Từ Hội Nghị Hội nghị Ianta Đến Trật Tự Thế Giới Hai Cực

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới bước sang một giai đoạn lịch sử mới với nhiều biến đổi sâu sắc. Từ những thỏa thuận của Hội nghị Ianta, một trật tự thế giới mới dần hình thành, trong đó hai siêu cường là Hoa Kỳ và Liên Xô giữ vai trò chi phối.Sự đối đầu về chính trị, quân sự và tư tưởng giữa hai cường quốc này đã mở ra thời kì Chiến tranh lạnh – một cuộc cạnh tranh căng thẳng kéo dài nhiều thập kỉ, ảnh hưởng sâu rộng đến tình hình quốc tế. Tìm hiểu về trật tự thế giới trong thời kì Chiến tranh lạnh sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những biến động lớn của thế giới hiện đại và tác động của chúng đối với lịch sử nhân loại.

LỊCH SỬ 12 BÀI 2. TRẬT TỰ THẾ GIỚI TRONG CHIẾN TRANH LẠNH

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Sự hình thành và tồn tại của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta

a. Sự hình thành Trật tự thế giới hai cực I-an-ta

- Đầu năm 1945:
Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra với các nước Đồng minh:

+ Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít

+ Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh

+ Phân chia quyền lợi giữa các nước thắng trận,...

- Từ ngày 4 đến ngày 11-2-1945: tại thành phố I-an-ta (Liên Xô) đã diễn ra hội nghị giữa ba cường quốc: Liên Xô, Mỹ, Anh.

- Hội nghị đưa ra nhiều quyết định quan trọng:

+ Thống nhất mục tiêu chung trong việc tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật

+ Thành lập tổ chức Liên hợp quốc để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế

+ Thoả thuận về việc phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa các nước lớn, chủ yếu là giữa Liên Xô và Mỹ ở châu Âu, châu Á sau chiến tranh.

- Tác động: Những quyết định của Hội nghị I-an-ta cùng những thoả thuận sau đó giữa ba cường quốc tại Hội nghị Pốt-xdam (Đức) tháng 7-1945 đã trở thành khuôn khổ của một trật tự thế giới mới, thường được gọi là “Trật tự thế giới hai cực I-an-ta”.

=> Trật tự thế giới hai cực I-an-ta hình thành đã chia thế giới thành hai cực đối lập: cực Liên Xô và cực Mỹ

b. Sự tồn tại Trật tự thế giới hai cực I-an-ta

Trật tự thế giới hai cực I-an-ta tồn tại từ năm 1945 đến năm 1991, chi phối toàn bộ đời sống chính trị thế giới trong nửa sau thế kỉ XX, trải qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn từ năm 1945 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX: Trật tự thế giới hai cực I-an-ta xác lập và phát triển với sự đối đầu về tư tưởng, chính trị, kinh tế, quân sự,... giữa một bên là cực Mỹ, đứng đầu hệ thống tư bản chủ nghĩa và một bên là cực Liên Xô, đứng đầu hệ thống XHCN.

+ Quan hệ quốc tế giữa hai cực trở nên căng thẳng khi Mỹ phát động cuộc Chiến tranh lạnh (1947) nhằm chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu.

+ Mỹ và Liên Xô tăng cường chạy đua vũ trang, thành lập liên minh quân sự ở nhiều khu vực, khiến thế giới luôn trong tình trạng căng thẳng. Các cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra ở nhiều nơi, tiêu biểu là chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp (1945 - 1954), chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ (1954-1975),...

- Giai đoạn từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX đến năm 1991: Trật tự thế giới hai cực I-an-ta xói mòn và đi đến sụp đổ.

+ Đầu những năm 70 của thế kỉ XX, Chiến tranh lạnh vẫn diễn ra nhưng xu thế hoà hoãn Đông - Tây bắt đầu xuất hiện. Liên Xô và Mỹ đạt được những thoả thuận bước đầu về hạn chế vũ khí chiến lược, tiến hành các cuộc cuộc gặp gỡ cấp cao.

+ Sự tan rã của Liên Xô năm 1991 đã chính thức chấm dứt sự tồn tại của Trật tự với hai cực I-an-ta.

