Vì Sao Các Quốc Gia Đông Nam Á Quyết Định “Bắt Tay” Thành Lập ASEAN?

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á lần lượt giành được độc lập và bước vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Tuy nhiên, khu vực này cũng phải đối mặt với không ít khó khăn như bất ổn chính trị, xung đột và những thách thức về kinh tế. Trong bối cảnh đó, nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực ngày càng trở nên cấp thiết nhằm duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển chung.Chính từ yêu cầu đó, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập vào năm 1967, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình liên kết khu vực. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, ASEAN ngày càng khẳng định vai trò là một tổ chức hợp tác khu vực năng động, góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á cũng như trên thế giới.

LỊCH SỬ 12 BÀI 4: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á (ASEAN)

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Quá trình hình thành và mục đích thành lập của ASEAN
a. Quá trình hình thành
- Sau khi giành độc lập dân tộc
, các quốc gia Đông Nam Á từng bước xây dựng và phát triển kinh tế, đưa tới nhu cầu hợp tác khu vực. Điều này cũng được thúc đẩy bởi sự phát triển của xu thế khu vực hoá trên thế giới xuất hiện từ những năm 50, 60 của thế kỉ XX.
- Trong bối cảnh nhiều nước Đông Nam Á muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài, đồng thời thúc đẩy hợp tác và tương trợ lẫn nhau, từ những năm 60 của thế kỉ XX, một số tổ chức khu vực đã ra đời ở Đông Nam Á, như:
+ Năm 1961: Ma-lai-xi-a, Thái Lan và Phi-lip-pin thoả thuận thành lập Hiệp hội Đông Nam Á (ASA).
+ Năm 1963: Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a thoả thuận thành lập tổ chức MAPHILINDO.
+ Năm 1966: Ngoại trưởng Thái Lan gửi ngoại trưởng các nước Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin và Xin-ga-po dự thảo về việc thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.

- Ngày 8-8-1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với năm nước sáng lập là In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan.
b. Mục đích thành lập của ASEAN
- Tổ chức ASEAN ra đời hướng tới những mục đích chính sau:
+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua hợp tác, hướng tới một Đông Nam Á hoà bình và thịnh vượng.
+ Thúc đẩy hoả bình, ổn định khu vực thông qua tôn trọng công lí và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước thành viên, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc.
+ Thúc đẩy hợp tác, tích cực giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, kĩ thuật, hành chính.
2. Hành trình phát triển của ASEAN
a. Từ ASEAN 5 (1967) đến ASEAN 10 (1999)

- Trong giai đoạn 1967 - 1999, ASEAN đã phát triển từ ASEAN 5 lên ASEAN 10.
+ 1967: ASEAN được thành lập (5 nước thành viên)
+ 1984: Bru-nây gia nhập ASEAN (thành viên thứ 6)
+ 1995: Việt Nam gia nhập ASEAN (thành viên thứ 7)
+ 1997: Lào và Mi-an-ma gia nhập ASEAN (thành viên thứ 8, thứ 9)
+ 1999: Cam-pu-chia gia nhập ASEAN (thành viên thứ 10)
- Việc 10 nước trong khu vực trở thành thành viên ASEAN đánh dấu bước phát triển trong liên kết khu vực ở Đông Nam Á.

b. Các giai đoạn phát triển chính của ASEAN
- Giai đoạn từ 1967 đến 1976:

+ Thành lập và bước đầu phát triển về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động.
+ Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN là cơ chế hoạch định chính sách cao nhất.
+ Năm 1971, ASEAN ra Tuyên bố về khu vực hoà bình, tự do và trung lập.
+ Hiệp ước Bali được kí kết năm 1976 là sự kiện đánh dấu bước ngoặt của ASEAN, thể hiện cam kết cao nhất của các nước thành viên nhằm xây dựng hòa bình, hữu nghị, hợp tác trong khu vực.

