ấn độ diễn ra những cuộc bãi công lớn

Hàng hóa của Anh bị tẩy chay

Những năm 1919 - 1922

Chiến tranh giải phóng dân tộc ở Thổ Nhĩ kì

Thành lập nước CH Thổ Nhỉ Kì

Những năm 1926 - 1927

Khởi nghĩa ở Gia-va và Xu-ma-tơ-ra (In-đô-nê-xi-a)

Đều bị chính quyền thực dân đàn áp

Những năm 1930 - 1931

Phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (Việt Nam.)

Những năm 1901- 1936

Khởi nghĩa của Ong Kẹo và Com-ma-đam (Lào)

Những năm l 930 -

1935

Phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản do nhà sư A-cha Hem Chiêu đứng đầu (CPC).

 
Những nét chung về phong trào độc lập dân tộc ở châu Á (1918 - 1939)?
- Hoàn cảnh:
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và sự kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất đã mở ra một thời kì phát triển mới trong phong trào độc lập dân tộc ở châu Á.

- Các phong trào tiêu biểu: Phong trào lên cao và lan rộng khắp các khu vực của lục địa châu Á rộng lớn, tiêu biểu là phong trào đấu tranh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và In-đô-nê-xi-a. Đó là:

+ Phong trào Ngũ tứ năm 1919 ở Trung Quốc.

+ Cuộc cách mạng nhân dân ở Mông Cổ (1921 - 1924) đưa tới việc thành lập Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ.

+ Phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại do M. Gan-đi đứng đầu.

+ Thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng ở Thổ Nhĩ Kì (1919 - 1922) đưa tới việc thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kì,...

- Điểm mới:

+ Trong cao trào cách mạng này, giai cấp công nhân đã tích cực tham gia đấu tranh giành độc lập dân tộc

+ Các Đảng cộng sản được thành lập và giữ vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam.
 
Em có nhận xét gì về tình hình nước Nhật trong những năm 1918 - 1929?
- Nhật Bản thu được nhiều lợi nhuận, không mất mát gì sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và nhanh chóng trở thành cường quốc duy nhất ở châu Á.

- Tuy nhiên, nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng không đều, không ổn định, mất cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp:

+ Công nghiệp: Trong vòng 5 năm (1914 - 1919), sản lượng công nghiệp của Nhật Bản tăng gấp 5 lần. Nhiều công ti mới xuất hiện, mở rộng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa ra các thị trường châu Á.

+ Nông nghiệp: không có gì thay đổi, những tàn dư phong kiến vẫn còn tồn tại nặng nề ở nông thôn. Giá thực phẩm, nhất là giá gạo tăng cao làm cho đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.

- Năm 1927, Nhật Bản lại lâm vào một cuộc khủng hoảng tài chính làm cho 30 ngân hàng phải đóng cửa

=> Như vậy, thời kì 1918 - 1929 chỉ là thời kì phục hồi ngắn ngủi của nền kinh tế Nhật Bản.
 
Bằng sự hiểu biết của bản thân, hãy tìm một số sự kiện trong những năm 1939-1945 thể hiện mối liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Việt Nam-Lào-Cam-pu-chia và giới thiệu với bạn.
- Một số sự kiện trong những năm 1939-1945 thể hiện mối liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Việt Nam-Lào-Cam-pu-chia:

+ Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương (tồn tại từ tháng 11/1939 đến tháng 5/1941) đã tập hợp hết thảy những lực lượng phản đế, phản phong kiến ở Đông Dương vào cuộc đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp – phát xít Nhật và bè lũ tay sai, giành độc lập dân tộc.

+ Tháng 8/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam và Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân.
 

Nguyên nhân quân phiệt Nhật xâm lược Đông Bắc Trung Quốc?​

Việc quân phiệt Nhật Bản xâm lược Đông Bắc Trung Quốc (tháng 9 - 1931) xuất phát từ những nguyên nhân chính sau đây:
  • Tác động của cuộc Đại suy thoái kinh tế (1929 - 1933): Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Nhật Bản. So với năm 1929, đến năm 1931, sản lượng công nghiệp của Nhật giảm 32,5%, ngoại thương giảm tới 80% và có khoảng 3 triệu người rơi vào tình trạng thất nghiệp.
  • Giải quyết mâu thuẫn xã hội và bế tắc kinh tế: Cuộc khủng hoảng làm cho các mâu thuẫn xã hội tại Nhật Bản ngày càng trở nên gay gắt. Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng này, giới cầm quyền Nhật Bản đã đẩy mạnh chính sách quân sự hóa bộ máy nhà nước, tìm cách giải quyết khó khăn bằng con đường gây chiến tranh xâm lược và bành trướng ra bên ngoài để vơ vét tài nguyên và mở rộng thị trường.
  • Kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới: Việc xâm chiếm Đông Bắc Trung Quốc nằm trong một lộ trình chiến lược đã được vạch sẵn. Ngay từ năm 1927, Thủ tướng Nhật Bản là Ta-na-ca đã trình lên Nhật hoàng bản "Tâu trình", trong đó đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới, mà Trung Quốc là mục tiêu trọng yếu đầu tiên.
Sự kiện tháng 9 - 1931 khi Nhật Bản đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc chính là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa tham vọng biến khu vực này thành "lò lửa chiến tranh" đầu tiên ở châu Á
 

