- Trình bày được những nét chính về: phong trào cách mạng và sự thành lập Quốc tế Cộng sản; đại suy thoái kinh tế 1929 – 1933; sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu Âu.

- Nhận biết được tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế của nước Mỹ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới.

- Nêu được những nét chính về tình hình châu Á từ năm 1918 đến năm 1945.

Lịch sử 9 -Bài 2: Châu Âu và nước Mỹ từ năm 1918 đến năm 1945​


1. Phong trào cách mạng (1918-1923) và sự thành lập Quốc tế Cộng Sản (1919)

a. phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu từ năm 1918 đến năm 1923.


- Do hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, vào những năm 1918-1923, một phong trào cách mạng đã bùng nổ ở hầu khắp các nước tư bản châu Âu.

+ Ở Đức:

▪ Ngày 9/11/1918, công nhân và các tầng lớp nhân dân ở Béc-lin nổi dậy đấu tranh, lật đổ chế độ quân chủ. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền rơi vào tay giai cấp tư sản.

▪ Tháng 12-1918, Đảng Cộng sản Đức được thành lập.

▪ Trong những năm 1919-1923, phong trào cách mạng chống lại giai cấp tư sản vẫn tiếp diễn nhưng thất bại.

+ Phong trào cách mạng cũng phát triển mạnh ở các nước châu Âu như: Hung-ga-ri, Anh, Pháp,...

▪ Ở Anh, từ năm 1919 đến năm 1921, đã có tới 6,5 triệu người bãi công.

▪ Ở Pháp, phong trào bãi công của công nhân chuyển thành cao trào cách mạng, với cuộc tổng bãi công lớn nhất nổ ra nhân ngày Quốc tế Lao động (1-5-1920) lôi cuốn hơn 1 triệu người tham gia.

- Qua phong trào, nhiều Đảng Cộng sản được thành lập như: Đảng Cộng sản Hung-ga-ri (1918), Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng Cộng sản Anh (1920), Đảng Cộng sản Ita-li-a (1921),...

b. Sự thành lập và một số hoạt động chính của Quốc tế Cộng sản.

- Sự ra đời:


+ Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đặt ra yêu cầu cần phải có một tổ chức quốc tế để lãnh đạo.

+ Những hoạt động tích cực của V. I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích Nga.

=> Tháng 3/ 1919, Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế thứ ba) được thành lập ở Mát-xcơ-va.

- Hoạt động chính: Trong thời gian tồn tại (1919-1943), Quốc tế Cộng sản đã tiến hành 7 kì đại hội, để ra đường lối cho từng thời kì phát triển của cách mạng thế giới, trở thành tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

- Năm 1943, do sự thay đổi của tình hình thế giới, Quốc tế Cộng sản tuyên bố tự giải tán.

* Cuộc đại suy thoái kinh tế (1929-1933) và sự hình thành chủ nghĩa phát xít

- Nguyên nhân của đại suy thoái kinh tế: Trong những năm 1924-1929, kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, sản xuất tăng lên nhanh chóng. Nhưng do sản xuất ồ ạt, nhu cầu và sức mua của thị trưởng không có sự tăng lên tương ứng, làm cho hàng hoá trở nên ế thừa và dẫn tới suy thoái trong sản xuất.
(3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933
Nguyên nhân chủ yếu đưa đến cuộc khủng hoảng là do sản xuất của chủ nghĩa tư bản tăng lên quá nhanh trong giao đoạn ổn định nhưng nhu cầu và sức mua của người dân lại không tăng tương ứng, khiến hàng hoá ế thừa dẫn tới suy thoái trong sản xuất. Cụ thể, khả năng sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ thực tế, một phần lớn thu nhập quốc dân lại chỉ thuộc về một số ít người. Lợi nhuận của công ty tăng, trong khi người lao động không được nhận phần xứng đáng, không có khả năng mua hàng hoá do chính họ sản xuất.
-Lý do thứ hai, chính sách thuế và những món nợ của các chính phủ làm cho hàng hoá không thể bán ra nước ngoài. Việc cấp tín dụng quá dễ dàng cũng tạo ra sự lạm dụng. Người ta mua chứng khoán chủ yếu để đầu cơ, bán lại kiếm lời trong thời gian ngắn sau đó. Hậu quả là chính phủ và tư nhân đều rơi vào tình trạng nợ nần. Ngoài ra, quá trình cơ giới hoá được đẩy mạnh làm giảm nhu cầu về thợ không lành nghề khiến cho tình trạng thất nghiệp gia tăng mạnh mẽ. Thất nghiệp gia tăng trong khi sức mua giảm, chính phủ không có chính sách đúng đắn để khắc phục nạn thất nghiệp nên không thể giảm được nạn nghèo đói.

* Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1929 - 1933

-Khủng hoảng tài chính kéo dài trong hàng năm ở tất cả mọi lĩnh vực dẫn tới sự tiêu điều của rất nhiều đất nước. Các nước tư bản nội bộ lục đục, dẫn đến xích mích giữa giai cấp tư bản và vô sản, giữa người nông dân và địa chủ cực kì gay gắt. Vì thế dẫn tới cao trào cách mệnh, bọn tư bản đàn áp nhân dân khốc liệt làm cho các cuộc bạo loạn xảy ra khắp nơi.