- Giai đoạn từ 1976 đến 1999:
+ Thiết lập quan hệ chính trị ổn định trong khu vực, mở rộng thành viên và từng bước nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.
+ Từ sau Hiệp ước Ba-li (1976), Hội nghị Thượng đỉnh là cơ chế hoạch định chính sách cao nhất, Ban thư kí ASEAN được thành lập, có trụ sở tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a). ASEAN phát triển số lượng thành viên từ 5 lên 10 nước.
+ ASEAN cũng tham gia giải quyết nhiều vấn đề chính trị, an ninh lớn trong khu vực như vấn đề Cam-pu-chia.

- Giai đoạn từ 1999 đến 2015:
+ Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tăng cường hợp tác nội khối và hợp tác quốc tế, từng bước chuẩn bị cho sự ra đời của Cộng đồng ASEAN.
+ Năm 2007, Hiến chương ASEAN được thông qua.
- Giai đoạn từ 2015 đến nay:
+ Cộng đồng ASEAN được xây dựng và phát triển với ba trụ cột chính là Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hoá - Xã hội.
+ ASEAN tăng cường hợp tác và kết nối khu vực, đồng thời không ngừng nâng cao vị thế trong khu vực và trên thế giới.

Thời gian
Quan hệ Việt Nam - ASEAN
1967-1973
Quan hệ căng thẳng giữa hai phía (vì Phi-líp-pin và Thái Lan là hai thành viên của SEATO).
1973-1978
Sau Hiệp định Pa-ri (1973), Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao với Thái Lan và Phi-líp-pin. Hai bên đã bắt đẩu thăm viếng ngoại giao và hợp tác song phương, đa phương trên nhiều lĩnh vực.
1979-1989
Quan hệ căng thẳng, đối đầu vì vấn đề Cam-pu-chia, các quan hệ bị ngưng trệ.
1989-1992
Quan hệ dẩn được cải thiện theo hướng chuyển từ đổi đẩu sang đối thoại hợp tác phát triển cùng tổn tại hoà bình với ba nước Đông Dương, diễn ra các cuộc tiếp xúc trao đổi, hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học, khối lượng đẩu tư ASEAN vào Việt Nam tăng.
1992-1995
Tháng 7 - 1922, Việt Nam trở thành quan sát viên của ASEAN. Ngày 28 - 7 - 1995, Việt Nam chính thức gia nhập, thúc đẩy xu thế hoà bình ổn định và hợp tác với ASEAN.

Từ khi được thành lập năm 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã không ngừng mở rộng và phát triển, trở thành một tổ chức hợp tác khu vực quan trọng ở Đông Nam Á. Thông qua các hoạt động hợp tác trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa và an ninh, ASEAN đã góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định và thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia trong khu vực.Ngày nay, ASEAN không chỉ giữ vai trò quan trọng trong khu vực mà còn ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Việc tìm hiểu về ASEAN giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sức mạnh của sự đoàn kết và hợp tác giữa các quốc gia, đồng thời nhận thức được trách nhiệm của mỗi quốc gia trong việc cùng nhau xây dựng một khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

CÁC BẠN CÓ THỂ XEM THÊM :​

Ai Đang Nắm Quyền Lực Trong Thế Giới Sau 1991?

 
B. CÂU HỎI MỞ RỘNG

Câu 1. Hãy trình bày những biến đổi quan trọng của các nước Đông Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Theo anh (chị), trong những biến đổi đó thì biến đổi nào là quan trọng nhất? Vì sao?

a. Những biến đổi quan trọng của các nước Đông Nam Á

- Biến đổi thứ nhất: (về chính trị):
Các nước Đông Nam Á từ chỗ là những nước thuộc địa và phụ thuộc, trở thành những quốc gia độc lập, có chủ quyền

+ Ngay khi Nhật Bản đầu hàng các nước đồng minh, nhân dân Đông Nam Á đã nhanh chóng nổi dậy giành chính quyền, tiêu biểu là ở Inđônêxia, Việt Nam và Lào. Nhưng sau đó, các nước thực dân phương Tây tiến hành tái chiếm thuộc địa, phong trào đấu tranh giành độc lập tiếp tục phát triển