2. Nguyên nhân, tác động của sự sụp đổ Trật tự thế giới hai cục I-an-ta

a. Nguyên nhân


- Nguyên nhân sụp đổ Trật tự thế giới hai cực I-an-ta:

+ Chạy đua vũ trang cả Liên Xô Mỹ tốn kém, suy giảm thế mạnh kinh tế buộc hai bên phải tự điều chỉnh, từng bước hạn chế căng thẳng.

+ Sự vươn lên của các nước trên thế giới nhằm thoát khỏi ảnh hưởng của hai cực tháng lợi của phong trào giải phóng dân tộc và sự ra đời của hàng loạt các quốc gia độc lập.

+ Sự thay đổi trong cán cân kinh tế thế giới, đặc biệt là sự nổi lên của Nhật Bản và các nước Tây Âu.

+ Xu thế hoà hoãn, toàn cầu hoá và ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba.

+ Sự khủng hoảng, suy yếu rồi tan rã của Liên Xô - quốc gia đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa.

b. Tác động

- Trật tự thế giới hai cực I-an-ta sụp đổ có tác động lớn đến thế giới, đưa tới xu thế phát triển mới, cụ thể là:

+ Trong quan hệ quốc tế, một trật tự thế giới mới dần hình thành theo xu thế đa cực. Mỹ tiếp tục là siêu cường có sức mạnh vượt trội, nhưng phạm vi ảnh hưởng bị thu hẹp ở nhiều nơi.

+ Trật tự thế giới hai cực I-an-ta sụp đổ đã mở ra chiều hướng và những điều kiện để giải quyết hoà bình các cuộc tranh chấp, xung đột như ở Áp-ga-ni-xtan, Cam-pu-chia, Na-mi-bi-a,...

+Sự sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta cũng tạo điều kiện cho các cường quốc mới nổi có vị trí, vai trò lớn hơn trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước lớn ở châu Âu.

+ Sự sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta còn có những tác động không nhỏ đến vấn đề dân tộc, bản sắc cộng đồng, tôn giáo,... ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu.

B. CÂU HỎI MỞ RỘNG

Câu 1. Sự hình thành và tồn tại của trật tự thế giới hai cực Ianta

a. Sự hình thành

*Nguyên nhân:


- Đầu năm 1945, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, có 3 vấn đề quan trọng đặt ra với các nước Đồng minh là: nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít; tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh; phân chia thành quả giữa các nước thắng trận.

- Từ 4-11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại Ianta ( Liên Xô) với sự tham gia của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mĩ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên.

*Những quyết định quan trọng của Hội nghị:

- Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, trong thời gian từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á.

- Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới.

- Thoả thuận việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.

+ Châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Beclin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây Đức, tây Beclin và các nước Tây Âu; Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô; Vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ; Áo và Phần Lan là hai nước trung lập.

+ Châu Á:

- Hội nghị Ianta đã chấp nhận những điều kiện của Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật ở Châu Á: giữ nguyên hiện trạng Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin và các đảo xung quanh; quốc tế hóa thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khôi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận, Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu – Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin.

+ Nhật Bản bị quân đội Mĩ chiếm đóng. Ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới.

+ Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất và dân chủ; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả lại cho Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ.

+ Các vùng còn lại của châu Á (Tây Á, Nam Á, Đông Nam Á), vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

* Nhận xét chung:

- Tuy là thoả thuận của ba cường quốc nhưng thực chất là sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa Mĩ và Liên Xô.

- Thực chất của Hội nghị Iatan là sự phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng giữa các nước thắng trận, có liên quan tới hoà bình, an ninh và trật tự thế giới về sau.

- Toàn bộ những quyết định của hội nghị Ianta cùng những thoả thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước thiết lập trong những năm 1945-1947, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta. Theo đó, thế giới được chia thành 2 phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe.

- Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông – tây và cuộc chiến tranh lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp.

*Trên thực tế, việc thỏa thuận này được thực hiện châu Á như thế nào?

- Liên Xô được thỏa mãn các điều kiện: tham gia chiến tranh chống Nhật ở châu Á, tiêu diệt 70 vạn đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc.

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đưa quân chiếm đóng Nhật Bản: tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt Nhật, Nhật trở thành đồng minh chiến lược của Mĩ ở châu Á.

- Triều Tiên: quân đội Liên Xô, Mĩ tiến vào chiếm đóng hai miền bán đảo. Năm 1948, hai nhà nước riêng rẽ ra đời: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đại Hàn Dân Quốc. Chiến tranh Triều Tiên trong những năm (1950 - 1953), quan hệ hai nhà nước trên bán đảo phức tạp lúc hòa dịu, lúc căng thẳng.