-Việt Nam dù không phải nước tư bản nhưng vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi thực dân tăng cường bóc lột nhân dân, tăng sưu thuế, cướp bóc, chèn ép khiến tài chính của Việt Nam trở nên kiệt quệ. Pháp rút vốn đầu tư từ Đông Dương về chính quốc nên sản xuất ở Việt Nam cũng trở nên đình trệ. Có thể nói, cuộc khủng hoảng tác động trực tiếp đến nền kinh tế thị trường Việt Nam như sau:

- Thực dân Pháp rút vốn từ Đông Dương về chính quốc, đồng thời dùng ngân sách Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp đã làm sản xuất công nghiệp ở Việt Nam trở nên đình trệ do thiếu vốn.

- Lúa gạo trên thị trường thế giới mất giá cũng khiến cho lúa gạo Việt Nam không thể xuất khẩu, từ đó dẫn đến tình trạng ruộng đất bị bỏ phí.

- Công nhân thất nghiệp ngày càng đông, số người dân có việc làm thì tiền lương bị giảm từ 30% đến 50%

- Tiểu tư sản lâm vào tình thế điêu đứng: Nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức bị sa thải, học sinh, sinh viên ra trường bị thất nghiệp

- Một bộ phận lớn tư sản dân tộc bản địa lâm vào tính thế khó khăn do không thể kinh doanh thương mại và sản xuất.)

- Biểu hiện:


- Tháng 10 – 1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, sau đó lan rộng ra toàn thế giới tư bản chủ nghĩa, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực (tài chính, công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp), kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932.

- Cuộc đại suy thoái đó đã tàn phá nặng nề nền kinh tế và gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa: công nhân thất nghiệp, nông dân mất ruộng đất, nghèo đói; người tham gia bãi công ở các nước tư bản tăng cao (số công nhân thất nghiệp lên tới 50 triệu, hàng triệu nông dân bị mất ruộng đất, số người tham gia bãi công lên tới 17 triệu).

Từ đó, rút ra được hậu quả của cuộc đại suy thoái kinh tế là nền sản xuất bị ngừng trệ, nhiều người mất việc làm, rơi vào tình trạng đói khổ.

Để thoát khỏi đại suy thoái, các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị trường nên tiến hành những cuộc đại cải cách kinh tế
xã hội. Trong khi đó, các nước Đức, I-ta-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới

Vì sao chủ nghĩa phát xít thắng lợi ở Đức?


Đức là quê hương của chủ nghĩa quân phiệt Phổ, bị bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, chịu những tác động và khủng hoảng nghiêm trọng trong những năm 1929 – 1933, giai cấp tư sản cầm quyền dung túng cho chủ nghĩa phát xít, phong trào cách mạng không đủ sức đẩy lùi chủ nghĩa phát xít,...

*Sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu Âu:

- Để thoát khỏi đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933), các nước tư bản đã có nhiều cách ứng phó khác nhau:

+ Các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị trường nên tiến hành những cuộc cải cách kinh tế-xã hội.

+ Các nước Đức, I-ta-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới.

=> Sự xuất hiện và lên cầm quyền của lực lượng phát xít ở các quốc gia như: Đức, Italia, Nhật Bản,… đã đặt thế giới trong tình trạng căng thẳng, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đến gần.

3. Nước Mỹ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

a. Tình hình chính trị

- Về đối nội:


+ Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Đảng Cộng hoà liên tục nắm chính quyền, đề cao sự phồn vinh của nền kinh tế, ngăn chặn các cuộc đấu tranh của công nhận, đàn áp những người có tư tưởng tiến bộ…

+ Năm 1930, Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bỏ phiếu bầu Quốc hội Mỹ.

- Về đối ngoại:

+ Trong những năm 20 của thế kỉ XX, giới cầm quyền Mỹ theo đuổi lập trường chống Liên Xô, tiếp

tục thực hiện học thuyết Mơn-rô (châu Mỹ của người châu Mỹ) để bành trướng, thậm chí can thiệp

về quân sự khi cần thiết đối với khu vực Mỹ La-tinh.

+ Từ năm 1933
, Chính phủ của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, thực hiện chính sách “láng giềng thân thiện” đối với các nước Mỹ La-tinh.

b, Sự phát triển kinh tế

- Trong những năm 20 của thế kỉ XX(Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,), kinh tế Mỹ bước vào thời kì phát triển “hoàng kim” (sản lượng công nghiệp chiếm 48% thế giới, đứng đầu thế giới về ngành công nghiệp sản xuất ô tô, thép và dầu mỏ, nắm trong tay 60% dự trữ vàng của thế giới).

- Tháng 10/1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, bắt đầu từ lĩnh vực tài chính, rồi nhanh chóng lan ra các lĩnh vực khác, khiến nền kinh tế-tài chính Mỹ sa sút.

- Để đưa nước Mỹ thoát ra khỏi cuộc đại suy thoái, Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã thực hiện Chính sách mới, với các biện pháp nhằm: giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi sự phát triển của các ngành kinh tế-tài chính, cải tổ hệ thống ngân hàng, tạo thêm nhiều việc làm mới và ổn định tình hình xã hội.