Những biến động lớn của Nhật Bản giai đoạn 1929-1933?​


Trong giai đoạn từ năm 1929 đến năm 1933, Nhật Bản đã trải qua những biến động sâu sắc do tác động của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới, dẫn đến sự thay đổi lớn về cả kinh tế, xã hội và chính trị:
  • Về kinh tế: Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới (1929 – 1933) đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Nhật Bản. So với năm 1929, đến năm 1931, sản lượng công nghiệp của Nhật Bản giảm 32,5%, trong khi ngoại thương sụt giảm tới 80%.
  • Về xã hội: Khủng hoảng kinh tế làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt khi có khoảng 3 triệu người thất nghiệp. Phong trào đấu tranh của công nhân bùng nổ mạnh mẽ, tăng từ 276 cuộc bãi công năm 1929 lên đến gần 1 000 cuộc bãi công vào năm 1931.
  • Về chính trị và đối ngoại: Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, giới cầm quyền Nhật Bản đã đẩy mạnh chính sách quân phiệt hóa bộ máy nhà nước và gây chiến tranh xâm lược, bành trướng ra bên ngoài.
  • Sự kiện tiêu biểu: Vào tháng 9/1931, Nhật Bản đã tấn công và chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, đánh dấu việc hình thành một "lò lửa chiến tranh" tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Những biến động này không chỉ làm thay đổi diện mạo nước Nhật mà còn là bước chuẩn bị ráo riết của chủ nghĩa quân phiệt Nhật cho cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai sau này
 

Tại sao Nhật Bản chọn quân phiệt hóa để thoát khủng hoảng?​


Việc Nhật Bản lựa chọn con đường quân phiệt hóa bộ máy nhà nước để thoát khỏi cuộc đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933) xuất phát từ những lý do chính sau đây:
  • Tác động nặng nề của cuộc đại suy thoái: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã giáng đòn nặng nề vào nền kinh tế Nhật Bản, khiến sản lượng công nghiệp giảm 32,5%, ngoại thương giảm 80% và có tới 3 triệu người thất nghiệp. Tình trạng này làm cho mâu thuẫn xã hội trở nên cực kỳ gay gắt, với gần 1 000 cuộc bãi công nổ ra vào năm 1931.
  • Thiếu hụt tài nguyên và thị trường: Giống như Đức và I-ta-li-a, Nhật Bản là quốc gia có ít hoặc không có thuộc địa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và thị trường. Do đó, giới cầm quyền Nhật Bản không chọn con đường cải cách kinh tế – xã hội như Anh, Pháp hay Mỹ mà chọn cách thiết lập chế độ độc tài quân phiệt.
  • Nhu cầu bành trướng và phân chia lại thế giới: Để giải quyết khó khăn trong nước, Nhật Bản chủ trương gây chiến tranh xâm lược và bành trướng ra bên ngoài nhằm chiếm đoạt tài nguyên và mở rộng thị trường. Ngay từ năm 1927, Thủ tướng Nhật Bản Ta-na-ca đã trình bản Tấu trình đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới.
  • Giải quyết khủng hoảng bằng con đường vũ lực: Việc quân phiệt hóa giúp chính quyền kiểm soát chặt chẽ đời sống chính trị, xã hội, đồng thời biến nền kinh tế thành bộ máy phục vụ chiến tranh. Minh chứng điển hình là vào tháng 9/1931, Nhật Bản đã tấn công và chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, biến nơi đây thành "lò lửa chiến tranh" đầu tiên ở châu Á.
Tóm lại, quân phiệt hóa là phương thức để giới cầm quyền Nhật Bản chuyển giao gánh nặng khủng hoảng sang các dân tộc khác thông qua xâm lược, đồng thời đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước để duy trì quyền thống trị
 