- Trung Quốc: phần lớn thỏa thuận không thực hiện được. Sau chiến tranh chống Nhật, nội chiến Quốc – Cộng, Đảng Cộng sản Trung Quốc thắng lợi, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyền lợi của Liên Xô và ảnh hưởng của Trung Quốc bị mất đi. Các vùng còn lại của châu Á: các nước đế quốc quay lại tái chiếm thuộc địa => một số nước giành độc lập ngay sau chiến tranh không được công nhận, phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục kéo dài, quyết liệt.

- Việt Nam: Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai, núp sau quân Trung Hoa Dân quốc là quân Mĩ. Ở miền Nam, quân đội Anh dọn đường cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Chúng thỏa hiệp với quân Pháp tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam.

*Nhận xét về những thỏa thuận ở châu Á đó.

- Theo thỏa thuận ở châu Âu về cơ bản được thực hiện chặt chẽ, nhưng ở châu Á sớm bị vi phạm => Sự phân chia đối đầu hai cực, hai phe ở châu Á không rõ nét và không phân tuyến triệt để như ở châu Âu.

- Việc thực hiện các thỏa thuận đã tác động sâu sắc đến khu vực châu Á: Hồng quân Liên Xô đã tham chiến tiêu diệt 70 vạn quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc (Trung Quốc), buộc Nhật hoàng đầu hàng Đồng minh không điều kiện ngày 15/8/1945. Góp phần vào việc tiêu diệt phát xít Nhật, thúc đẩy nhanh việc kết thúc chiến tranh ở châu Á và toàn thế giới.

+ Nhật Bản từ kẻ thù trở thành đồng minh chiến lược của Mĩ, Triều Tiên bị chia cắt thành hai quốc gia lấy vĩ tuyến 38 làm giới tuyến: được sự giúp đỡ của Liên Xô ở miền Bắc Triều Tiên thành lập nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, được sự giúp đỡ của Mĩ ở miền Nam Triều Tiên thành lập nước Đại Hàn Dân Quốc, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á vẫn phải tiếp tục kéo dài.

b. Sự tồn tại của trật tự thế giới hai cực Ianta

- Sự tồn tại của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta gắn liền với sự hình thành hai hệ thống xã hội đối lập là tư bán chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa cùng những diễn biến của cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô - Mỹ.

- Trật tự thế giới hai cực I-an-ta trải qua hai giai đoạn:

+ Giai đoạn từ năm 1945 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX:

Trật tự thế giới hai cực I-an-ta xác lập và phát triển với sự đối dầu về tư tưởng, chính trị, kinh tế, quân sự,... giữa một bên là cực Mỹ, đứng đầu hệ thống tư bản chủ nghĩa và một bên là cực Liên Xô, đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Về chính trị: 1947, học thuyết Truman

Về kinh tế: Mỹ đề ra Kế hoạch Mác-san (1947)>< Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)- 1949

Về quân sự: Mỹ và …(NATO) 1949 >< Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va(1955).

Quan hệ quốc tế giữa hai cực trở nên căng thẳng khi Mỹ phát động cuộc Chiến tranh lạnh (1947) nhằm chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu =>khiến thế giới luôn trong tình trạng căng thẳng.

Các cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra ở nhiều nơi đều có sự tham gia hoặc ủng hộ của hai phe: TBCN và XHCN, đứng đầu là Mỹ và Liên Xô, tiêu biểu là chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp (1945 - 1954), chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ (1954 - 1975),...

+ Giai đoạn từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX đến năm 1991:

Trật tự thế giới hai cực I-an-ta xói mòn và đi đến sụp đổ.

Đầu những năm 70 của thế kỉ XX, Chiến tranh lạnh vẫn diễn ra nhưng xu thế hòa hoãn Đông - Tây bắt đầu xuất hiện.

Liên Xô và Mỹ đạt được những thỏa thuận bước đầu về hạn chế vũ khí chiến lược, tiến hành các cuộc cuộc gặp gỡ cấp cao.