- Chính sách mới đã cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản Mỹ, góp phần làm cho nước Mỹ duy trì được chế độ dân chủ tư sản, tình hình chính trị, xã hội dần dần được ổn định.

có thể bạn muốn xem :

Bài 1: Nước Nga và Liên Xô từ năm 1918 đến năm 1945

 
Sửa lần cuối:

BÀI TẬP

Câu 1 Trình bày những nét chính về phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu từ năm 1918 đến năm 1923?

* Trình bày những nét chính về phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu từ năm 1918 đến năm 1923.


- Do hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, vào những năm 1918-1923, một phong trào cách mạng đã bùng nổ ở hầu khắp các nước tư bản châu Âu.

+ Ở Đức:

▪ Ngày 9/11/1918, công nhân và các tầng lớp nhân dân ở Béc-lin nổi dậy đấu tranh, lật đổ chế độ quân chủ. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền rơi vào tay giai cấp tư sản.

▪ Tháng 12-1918, Đảng Cộng sản Đức được thành lập.

▪ Trong những năm 1919-1923, phong trào cách mạng chống lại giai cấp tư sản vẫn tiếp diễn nhưng thất bại.

+ Phong trào cách mạng cũng phát triển mạnh ở các nước châu Âu như: Hung-ga-ri, Anh, Pháp,...

▪ Ở Anh, từ năm 1919 đến năm 1921, đã có tới 6,5 triệu người bãi công.

▪ Ở Pháp, phong trào bãi công của công nhân chuyển thành cao trào cách mạng, với cuộc tổng bãi công lớn nhất nổ ra nhân ngày Quốc tế Lao động (1-5-1920) lôi cuốn hơn 1 triệu người tham gia.

- Qua phong trào, nhiều Đảng Cộng sản được thành lập như: Đảng Cộng sản Hung-ga-ri (1918), Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng Cộng sản Anh (1920), Đảng Cộng sản Ita-li-a (1921),...

Câu 2. Trình bày sự thành lập và một số hoạt động chính của Quốc tế Cộng sản?

- Sự ra đời:

+ Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đặt ra yêu cầu cần phải có một tổ chức quốc tế để lãnh đạo.

+ Những hoạt động tích cực của V. I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích Nga.

=> Tháng 3/ 1919, Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế thứ ba) được thành lập ở Mát-xcơ-va.

- Hoạt động chính: Trong thời gian tồn tại (1919-1943), Quốc tế Cộng sản đã tiến hành 7 kì đại hội, để ra đường lối cho từng thời kì phát triển của cách mạng thế giới, trở thành tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

- Năm 1943, do sự thay đổi của tình hình thế giới, Quốc tế Cộng sản tuyên bố tự giải tán.

Câu 3. Trình bày nguyên nhận và biểu hiện, hậu quả của cuộc đại suy thoái kinh tế trong những năm 1929-1933. Vì sao gọi Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 được gọi là cuộc khủng hoảng “thừa”. Biện pháp để giải quyết khủng hoảng. Tại sao cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, kéo dài nhất, gây thiệt hại nặng nề nhất?

- Nguyên nhân của đại suy thoái kinh tế:
Trong những năm 1924-1929, kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, sản xuất tăng lên nhanh chóng. Nhưng do sản xuất ồ ạt, nhu cầu và sức mua của thị trưởng không có sự tăng lên tương ứng, làm cho hàng hoá trở nên ế thừa và dẫn tới suy thoái trong sản xuất.

- Biểu hiện:

+ Tháng 10/1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, sau đó lan rộng ra toàn thế giới tư bản chủ nghĩa, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực (tài chính, công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp…).

+ Khủng hoảng kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932.

- Hậu quả: Cuộc khủng hoảng kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932, chẳng những tàn phá nặng nề nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về chính trị-xã hội.

+ Kinh tế: Tàn phá tất cả các ngành kinh tế, kéo lùi sức sản xuất, nông dân mất ruộng đất, sống trong ngành nghèo đói, túng quẫn.

+ Xã hội: Nạn thất nghiệp tăng, phong trào đấu tranh, biểu tình, tuần hành của những người thất nghiệp diễn ra mạnh mẽ ở khắp các nước.

+ Chính trị: Chủ nghĩa phát xít lên nắm chính quyền ở nhiều nước (Đức, Ý, Nhật Bản).

+ Quan hệ quốc tế: Xuất hiện hai khối đế quốc đối lập nhau, nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới.

* Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 được gọi là cuộc khủng hoảng “thừa”, vì:

- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 xảy ra do các nước tư bản chạy theo lợi nhuận, sản xuất hàng hóa ồ ạt “cung” vượt quá “cầu”, hàng hóa ế thừa. Trong khi đó sức mua giảm sút vì quần chúng quá nghèo khổ, dẫn đến khủng hoảng. Đây là cuộc khủng hoảng thừa.Trái ngược với cuộc khủng hoảng 1919-1924 là cuộc khủng hoảng thiếu.

- Cuộc khủng hoảng đã phản ánh đúng mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ phe đế quốc cũng như những căn bệnh của chủ nghĩa tư bản. Những điều mà hệ thống Véc-xai - Oa-sinh-tơn không thể giải quyết nổi.

* Biện pháp để giải quyết khủng hoảng:

+ Anh, Pháp, Mĩ: giải quyết khủng hoảng bằng cách thực hiện những chính sách cải cách kinh tế – xã hội.

+ Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản: giải quyết khủng hoảng bằng cách tăng cường chính sách quân sự hóa đất nước, phát xít hóa bộ máy thống trị, phát động cuộc chiến tranh để phân chia lại thế giới, bành trướng ra bên ngoài.

( Hoàn cảnh lịch sử:sau chiến tranh thế giới thứ I,Đức là nước thất trận,với hiệp ước Vec xai-Oasinton,Đức bị các nước khác o bế trăm bề(không quân đội,đền bù thiệt hại nặng nề,bị mất hết thuộc địa,đât đai bị cắt cho Ba Lan,Pháp,...).Kinh tế Đức khủng hoảng trầm trọng,đồng Mác Đức bị mất giá.Trong khi đó,phong trào công nhân phát triển,...Năm 1929-1933,cuộc khủng hoảng kinh tế đen tối ập đến,nước Đức điêu đứng.Để thoát khỏi khủng hoảng,gây dựng nước Đức hùng mạnh như xưa,lấy lại uy danh của người Đức,bọn tư bản Đức đã ủng hộ Đảng Quốc xã lên nắm quyền,thiết lập chế độ phát xit,để bên trong thì đàn áp cách mạng,bên ngoài thực hiện chủ nghĩa bành trướng.

Đối với Nhật,sau chiến tranh là nước thắng trận,nhưng tài nguyên quá èo uột,dù chiếm thêm các thuộc địa của Đức trong chiến tranh TG I vẫn chưa đủ.Và cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 cũng gỏ cửa nước Nhật.Vốn là một nước có truyền thống quân phiệt từ trước,đứng trước tình thế khủng hoảng đó,các tổ chức quân phiệt càng có cơ hội hoạt động mạnh,gây các vụ lật đổ để leo lên nắm quyền lãnh đạo Nhật để xây dựng cái gọi là Đại Đông Á,mà bản chất là thông tính các nước châu Á để cung cấp nguyên liệu và thị trường cho Nhật.

Đông cơ chính để Đức và Nhật đi con đường phát xít bắt nguồn từ kinh tế.Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 buộc các nước này tìm con đường thoát khỏi khủng hoảng.Không thế bằng con đường cải cách như Mĩ,Anh,Pháp vốn là những nước giàu có,nhiều thuộc địa,2 nước đó chỉ còn cách dùng con đường phản động để vượt qua khủng hoảng.Lại thêm đặc thù ở mỗi nước:ở Đức là mối thù thất trận,Nhật có truyền thống quân phiệt,vì vậy 2 nước đó đi đến con đường phát xít hóa đất nước).

* Tại sao cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, kéo dài nhất, gây thiệt hại nặng nề nhất?

Nói cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, kéo dài nhất, gây thiệt hại nặng nề nhất, vì:

- Lớn nhất: đây là cuộc khủng hoảng thừa, xuất phát từ Mĩ rồi nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước trên thế giới.

- Dài nhất: kéo dài 5 năm từ 1929 đến 1933, dài hơn so với bất cứ cuộc khủng hoảng nào khác.

- Gây thiệt hại nặng nề nhất:

+ Tàn phá nặng nề nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa.

+ Mức sản xuất bị đẩy lùi lại hàng chục năm.

+ Hàng trăm triệu người rơi vào tình trạng đói khổ.

+ Nghiêm trọng nhất là dẫn tới sự hình thành chủ nghĩa Phát xít, đẩy loài người đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới.
 
Câu 4. Sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu Âu diễn ra như thế nào?

Khái niệm chủ nghĩa “phát xít''

- Chủ nghĩa “phát xít'': hình thức chuyên chính của bọn tư sản, đế quốc phản động nhất, hiếu chiến nhất, chủ trương thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, thiết lập chế độ khủng bố công khai và gây chiến tranh xâm lược để thống trị thế giới

- Để thoát khỏi đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933), các nước tư bản đã có nhiều cách ứng phó khác nhau:


+ Các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị trường nên tiến hành những cuộc cải cách kinh tế-xã hội.

+ Các nước Đức, I-ta-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới.

=> Sự xuất hiện và lên cầm quyền của lực lượng phát xít ở các quốc gia như: Đức, Italia, Nhật Bản,… đã đặt thế giới trong tình trạng căng thẳng, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đến gần.

Câu 5 Trình bày những nét lớn về tình hình chính trị, kinh tế của nước Mỹ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới?

♦ Tình hình chính trị


- Về đối nội:


+ Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Đảng Cộng hoà liên tục nắm chính quyền, đề cao sự phồn vinh của nền kinh tế, ngăn chặn các cuộc đấu tranh của công nhận, đàn áp những người có tư tưởng tiến bộ…

+ Năm 1930, Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bỏ phiếu bầu Quốc hội Mỹ.

- Về đối ngoại:

+ Trong những năm 20 của thế kỉ XX, giới cầm quyền Mỹ theo đuổi lập trường chống Liên Xô, tiếp tục thực hiện học thuyết Mơn-rô (châu Mỹ của người châu Mỹ) để bành trướng, thậm chí can thiệp về quân sự khi cần thiết đối với khu vực Mỹ La-tinh.

+ Từ năm 1933, Chính phủ của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, thực hiện chính sách “láng giềng thân thiện” đối với các nước Mỹ La-tinh.