+ Tới giữa những năm 50, nhiều nước Đông Nam Á đã giành được độc lập (Philippin, Miến Điện, Inđônêxia, Mã Lai,......). Tháng 7/1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia giành thắng lợi với Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết. Năm 1975, các nước Đông Dương thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

- Biến đổi thứ hai (về kinh tế): Từ sau khi giành lại độc lập, các nước Đông Nam Á đều ra sức xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; từ chỗ nền kinh tế lệ thuộc, nghèo nàn, lạc hậu, đến chỗ ngày càng phát triển mạnh, đạt nhiều thành tựu to lớn, tiêu biểu như: Xingapo, Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia, đặc biệt là Xingapo có nền kinh tế phát triển nhất khu vực Đông Nam Á và được xếp vào hàng các nước phát triển trên thế giới.

- Biến đổi thứ ba: (về quan hệ giữa các nước trong khu vực: từ đối đầu chuyển sang đối thoại, hợp tác, hội nhập và phát triển trong ASEAN. Đến tháng 4/1999, ASEAN có 10 nước thành viên, nhằm mục tiêu xây dựng một cộng đồng hùng mạnh ở Đông Nam Á.

b. Biến đổi quan trọng nhất là biến đổi về chính trị: Từ những nước thuộc địa trở thành những quốc gia độc lập có chủ quyền, vì nếu không có nền độc lập dân tộc thì không thể có những biến đổi về kinh tế và quan hệ đối ngoại

Câu 2. Tác động của những quyết định quan trọng của Hội nghị Ianta đến khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

- Hội nghị Ianta (2/1945) đã quyết định tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít nhanh chóng kết thúc chiến tranh… Ở châu Á, với việc chủ nghĩa phát xít Nhật bị tiêu diệt đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho các nước Đông Nam Á nổi dậy giành chính quyền thành lập các quốc gia độc lập như Inđônêxia, Việt Nam, Lào…

- Với các quyết định quan trọng của hội nghị: các vùng còn lại của Châu Á (Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước Phương Tây…

- Tạo điều kiện cho các nước tư bản phương Tây trở lại thống trị các nước Đông Nam Á, thực dân Pháp trở lại ba nước Đông Dương, Anh trở lại Xingapo…như vậy nhân dân các nước này phải tiếp tục đấu tranh chống thực dân, đế quốc. Các nước đế quốc phương Tây cuối cùng cũng phải tuyên bố công nhận, trao trả độc lập cho các dân tộc.

Câu 3. Sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN:

a. Hoàn cảnh ra đời:


- Sau hơn 20 năm đấu tranh giành và bảo vệ độc lập, các nước trong khu vực Đông Nam Á bước vào thời kì ổn định và phát triển kinh tế, nhiều nước có nhu cầu hợp tác với nhau để cùng giải quyết khó khăn và phát triển.

- Trong bối cảnh Mĩ ngày càng sa lầy trên chiến trường Đông Dương, các nước ĐNA muốn liên kết lại nhằm giảm bớt sức ép của các nước lớn.

- Sự xuất hiện và phát triển của các tổ chức hợp tác mang tính khu vực trên thế giới, tiêu biểu là EEC đã thúc đẩy sự liên kết giữa các nước ĐNA.

- Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia ĐNA (ASEAN) thành lập tại Băng Cốc với sự tham gia của 5 nước là Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Thái Lan và Philippin.

b. Quá trình phát triển:

- Mục đích của ASEAN:
Được thể hiện qua các bản tuyên bố:1. Tuyên bố Băng Cốc năm 1967, nêu rõ mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế và văn hoá thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hoà bình và ổn định khu vực. 2- Tuyên bố Kualalămpua (1971) đưa ra đề nghị xây dựng ĐNA thành khu vực hoà bình, tự do, trung lập. 3- Hiệp ước Bali (1976) xác định mục tiêu xây dựng mối quan hệ hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo nên cộng đồng ĐNA hùng mạnh.