Trật tự thế giới được hình thành sau Hội nghị Ianta đã mở ra một thời kì lịch sử đặc biệt với sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường là Hoa Kỳ và Liên Xô. Trong suốt nhiều thập kỉ của Chiến tranh lạnh, thế giới luôn ở trong trạng thái căng thẳng, cạnh tranh về chính trị, quân sự và ảnh hưởng quốc tế, tác động sâu sắc đến tình hình của nhiều khu vực và quốc gia. Mặc dù Chiến tranh lạnh đã kết thúc, nhưng những biến động của thời kì này đã để lại dấu ấn sâu đậm trong quan hệ quốc tế. Việc tìm hiểu trật tự thế giới trong Chiến tranh lạnh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự hình thành cục diện thế giới hiện đại, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của hòa bình, hợp tác và đối thoại trong việc duy trì ổn định và phát triển của nhân loại.

CÁC BẠN CÓ THỂ XEM THÊM :

Ai Đang Giữ “Chìa Khóa Hòa Bình” Của Thế Giới?

 
Câu 2: Vì sao các nước Đồng minh ( Liên Xô, Mĩ, Anh) lại tổ chức Hội nghị quốc tế Ianta (2/1945). Nêu và nhận xét những quyết định quan trọng của hội nghị này.

a. Lí do


- Đầu năm 1945, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, có 3 vấn đề quan trọng đặt ra với các nước Đồng minh là: nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít; tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh; phân chia thành quả giữa các nước thắng trận.

- Từ 4-11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại Ianta ( Liên Xô) với sự tham gia của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mĩ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên.

b. Những quyết định quan trọng của Hội nghị:

- Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, trong thời gian từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á.

- Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới.

- Thoả thuận việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.

+ Ở châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Beclin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây Đức, tây Beclin và các nước Tây Âu; Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô; Vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ; Áo và Phần Lan là hai nước trung lập.

+ Châu Á:

Hội nghị Ianta đã chấp nhận những điều kiện của Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật ở Châu Á: giữ nguyên hiện trạng Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin và các đảo xung quanh; quốc tế hóa thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khôi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận, Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu – Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin.

Nhật Bản bị quân đội Mĩ chiếm đóng. Ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới.

Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất và dân chủ; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả lại cho Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Các vùng còn lại của châu Á (Tây Á, Nam Á, Đông Nam Á), vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

c. Nhận xét chung:

- Tuy là thoả thuận của ba cường quốc nhưng thực chất là sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa Mĩ và Liên Xô.

- Thực chất của Hội nghị Iatan là sự phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng giữa các nước thắng trận, có liên quan tới hoà bình, an ninh và trật tự thế giới về sau.

- Toàn bộ những quyết định của hội nghị Ianta cùng những thoả thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước thiết lập trong những năm 1945-1947, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta. Theo đó, thế giới được chia thành 2 phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe.

- Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông – tây và cuộc chiến tranh lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp.

Câu 3: Phân tích nguyên nhân, đặc điểm và hệ quả của chiến tranh lạnh.

a. Phân tích nguyên nhân:


- Đó là sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc Liên Xô và Mĩ.

+ Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới.

+ Mĩ ra sức chống phá Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.

+ Mĩ lo ngại ảnh hưởng của Liên Xô và những thắng lợi của các cuộc cách mạng dân chủ nhân dân ở Đông Âu, đặc biệt là sự thành công của cách mạng Trung Quốc (1949). Chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, trải dài từ Đông Âu đến châu Á, ngăn cản mưu đồ bá chủ thế giới của Mĩ.

- Sau chiên tranh, Mĩ đã vươn lên thành một nước tư bản giàu mạnh nhất, vượt xa các nước tư bản khác, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử. Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới.

b. Đặc điểm:

- CT lạnh là chính sách thù địch, căng thẳng trong quan hệ giữa Mĩ và các nước phương Tây với Liên Xô và các nước XHCN. Đây là cuộc “chiến tranh không nổ súng” nhưng luôn gây ra tình trạng căng thẳng trên thế giới từ sau chiến tranh thế giới hai để thực hiện chính sách đối đầu của các nước đế quốc với Liên Xô và các nước XHCN.

- Nét nổi bật nhất của quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới hai là tình trạng hai cực, 2 phe chịu tác động của trật tự hai cực Xô – Mĩ.

C. Hệ quả.

- Sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường Xô- Mĩ mà đỉnh cao là cuộc chiến tranh lạnh, gây tình trạng căng thẳng, kéo dài và gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và chính trị không chỉ cho hai nước đó mà còn tác động đến hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

- Chiến tranh lạnh dẫn tới sự xác lập cục diện hai cực, hai phe do siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi cực, mỗi phe. Nội dung này trở thành nhân tố chủ yếu tác động và chi phối quan hệ quốc tế trong hơn 4 thập kỉ của nửa sau thế kỉ XX.