♦ Sự phát triển kinh tế

- Trong những năm 20 của thế kỉ XX, kinh tế Mỹ bước vào thời kì phát triển “hoàng kim”:

- Tháng 10/1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, bắt đầu từ lĩnh vực tài chính, rồi nhanh chóng lan ra các lĩnh vực khác, khiến nền kinh tế-tài chính Mỹ sa sút.

- Để đưa nước Mỹ thoát ra khỏi cuộc đại suy thoái, Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã thực hiện Chính sách mới, với các biện pháp nhằm: giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi sự phát triển của các ngành kinh tế-tài chính, cải tổ hệ thống ngân hàng, tạo thêm nhiều việc làm mới và ổn định tình hình xã hội.

- Chính sách mới đã cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản Mỹ, góp phần làm cho nước Mỹ duy trì được chế độ dân chủ tư sản, tình hình chính trị, xã hội dần dần được ổn định.

Câu 6. Sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu Âu diễn ra như thế nào?

- Để thoát khỏi đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933), các nước tư bản đã có nhiều cách ứng phó khác nhau:

+ Các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị trường nên tiến hành những cuộc cải cách kinh tế-xã hội.

+ Các nước Đức, I-ta-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới.

=> Sự xuất hiện và lên cầm quyền của lực lượng phát xít ở các quốc gia như: Đức, Italia, Nhật Bản,… đã đặt thế giới trong tình trạng căng thẳng, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đến gần.
 

Câu 8. Nêu nhận xét của em về con đường thoát khỏi đại suy thoái của các nước tư bản châu Âu và nước Mỹ.

* Nhận xét:

- Do điều kiện lịch sử của mỗi nước có sự khác nhau, nên các nước tư bản Âu – Mĩ đã đưa ra những giải pháp khác nhau để thoát khỏi đại suy thoái. Cụ thể là:

+ Các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị trường nên tiến hành những cuộc cải cách kinh tế-xã hội.

+ Các nước Đức, I-ta-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh để phân chia lại thế giới.

- Sự xuất hiện và lên cầm quyền của lực lượng phát xít ở các quốc gia như: Đức, Italia, Nhật Bản,… đã đặt thế giới trong tình trạng căng thẳng, nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới đang đến gần.

* Khác nhau:


- Anh, Pháp, Mĩ tìm cách thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933) thông qua việc tiến hành những chính sách cải cách kinh tế - xã hội. Ví dụ, nước Mĩ thực hiện Chính sách mới do Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đề xướng.

- Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản tìm cách thoát khỏi khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933) thông qua việc phát xít hóa bộ máy thống trị.

* Nguyên nhân dẫn tới sự khác nhau:

- Anh, Pháp, Mĩ:

+ Có nhiều thị trường và thuộc địa

=> Có thể trút gánh nặng khủng hoảng lên nhân dân thuộc địa, do đó có thể thoát khỏi khủng hoảng bằng những biện pháp cải cách.

+ Truyền thống dân chủ tư sản tồn tại lâu dài, giới cầm quyền Anh, Pháp, Mĩ thường có xu hướng giải quyết khó khăn trong nước thông qua biện pháp hòa bình, cải cách.

- Đức, I-ta-lia-a, Nhật Bản:


+ Không có hoặc có ít thuộc địa, thị trường tiêu thụ hẹp

=> Thiếu vốn, nguyên liệu, thị trường.

+ Truyền thống quân phiệt tồn tại lâu dài, giới cầm quyền Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản thường có xu hướng giải quyết khó khăn trong nước bằng bạo lực.

Câu 9 Giới thiệu về Chính sách mới của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại suy thoái kinh tế.


Để đưa nước Mĩ thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, Tổng thống Ru-dơ-ven đã thực hiện một hệ thống các chính sách, biện pháp của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - tài chính và chính trị - xã hội, được gọi chung là Chính sách mới.

Bằng sự can thiệp tích cực của Nhà nước vào đời sống kinh tế, Chính phủ Ru-dơ-ven đã thực hiện các biện pháp giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi sự phát triển kinh tế thông qua các đạo luật về ngân hàng, phục hưng công nghiệp, điều chỉnh nông nghiệp. Trong các đạo luật đó, Đạo luật Phục hưng công nghiệp là quan trọng nhất. Đạo luật này quy định việc tổ chức lại sản xuất công nghiệp theo những hợp đồng chặt chẽ về sản phẩm và thị trường tiêu thụ.

Chính sách mới đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản của nước Mĩ trong cơn khủng hoảng nguy kịch. Nhà nước đã tăng cường vai trò của mình trong việc cứu trợ người thất nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới, khôi phục sản xuất, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và góp phần làm cho nước Mĩ duy trì được chế độ dân chủ tư sản. Chính vì thế, Ru-dơ-ven là người duy nhất trong lịch sử nước Mĩ trúng cử Tổng thống 4 nhiệm kì liên tiếp.
 
Trình bày những nét chính về cuộc đại suy thoái kinh tế 1929 – 1933.
- Nguyên nhân của đại suy thoái kinh tế:
Trong những năm 1924-1929, kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, sản xuất tăng lên nhanh chóng. Nhưng do sản xuất ồ ạt, nhu cầu và sức mua của thị trưởng không có sự ang lên tương ứng, làm cho tăng hoá trở nên ế thừa và dẫn tới suy thoái trong sản xuất.