- Trong giai đoạn đầu (Từ năm 1967 đến 1975), ASEAN là tổ chức còn non trẻ, quan hệ hợp tác lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế.

- Hội nghị cấp cao Bali (Tháng 2-1976) các nước kí Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác xây dựng nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước:

1- Tôn trọng độc lập và chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau;

2- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

3- Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình;

4- Hợp tác, giúp đỡ nhau cùng phát triển;

5 - Không sử dụng vũ lực và đe doạ bằng vũ lực đối với nhau.

- Hiệp ước Bali mở ra thời kì mới trong quan hệ giữa các nước thành viên và giữa ASEAN với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN được cải thiện, thể hiện ở việc thiết lập quan hệ ngoại giao và những chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo cấp cao.

- Từ đầu những năm 90, chiến tranh lạnh chấm dứt và “vấn đề Campuchia” được giải quyết, ASEAN có điều kiện phát triển.

- Mở rộng thành viên ASEAN:

+ Năm 1984 Brunây gia nhập ASEAN.

+ Từ nửa sau thập niên 90, ASEAN mở rộng hợp tác khu vực: 1995 Việt Nam trở thành viên thứ bảy; 1997: Lào và Mianma gia nhập ASEAN; 1999 kết nạp Campuchia.

- Đẩy mạnh hoạt động hợp tác xây dựng một cộng đồng ASEAN về kinh tế, an ninh và văn hoá: Quyết định thành lập một khu vực mậu dịch tự do (AFTA) (1992); lập diễn đàn khu vực (ARF) với sự tham gia của 23 nước trong và ngoài khu vực (1993); chủ động đề xuất diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM); tích cực tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC); kí kết bản Hiến chương ASEAN nhằm xây dựng ASEAN thành một cộng đồng vững mạnh, có vị thế cao và hiệu quả hơn.

- Trong quá trình phát triển và hội nhập ASEAN đạt được nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế các nước thành viên phát triển mạnh, với tư cách là một tổ chức liên minh chính trị -kinh tế, ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xây dựng thành khu vực hoà bình, ổn định và phát triển, mở rộng quan hệ quốc tế và ngày càng nâng cao địa vị quốc tế của ASEAN

c. Thời cơ và thách thức của Việt Nam

-
Thời cơ:


+ Nền kinh tế Việt Nam được hội nhập với nền kinh tế khu vực. Tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam rút ngắn khoảng cách giữa các nước trong khu vực.

+ Việt Nam tiếp thu những thành tựu cách mạng khoa học kĩ thuật tiên tiến trên thế giới, có điều kiện hợp tác với các nước về văn hoá, giáo dục, văn học, nghệ thuật,..

+ Tạo những điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ hoà bình và an ninh khu vực, qua đó góp phần bảo vệ nền độc lập dân tộc

- Thách thức:

+ Nếu không nắm bắt được cơ hội, ta sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế, dễ bị đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.

+ Sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế giữa các nước, trong khi xuất phát điểm của Việt Nam thấp hơn các nước.

Câu 4. Những yếu tố làm cho ASEAN mở rộng thành viên trên toàn ĐNA? Hiện nay VN và ĐNA cần làm gì để đảm bảo hoà bình và an ninh biển Đông?

a. Những yếu tố làm cho ASEAN mở rộng thành viên trên toàn ĐNA.


- Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia ĐNA (ASEAN) thành lập tại Băng Cốc với sự tham gia của 5 nước là Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Thái Lan và Philippin. Năm 1984 Brunây gia nhập ASEAN. Từ nửa sau thập niên 90, ASEAN mở rộng hợp tác khu vực: 1995 Việt Nam trở thành viên thứ bảy; 1997: Lào và Mianma gia nhập ASEAN; 1999 kết nạp Campuchia trở thành, thành viên thứ mười của tổ chức này.

- Các nước ĐNA giành độc lập dân tộc hoàn toàn.