- Chiến tranh lạnh dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang trong nhiều năm qua giữa Mĩ và Liên Xô; các quốc gia dân tộc cũng bị lôi kéo đứng về một trong hai phe, tham gia vào các tổ chức chính trị- quân sự, kinh tế,..của 2 phe.

- Nhiều dân tộc bị lôi cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh lạnh, gây ra các cuộc chiến tranh cục bộ tàn khốc, đất nước bị chia cắt, tình trạng chạy đua vũ trang và sản xuất các loại vũ khí huỷ diệt, gây tình trạng bất ổn ở các khu vực.

Câu 4. Những sự kiện dẫn tới tình trạng chiến tranh lạnh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Theo em, cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của nhân dân ta có liên quan đến sự đối đầu của hai cực Xô – Mĩ hay không? Vì sao?

a. Sự kiện:


- Tháng 3/1947, trong thông điệp của tổng thống Mĩ Truman đọc trước Quốc hội Mĩ, đã khẳng định: Sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho hai nước Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì

- Tháng 6/1947, Mĩ đề ra “Kế hoạch Mácsan” với khoản viện trợ 17 tỉ USD giúp các nước Tây Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh…

- Tháng 1/1949, Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) để hợp tác và giúp đỡ nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa…

- Việc thực hiện “Kế hoạch Mácsan” của Mĩ và sự thành lập khối SEV của Liên Xô và các nước Đông Âu đã tạo nên sự đối lập về kinh tế, chính trị giữa các nước Tây Âu tư bản chủ nghĩa và Đông Âu xã hội chủ nghĩa…

- Tháng 4/1949, Mĩ thành lập khối quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)…

- Tháng 5/1955, Liên Xô và các nước Đông Âu đã thành lập Tổ chức Hiệp ước Vácsava

- Sự ra đời của NATO và Tổ chức Hiệp ước Vácsava là những sự kiện đánh dấu sự xác lập của cục diện hai cực, hai phe. Chiến tranh lạnh đã bao trùm toàn thế giới…

b. Hậu quả của Chiến tranh lạnh trong quan hệ quốc tế

- Một số quốc gia bị chia cắt thể hiện sự đối đầu của hai phe như: Cộng hòa Dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức; Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc,…

- Các cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra ở nhiều khu vực như Đông Nam Á, Triều Tiên, Trung Đông

- Hầu như mọi cuộc chiến tranh hoặc xung đột quân sự ở nhiều nơi trên thế giới với nhiều hình thức và mức độ khác nhau đều liên quan tới sự “đối đầu” giữa hai cực Xô – Mĩ

c. Tại Việt Nam:

- Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân ta 1945 – 1975 có liên quan tới cuộc đối đầu giữa Xô – Mĩ…

- Là một nước dân chủ nhân dân, trong phe XHCN cuộc kháng chiến của ta nhận được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN…

- Thực dân Pháp và sau đó là Mĩ, với chiến lược toàn cầu và chiến tranh lạnh muốn có ảnh hưởng ở Đông Dương đã can thiệp và chiếm đóng nước ta đề ra các kế hoạch quân sự để đàn áp phong trào cách mạng nước ta…

- Với thắng lợi của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, đã dẫn tới việc kí kết Hiệp định Giơ ne vơ 1954 và Hiệp định Pa ri năm 1973 đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của hai cường quốc Liên Xô và Mĩ…

Câu 5: Sự phân hóa trong chính sách đối ngoại của các nước ĐNA trong thời kì chiến tranh lạnh. Lí giải vì sao có sự phân hóa đó? Quan điểm của các nước ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp ở biển Đông hiện nay?

a. Sự phân hóa của các nước ĐNA trong thời kì chiến tranh lạnh:


- Khoảng trước những năm 50 của thế kỉ XX khi các nước ĐNA chưa giành được nền độc lập dân tộc của mình thì các nước này đều có một điểm chung đó là chống thực dân Âu – Mĩ để giành, củng cố nền độc lập.