- Biểu hiện:

+ Tháng 10/1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, sau đó lan rộng ra toàn thế giới tư bản chủ nghĩa. Cuộc khủng hoảng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: tài chính, công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp…

+ Khủng hoảng kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932.

- Hậu quả của khủng hoảng:

+ Kinh tế suy thoái nghiêm trọng.

+ Khiến hàng triệu người thất nghiệp; đời sống của nhân dân gặp nhiều khó ang.

+ Dẫn đến sự thắng thế của chủ nghĩa phát xít, đặc biệt ở Đức và góp phần gia ang mâu thuẫn giữa các nước tư bản và đặt nhân loại đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới.
 

Trình bày những nét chính về sự hình thành của chủ nghĩa phát xít ở châu Âu?

- Sự bất mãn với Trật tự Véc-xai – Oa-sinh-tơn (được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất) cùng với hậu quả nặng nề của cuộc đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933) đã dẫn đến sự hình thành và thắng thế của chủ nghĩa phát xít ở châu Âu.

- Để thoát khỏi đại suy thoái, Đức và I-ta-li-a đã phát xít hoá bộ máy chính quyền, chuẩn bị chiến tranh nhằm phân chia lại thế giới.

+ Tại I-ta-li-a, chủ nghĩa phát xít hình thành từ sớm. Năm 1919, B. Mút-xô-li-ni thành lập Đảng Quốc gia phát xít. Năm 1922, ang chục nghìn đội viên phát xít tiến quân chiếm Rô-ma, gây áp lực buộc nhà vua phải dưa Mút-xô-li-ni lên làm Thủ tướng. Năm 1925, chế độ độc tài phát xít được thiết lập, quyền lực tập trung vào B. Mút-xô-li-ni.

+ Tại Đức, tháng 1-1933, A. Hit-le, lãnh tụ của Đảng Quốc xã, được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Tháng 8-1934, A. Hit-le trở thành Quốc trưởng, xoá bỏ nền cộng hoà, thiết lập chế độ độc tài, tái vũ trang đất nước, chuẩn bị chiến tranh.

+ Năm 1936, trục phát xít Béc-lin – Rô-ma được thiết lập.

=> Sự thắng thế của chủ nghĩa phát xít ở I-ta-li-a và Đức đã dẫn đến hình thành lò lửa chiến tranh ở châu Âu.
 
Tìm hiểu thông tin trên sách, báo và internet, viết đoạn văn ngắn giới thiệu về Chính sách mới của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại suy thoái kinh tế.
Để đưa nước Mĩ thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, Tổng thống Ru-dơ-ven đã thực hiện một hệ thống các chính sách, biện pháp của Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - tài chính và chính trị - xã hội, được gọi chung là Chính sách mới.

Bằng sự can thiệp tích cực của Nhà nước vào đời sống kinh tế, Chính phủ Ru-dơ-ven đã thực hiện các biện pháp giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi sự phát triển kinh tế thông qua các đạo luật về ngân hàng, công nghiệp, điều chỉnh nông nghiệp. Trong các đạo luật đó, Đạo luật Phục ang công nghiệp là quan trọng nhất. Đạo luật này quy định việc tổ chức lại sản xuất công nghiệp theo những hợp đồng chặt chẽ về sản phẩm và thị trường tiêu thụ.

Chính sách mới đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản của nước Mĩ trong cơn khủng hoảng nguy kịch. Nhà nước đã ang cường vai trò của mình trong việc cứu trợ người thất nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới, khôi phục sản xuất, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và góp phần làm cho nước Mĩ duy trì được chế độ dân chủ tư sản. Chính vì thế, Ru-dơ-ven là người duy nhất trong lịch sử nước Mĩ trúng cử Tổng thống 4 nhiệm kì liên tiếp.
 
Lịch sử thế giới giai đoạn 1918-1945 có thể được tóm tắt qua bốn giai đoạn chính gắn liền với những biến động lớn về chính trị và kinh tế:

1. Giai đoạn 1918-1923: Cao trào cách mạng và sự hình thành trật tự mới
  • Hậu quả sau chiến tranh: Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản châu Âu rơi vào khủng hoảng. Dưới tác động của Cách mạng tháng Mười Nga, một phong trào cách mạng đã bùng nổ mạnh mẽ ở nhiều nước tư bản châu Âu như Đức, Hung-ga-ri, Pháp, Anh....
  • Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản: Tháng 3 - 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập tại Mát-xcơ-va để lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới.
  • Nước Nga và Liên Xô: Từ năm 1918 đến năm 1920, nước Nga tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng chống thù trong giặc ngoài. Năm 1922, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chính thức được thành lập.
2. Giai đoạn 1924-1929: Sự ổn định tạm thời và xây dựng chủ nghĩa xã hội
  • Các nước tư bản: Kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ và ổn định tạm thời về chính trị. Đặc biệt, kinh tế Mỹ bước vào thời kì "hoàng kim" với sản lượng công nghiệp tăng trưởng vượt bậc.
  • Liên Xô: Bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1928, Liên Xô thực hiện các kế hoạch 5 năm nhằm công nghiệp hoá và tập thể hoá nông nghiệp, đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và giáo dục.
3. Giai đoạn 1929-1939: Khủng hoảng kinh tế thế giới và nguy cơ chiến tranh
  • Đại suy thoái (1929-1933): Cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ từ Mỹ rồi lan rộng ra toàn thế giới tư bản, tàn phá nặng nề nền kinh tế và gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội.
  • Sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít: Để thoát khỏi khủng hoảng, một số nước như Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản đã đi theo con đường phát xít hoá bộ máy nhà nước, thiết lập chế độ độc tài và chuẩn bị chiến tranh để chia lại thế giới.
  • Chính sách Mới của Mỹ: Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã thực hiện Chính sách mới nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng và duy trì chế độ dân chủ tư sản.
4. Giai đoạn 1939-1945: Chiến tranh thế giới thứ hai
  • Giai đoạn 1 (1939 - tháng 11/1942): Chiến tranh bùng nổ và lan rộng khắp thế giới. Phe Phát xít (Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản) liên tục tấn công và chiếm đóng phần lớn châu Âu và một phần châu Á.
  • Giai đoạn 2 (tháng 11/1942 - tháng 8/1945): Phe Đồng minh (với trụ cột là Liên Xô, Mỹ, Anh) chuyển sang phản công. Chiến thắng tại Xta-lin-grat (11/1942 - 2/1943) tạo nên bước ngoặt của cuộc chiến. Chiến tranh kết thúc với sự đầu hàng không điều kiện của phát xít Đức (tháng 5/1945) và phát xít Nhật (tháng 8/1945).
Thắng lợi của phe Đồng minh đã giúp nhân loại thoát khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát xít và tạo ra những biến chuyển căn bản trong tình hình thế giới sau đó
 

Chính sách mới của Ru-dơ-ven có tác động gì tới kinh tế Mỹ?​


Chính sách mới (New Deal) của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã tạo ra những tác động tích cực và mang tính quyết định đối với nền kinh tế Mỹ trong bối cảnh cuộc đại suy thoái (1929 – 1933). Dựa trên các nguồn tài liệu, những tác động chính bao gồm:
  • Phục hồi các ngành kinh tế trọng yếu: Chính sách mới bao gồm các biện pháp nhằm phục hồi sự phát triển của các ngành kinh tế, tài chính và đặc biệt là thực hiện cải tổ hệ thống ngân hàng.
  • Giải quyết vấn đề việc làm và an sinh xã hội: Chính sách này đã tập trung giải quyết nạn thất nghiệp bằng cách tạo thêm nhiều việc làm mới, giúp ổn định đời sống của hàng chục triệu người lao động vốn đang rơi vào cảnh khốn cùng do khủng hoảng.
  • "Cứu nguy" cho hệ thống kinh tế Mỹ: Quan trọng nhất, các biện pháp này đã giúp nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại suy thoái, góp phần "cứu nguy" cho chủ nghĩa tư bản và duy trì được chế độ dân chủ tư sản.
  • Ổn định tình hình chung: Nhờ sự can thiệp của nhà nước thông qua các biện pháp kinh tế - tài chính, tình hình chính trị và xã hội của nước Mỹ đã dần được ổn định trở lại sau giai đoạn bị chấn động dữ dội.
Tóm lại, Chính sách mới không chỉ là một kế hoạch phục hồi kinh tế đơn thuần mà còn là công cụ giúp nước Mỹ tránh khỏi sự sụp đổ hoàn toàn về kinh tế và xã hội trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

Chi tiết về Chính sách mới của Tổng thống Ru-dơ-ven​

Chính sách mới (New Deal) là một hệ thống các biện pháp kinh tế - xã hội do Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven thực hiện nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc Đại suy thoái (1929 – 1933). Dưới đây là các chi tiết cụ thể về nội dung và tác động của chính sách này:
1. Nội dung chính của Chính sách mới
Để giải quyết cuộc khủng hoảng trầm trọng đã làm chấn động dữ dội nền kinh tế, tài chính Mỹ, Chính sách mới tập trung vào các nhóm biện pháp sau:
  • Giải quyết nạn thất nghiệp: Đây là ưu tiên hàng đầu để ổn định xã hội. Chính phủ đã tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động.
  • Phục hồi kinh tế - tài chính: Thực hiện các biện pháp để vực dậy các ngành kinh tế trọng yếu đang bị đình trệ.
  • Cải tổ hệ thống ngân hàng: Đây là bước đi quan trọng để khôi phục niềm tin vào hệ thống tài chính quốc gia.
  • Ổn định tình hình xã hội: Thông qua các chính sách an sinh và can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào đời sống kinh tế để giảm bớt mâu thuẫn giai cấp và sự khốn cùng của người dân.
2. Tác động và ý nghĩa
Chính sách mới không chỉ giúp nước Mỹ vượt qua khủng hoảng mà còn để lại những hệ quả lâu dài:
  • Cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản: Chính sách này đã giúp nền kinh tế Mỹ hồi phục và ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tư bản chủ nghĩa tại đây.
  • Duy trì chế độ dân chủ tư sản: Trong khi nhiều quốc gia khác (như Đức, Nhật Bản) chọn con đường phát xít hóa để thoát khỏi khủng hoảng, nước Mỹ dưới thời Ru-dơ-ven vẫn duy trì được chế độ dân chủ tư sản.
  • Ổn định chính trị và xã hội: Tình hình chính trị và xã hội của nước Mỹ dần được ổn định trở lại sau những biến động dữ dội của thời kì suy thoái.
  • Thay đổi vai trò của Nhà nước: Hình ảnh "người khổng lồ" tượng trưng cho Nhà nước trong các bức tranh biếm họa đương thời cho thấy vai trò can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ vào nền kinh tế để điều tiết và quản lí.
Ngoài ra, trong bối cảnh thực hiện Chính sách mới về nội trị, vào năm 1933, Chính phủ Ru-dơ-ven cũng đã có bước đi quan trọng về đối ngoại khi chính thức công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô
 