Kế hoạch xâm lược thế giới của Nhật Bản là gì?​


Kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới của Nhật Bản được đề ra trong bản Tấu trình do Thủ tướng Ta-na-ca trình lên Nhật hoàng vào năm 1927.
Để thực hiện tham vọng này, Nhật Bản đã đẩy mạnh chính sách quân phiệt hóa bộ máy nhà nước và tiến hành các bước xâm lược cụ thể như sau:
  • Xâm lược Trung Quốc: Vào tháng 9/1931, Nhật Bản tấn công và chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, biến nơi đây thành "lò lửa chiến tranh" đầu tiên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
  • Mở rộng sang Đông Nam Á: Tháng 9/1940, quân đội Nhật kéo vào Đông Dương.
  • Tấn công Mỹ và Thái Bình Dương: Tháng 12/1941, Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ tại Trân Châu Cảng, sau đó tiếp tục xâm lược các nước Đông Nam Á khác và tiến đánh nhiều đảo thuộc châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, kế hoạch bành trướng này đã thất bại khi Nhật Bản phải chấp nhận đầu hàng không điều kiện trước quân Đồng minh vào ngày 15/8/1945.
 

Tìm hiểu nội dung bản Tấu trình năm 1927 của Ta-na-ca.​

Nội dung chính của bản Tấu trình do Thủ tướng Nhật Bản Ta-na-ca trình lên Nhật hoàng vào năm 1927 tập trung vào tham vọng bành trướng quyền lực của quốc gia này. Dưới đây là các nét chính về bản Tấu trình này:
  • Mục tiêu cốt lõi: Bản Tấu trình đã đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới của giới cầm quyền Nhật Bản.
  • Bối cảnh ra đời: Văn kiện này xuất hiện trong giai đoạn Nhật Bản đang tìm cách đối phó với những khó khăn kinh tế trong nước và muốn khẳng định vị thế cường quốc bằng con đường vũ lực.
  • Hệ quả thực tiễn: Sau khi bản Tấu trình được đưa ra, Nhật Bản đã ráo riết thực hiện các bước xâm lược cụ thể để hiện thực hóa kế hoạch này, bắt đầu bằng việc tấn công và chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc vào tháng 9/1931, biến nơi đây thành "lò lửa chiến tranh" đầu tiên ở châu Á.
Bản Tấu trình năm 1927 được xem là kim chỉ nam cho chính sách đối ngoại xâm lược của phát xít Nhật, dẫn đến việc họ trực tiếp tham gia và mở rộng quy mô cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương sau này
 

Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á có gì nổi bật?​

Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á giai đoạn 1918 – 1945 có những nét nổi bật sau đây :
  • Sự thức tỉnh và lan rộng của phong trào: Dưới tác động của Cách mạng tháng Mười Nga, làn sóng đấu tranh giành độc lập dân tộc dâng cao và lan rộng khắp các nước trong khu vực.
  • Sự ra đời và lãnh đạo của các Đảng Cộng sản: Một loạt Đảng Cộng sản đã được thành lập để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động như: Đảng Cộng sản In-đô-nê-xi-a (5/1920), Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930), cùng các Đảng Cộng sản ở Mã Lai, Xiêm và Phi-líp-pin (11/1930).
  • Các cuộc khởi nghĩa vũ trang tiêu biểu: Nhiều cuộc nổi dậy lớn đã bùng nổ, điển hình là khởi nghĩa tại Gia-va và Xu-ma-tơ-ra (1926 – 1927) ở In-đô-nê-xi-a và phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh (1930 – 1931) ở Việt Nam.
  • Sự phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản: Bên cạnh phong trào vô sản, các tổ chức chính trị theo khuynh hướng tư sản cũng xuất hiện và có ảnh hưởng xã hội rộng lớn như Đảng Dân tộc ở In-đô-nê-xi-a, phong trào Tha-kin ở Miến Điện, và Liên minh Thanh niên Ma-lay-a.
  • Cuộc đấu tranh kiên cường tại Đông Dương:
    • Lào: Nhiều bộ tộc tham gia chống thực dân Pháp, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của ông Ong Kẹo và Com-ma-đam kéo dài hơn 30 năm (1901 – 1937).
    • Cam-pu-chia: Các cuộc đấu tranh diễn ra liên tiếp trong những năm 1918 – 1920, 1926; đặc biệt là phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản do nhà sư A-cha Hem-chiêu đứng đầu (1930 – 1935).
  • Bước ngoặt lịch sử năm 1945: Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào chống phát xít Nhật phát triển mạnh. Vào tháng 8/1945, chớp thời cơ Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, nhân dân nhiều nước như In-đô-nê-xi-a, Việt Nam và Lào đã nổi dậy và giành được độc lập.
Những chuyển biến này không chỉ chứng tỏ sự lớn mạnh của các lực lượng cách mạng trong nước mà còn tạo tiền đề cho sự thay đổi căn bản cục diện chính trị tại Đông Nam Á sau chiến tranh.
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top