- Từ khoảng giữa những năm 50 của thế kỉ XX, khi các nước này trở thành những quốc gia độc lập hoặc đang đấu tranh để giành độc lập hoàn toàn thì đường lối đối ngoại của các nước trong khu vực có sự phân hóa:

+ Các nước như Philippina, Thái Lan,... trở thành đồng minh của Mỹ và đã tham gia tổ chức SEATO (tổ chức quân sự ở ĐNA do Mỹ đứng đầu) thậm chí cùng với Mỹ đứa quân vào tham chiến chống lại nhân dân miền Nam Việt Nam, chống lại các nước Đông Dương.

+ Nhóm nước Miến Điện, Indonexia,... họ thi hành chính sách trung lập, không tham gia vào các khối quân sự của các nước phương Tây. Đặc biệt là Indonexia có đường lối đối ngoại tương đối ôn hòa.

+Ba nước Đông Dương trong thời kì châu Mỹ thì tiến hành cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược ( trước 1950 Campuchia theo đường lối hòa bình trung lập, nhưng sau đó đã cùng Việt Nam, Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược; 1967 đối lập với nhóm nước thành lập ASEAN).

b. Có sự phân hóa vì:

- Lợi ích dân tộc nên họ có chính sách dân tộc riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Lợi ích dân tộc chi phối chính sách đối ngoại của các nước.

- Bối cảnh của chiến tranh lạnh: chiến tranh lạnh bao trùng toàn thế giới trong đó có ĐNA. ĐNA bị chi phối bở chiến tranh lạnh, làm cho tình hình trở nên căng thẳng, ĐNA thành 2 trận tuyến: một nhóm nước đứng về phía Mỹ, một nhóm nước đứng về phía Liên Xô, một nhóm nước quan hệ với cả hai bên (VD: Họ vấn đặt mối quan hệ ngoại giao với VNDCCH nhưng cũng quan hệ với chính quyền ở miền Nam Việt Nam; quan hệ cả Mỹ và Liên Xô ở một góc độ nào đó.)

- Do sự can thiệp của Mỹ vào khu vực và thành lập khối quân sự ĐNA để đẩy lùi chủ nghĩa Cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc. Một nhóm nước thì đứng lên đấu tranh chống Mỹ, một nhóm nước thì trở thành đồng minh của Mỹ.

Như vậy, vấn đề dân tộc là vấn đề quyết định nhất đối với mọi vấn đề phát sinh trước những vấn đề phức tạp trên thế giới.

c. Quan điểm: Tình hình các nước ASEAN hiện nay khác nhiều so với chiến tranh lạnh:

- Sau khi các nước ở khu vục ĐNA không còn chiến tranh chống xâm lược của các nước đế quốc thì lại nổi lên vấn đề biển Đông – tranh chấp biển và đảo giữa Trung Quốc và một số nước thành viên của ASEAN. Với sự bành trướng của mình, Trung Quốc đã muốn chiếm gần như trọn biển Đông (80% ở biển Đông) điều đó ảnh hưởng đến lợi ích của các nước ven biển như Việt Nam, Philipiins,... và đặc biệt là nó gây nên sự bất ổn ở biển Đông. Đều ấy đã đụng chạm đến lợi ích của tất cả các nước ASEAN, gây bất ổn cho khu vực ĐNA.

- Các nước ĐNA trước hết là ASEAN, trong bối cảnh hiện nay khác nhiều so với thời kì chiến tranh lạnh họ đã có sự đoàn kết về lợi ích chung là ổn định và hòa bình khu vực. Đối với vấn đề biển Đông đa số các nước trong khu vực ĐNA đều muốn giải quyết vấn đề tranh chấp ở biển Đông bằng con đường ổn định và hòa bình tránh xung đột. Họ muốn giữ vừng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lên án những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế đặc biệt là luật biển năm 1982.

Câu 5: Nêu những sự kiện chính trong 10 năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai làm rõ quá trình xác lập cục diện hai cực, 2 phe - tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa?

a. Cục diện hai cực ở châu Âu:

-
Trong những năm 1945 - 1949, ở châu Âu đã xuất hiện 2 khối nước đối lập về chính trị và kinh tế: Tây Âu TBCN và Đông Âu XHCN. Mĩ hậu thuẫn cho các nước tư bản Tâu Âu, Liên Xô hậu thuẫn cho các nước dân chủ nhân dân Đông Âu.

- Ngày 12/3/1947 (trình bày sự kiện này).

- 6/1947: Mĩ đề ra kế hoạch Macsan (trình bày sự kiện này).