- Các nước ĐNA có một nền kinh tế không cách biệt nhau lắm và từ lâu đã liên hệ, trao đổi kinh tế, văn hoá với nhau.

- Tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và xu hướng toàn cầu hoá làm cho các nước ĐNA có xu hướng liên kết về kinh tế và chính trị.

- Sau khi giành độc lập, do nền kinh tế đã bắt đầu phát triển các nước ĐNA ngày càng muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào các nước lớn. Các nước ĐNA đứng riêng lẻ không thể đọ sức được với các nước lớn, họ cần phải liên kết cùng nhau trong cuộc cạnh tranh với các nước ngoài khu vực.

b. VN và ĐNA cần làm gì để đảm bảo hoà bình và an ninh biển Đông?

- Căn cứ vào các nguyên tắc trong hiến chương Liên hợp quốc; các nguyên tắc trong hiệp ước Bali (1976): tôn trọng quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước.

- Căn cứ vào Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc.

- Căn cứ vào tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)(được ASEAN và Trung Quốc kí năm 2002 tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VIII ở Camphuchia).

- Các nước ĐNA dựa vào các nguyên tắc tính chất pháp lí nói trên để đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lí, lên án mạnh mẽ mọi hành động xâm phạm chủ quyền, đặc biệt là chủ quyền biển đảo, qua đó đấu tranh đòi được tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, phù hợp pháp lí quốc tế.

- Việt Nam đoàn kết với các nước ĐNA, cùng các nước trong khu vực thể hiện trách nhiệm chung để đảm bảo hoà bình và an ninh ở biển Đông.

Câu 5. Tại sao nói từ đầu những năm 90, một thời kì mới đã mở ra cho các nước Đông Nam Á.

a. Trước những năm 90


+ Nhật đầu hàng đồng minh các nước Đ.N.Á nổi dậy giành chính quyền, 1967 thành lập tổ chức ASEAN để hợp tác phát triển kinh tế

+ Cuối những năm 70 đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX ASEAN thực hiện chính sách đối đầu với các nước Đông Dương

+ Giữa thập niên 80, khi vấn đề Cam-pu-chia dần được giải quyết, các nước này đã bắt đầu quá trình đối thoại, hòa dịu.

b. Đầu những năm 90

+ Từ đầu những năm 90 thế kỷ XX “Chiến tranh lạnh” và vấn đề Cam pu chia được giải quyết, tình hình chính trị được cải thiện, xu hướng nổi bật là mở rộng thành viên của ASEAN

+ Kết nạp thêm Việt Nam (1995), Lào và Mianma (1997), Cam-pu-chia (1999).

+ Trên cơ sở đó, ASEAN đã chuyển trọng tâm sang hoạt động kinh tế. ..

+ 1992 ASEAN quyết định trong vòng 10 - 15 năm biến Đ.N.Á thành khu vực mậu dịch tự do (AFTA)

+ Năm 1994, ASEAN lập diễn đàn khu vực ARF với sự tham gia của 23 quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm tạo môi trường hòa bình ổn định cho công cuộc hợp tác phát triển của Đ.N.Á.

=> Như vậy từ một thời kì mới đã mở ra cho khu vực Đ.N.Á.

Câu 6: Việc mở rộng thành viên của ASEAN diễn ra lâu dài và đầy trở ngại? Vì sao từ khi thành lập đến nay A lại coi trọng vấn đề an ninh- chính trị? VN có vai trò như thế nào trong việc bảo vệ hoà bình, an ninh khu vực.

Việc mở rộng thành viên


- Các nước Đông Nam Á muốn gia nhập ASEAN thì điều kiện đầu tiên phải giành độc lập dân tộc và tình hình chính trị phải ổn định. Quá trình giành độc lập của Đông Nam Á kéo dài: Việt Nam, Lào, Camphuchia (1975), Brunay (1984),…

- Do tác động của chiến tranh lạnh đã chia rẽ 2 khối nước (5 nước sáng lập ASEAN và khối 3 nước Đông Dương) từ đó ngăn cản sự tham gia của các nước Đông Dương.

- Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt thì lại có vấn đề Camphuchia nổi lên, đây là một sự bất ổn khu vực, thậm chí dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông Dương và ASEAN.

- Năm 1976, Hiệp ước Bali được kí kết, mở ra thời kì mới trong quan hệ giữa ASEAN với các nước còn lại trong khu vực Đông Nam Á. Từ đó quan hệ giữa 2 nhóm nước ở ĐNA được cải thiện.

Coi trọng vấn đề an ninh- chính trị

- ASEAN ra đời trong bối cảnh lạnh đang bao trùm khắp thế giới, cuộc chiến tranh ấy cũng đang tác động đến khu vực Đông Nam Á, đe doạ an ninh chính trị của các nước trong khu vực.

- Cuộc chiến tranh của Mĩ đang diễn ra quyết liệt ở Đông Dương, tình hình ấy đã đặt các nước ASEAN phải coi trọng vấn đề an ninh chính trị.

- ASEAN ra đời nhằm bảo vệ cho sự ổn định và phát triển kinh tế cho nên họ rất e ngại sự can thiệp của các nước lớn vào khu vực, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và cũng để đối phó với áp lực của các nước khác ( Mĩ, Nhật).

- Tình hình khu vực cũng không ổn định.

+ Cuộc chiến tranh Đông Dương từ giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 có ảnh hưởng lớn đến các nước này.

+ Khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, từ năm 1979 - 1993, vấn đề Camphuchia lại nổi lên, đây là một sự bất ổn khu vực, thậm chí dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông Dương và ASEAN.

- Vấn đề khủng bố của các phần tử Hồi giáo cực đoan cũng đang là nỗi ám ảnh đối với khu vực.

- Vấn đề tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biển đảo giữa các nước Đông Nam Á với nhau, giữa các nước ĐNA với các nước ngoài khu vực.

- Vấn đề an ninh chính trị luôn được các nước ĐNA coi trọng trong mọi thời kì, cả thời kì chiến tranh lạnh và sau chiến tranh lạnh.

VN có vai trò như thế nào trong việc bảo vệ hoà bình, an ninh khu vực.

-
VN đã chủ động đề xuất và thúc đẩy ASEAN xây dựng nhiều quyết sách, định hướng sức mạnh chung để cùng nhau ứng phó với những thách thức, nhất là các thách thức về an ninh chính trị ở khu vực Đông Nam Á, nhằm bảo vệ an ninh, hoà bình cho khu vực và quốc tế.

- Năm 1998, VN đã đăng cai tổ chức thành công hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6, với việc thông qua chương trình hành động Hà Nội và tuyên bố về thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước trong Hiệp hội. Kết quả này đã góp phần định hướng sự phát triển ASEAN, đồng thời giúp ASEAN vượt qua cuộc khủng khoảng tài chính khu vực,v.v…

- Trong vai trò chủ tịnh ASEAN năm 2010,VN khởi xướng và chủ trí thành công Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nướcASEAN mở rộng lần thứ nhất. Với sự đồng thuận của các quốc gia thành viên trong việc triển khai hoạt động trên lĩnh vực ưu tiên hợp tác về an ninh biển, hỗ trợ nhân đạo và cức trợ thảm hoạ, chống khủng bố và gìn giữ hoà bình.

- Với vai trò của mình, VN đã góp phần cùng các nước thành viên ASEAN chuyển mạnh từ tư duy “ tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp” xây dựng, góp phần quan trọng vào việc duy trì, hoà bình, an ninh, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

- Về vấn đề biển Đông, VN luôn tích cực đề cao tầm quan trọng của việc duy trì hoà bình, ổn định, an ninh và an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở biển Đông, tuân thủ luật pháp quốc tế; kiềm chế và không làm phức tạp tình hình; không sử dụng vũ lực và đe doạ vũ lực; giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và công ước của Liên hợp quốc về Luật biển.
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top