Sửa lần cuối:

Tại sao Đức và Nhật chọn con đường phát xít?​


Việc Đức và Nhật Bản lựa chọn con đường phát xít hóa bộ máy nhà nước chủ yếu xuất phát từ những tác động khủng khiếp của cuộc Đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933) và những đặc điểm riêng biệt về nguồn lực của hai quốc gia này vào thời điểm đó.
Dưới đây là các nguyên nhân chính được rút ra từ nguồn tài liệu:
  • Tác động của cuộc đại suy thoái kinh tế: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ từ năm 1929 đã tàn phá nặng nề nền kinh tế của cả Đức và Nhật Bản.
    • Tại Đức, để đối phó với khủng hoảng và phong trào cách mạng của quần chúng đang dâng cao, giai cấp tư sản cầm quyền đã quyết định đưa Hít-le lên làm Thủ tướng (năm 1933), thiết lập chế độ độc tài.
    • Tại Nhật Bản, cuộc khủng hoảng đã giáng đòn nặng nề: sản lượng công nghiệp giảm 32,5%, ngoại thương giảm 80% vào năm 1931, dẫn đến mâu thuẫn xã hội gay gắt.
  • Thiếu hụt nguồn lực và thị trường: Khác với các nước như Mỹ, Anh, Pháp (vốn có nhiều thuộc địa, vốn và thị trường để thực hiện cải cách dân chủ), Đức và Nhật Bản là những nước có ít hoặc không có thuộc địa. Do đó, họ rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và thiếu thị trường tiêu thụ trầm trọng.
  • Mục tiêu giải quyết khủng hoảng bằng chiến tranh: Để thoát khỏi bế tắc kinh tế, giới cầm quyền ở cả hai nước đã chọn con đường phát xít hóa, quân sự hóa bộ máy nhà nước nhằm:
    • Thiết lập chế độ độc tài cực đoan để kiểm soát tình hình trong nước.
    • Phát động các cuộc chiến tranh xâm lược để chia lại thế giới, chiếm lấy tài nguyên và thị trường của các quốc gia khác.
Cụ thể, ngay từ năm 1927, Thủ tướng Nhật Bản Ta-na-ca đã đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới. Trong khi đó, tại châu Âu, Đức cũng nhanh chóng biến thành một "lò lửa chiến tranh" sau khi phe phát xít nắm quyền.
 

Tại sao Mỹ thiết lập ngoại giao với Liên Xô năm 1933?​


Việc Mỹ chính thức công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô vào năm 1933 là một bước ngoặt quan trọng trong chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven, chấm dứt lập trường đối đầu kéo dài từ thập niên trước đó,.
Dưới đây là những bối cảnh và lý do dẫn đến quyết định này dựa trên các nguồn tài liệu:
  • Sự thay đổi về chính quyền và tư tưởng tại Mỹ: Trong suốt những năm 20 của thế kỉ XX, Đảng Cộng hòa nắm quyền tại Mỹ luôn giữ lập trường chống Liên Xô quyết liệt. Tuy nhiên, sau thắng lợi của Đảng Dân chủ và sự lên nắm quyền của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven vào năm 1932, nước Mỹ đã có những điều chỉnh lớn về cả nội trị và đối ngoại để thích ứng với tình hình mới.
  • Tác động của cuộc Đại suy thoái (1929 – 1933): Cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng đã khiến nước Mỹ phải tập trung vào công cuộc phục hồi thông qua Chính sách mới (New Deal). Việc thiết lập quan hệ với Liên Xô nằm trong tổng thể các thay đổi chính sách của chính quyền Ru-dơ-ven nhằm tìm kiếm những hướng đi mới trong quan hệ quốc tế,.
  • Thực hiện Chính sách láng giềng thân thiện: Việc đặt quan hệ với Liên Xô diễn ra song song với việc Mỹ thực hiện "Chính sách láng giềng thân thiện" đối với các nước Mỹ La-tinh, cho thấy một xu thế ngoại giao cởi mở và linh hoạt hơn của Mỹ vào thời điểm đó nhằm tăng cường vị thế và sự ổn định.
  • Sự lớn mạnh của Liên Xô: Trong khi các nước tư bản rơi vào khủng hoảng, Liên Xô lại đạt được những thành tựu rực rỡ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành một cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu. Thực tế này khiến Mỹ không thể tiếp tục phớt lờ sự hiện diện và vai trò của Liên Xô trên trường quốc tế,.
Như vậy, việc thiết lập quan hệ ngoại giao này phản ánh sự chuyển đổi từ chính sách cô lập, chống đối sang chính sách thực tiễn và hợp tác hơn của nước Mỹ dưới thời Tổng thống Ru-dơ-ven
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top