- 1/1949, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) thành lập,…

=> Việc thực hiện “Kế hoạch Mácsan” của Mĩ và sự thành lập khối SEV của Liên Xô và các nước Đông Âu đã tạo nên sự đối lập về kinh tế, chính trị giữa các nước Tây Âu tư bản chủ nghĩa và Đông Âu xã hội chủ nghĩa.

- Tương lai của nước Đức ( bị các nước Đồng minh chiếm đóng) trở thành vấn đề trung tâm trong cuộc gặp gỡ giữa nguyên thủ 3 cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh với những bất đồng sâu sắc. Mĩ, Anh và sau đó là Pháp đã tiến hành hợp nhất khu vực chiếm đóng của mình, lập ra nhà nước cộng hoà Liên bang Đức (9/1949). Tháng 10/1949, nhà nước cộng hoà dân chủ Đức thành lập. Như thế, trên lãnh thổ nước Đức xuất hiện hai nhà nước với 2 chế độ chính trị, xã hội khác nhau.

- Ngày 4/4/1949, Mĩ thành lập khối quân sự - tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước phương Tây do mĩ đứng đầu nhằm chống Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa.

- 5/1955, Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập tổ chức Hiệp ước Vac-sa-va, 1 liên minh chính trị quân sự mang tính chất phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu.

=> Sự ra đời của NATO và Vac-sa-va, xác lập cục diện 2 cực, 2 phe. Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông - Tây và cuộc chiến tranh lạnh trong nhiều thập kỉ.

* Cục diện hai cực ở châu Á.

- Trong những năm 1946 - 1949, cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng cộng sản và Quốc dân Đảng bùng nổ. Lực lượng của Đảng cộng sản được sự hậu thuẫn của Liên Xô, lực lượng quốc dân Đảng được sự giúp đỡ của Mĩ. Cuộc nội chiến kết thúc thắng lợi của Đảng cộng sản Trung Quốc. Sự ra đời của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa đánh dấu sự mở rộng của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

- Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp (1945 - 1954).

+ Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh trở lại xâm lược Đông Dương. Nhân dân 3 nước Đông dương đoàn kết chống Pháp. Cuối năm 1949, Mĩ viện trợ cho Pháp và can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Từ năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân VN có thêm sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu. Chiến tranh Đông Dương ngày càng chịu tác động của 2 phe.

+ Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đánh dấu thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Lào và Camphuchia, nhưng mặt khác cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa 2 phe.

+ Từ 1954 đến 1975, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ…

+ Việc hòa hoãn với Liên Xô, Trung Quốc - hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất vào đầu những năm 70 (thế kỉ XX) là nhằm thực hiện mưu đồ đàn áp, đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc, phong trào chống chiến tranh, vì hòa bình dân chủ trên thế giới…

+ Để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á, tháng 9 - 1954, Mĩ cùng Anh, Pháp và một số nước thành lập khối liên minh quân sự Tổ chức hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (SEATO)

- Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953).

+ Năm 1948, hai chính quyền ở Triều Tiên được thành lập: Hàn Quốc ở phía Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên ở phía Bắc được Mĩ và Liên Xô bảo trợ cho mỗi bên. Trên bán đảo Triều Tiên xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau.

+ Tháng 6/1950, quân đội Bắc Triều Tiên mở cuộc tấn công xuống phía Nam. Tháng 9/1950, quân đội Mĩ dưới danh nghĩa “quân đội Liên hợp quốc” đổ bộ vào Triều Tiên, đánh chiếm miền Bắc Triều Tiên. Tháng 10/1950, quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên “kháng Mĩ viện Triều”.

+ Tháng 7/1950, Hiệp định đình chiến được kí kết giữa Trung Quốc - cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên với Mĩ - Hàn Quốc. Cuộc chiến tranh Triều Tiên là sự đụng đầu trực tiếp giữa hai phe, không phân thắng bại.

=> Những sự kiện trên đã hình thành sự đối lập về kinh tế, chính trị và quân sự giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, dẫn tới sự xác lập cục diện hai cực, 2 phe do siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi cực, mỗi phe.
 
Trật tự hai cực Ianta và Chiến tranh lạnh, nội dung nào có trước? Sự chuyển dịch trong quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2026?
Theo quan điểm cá nhân:
I. Trật tự hai cực Ialta (Yalta) là hệ thống phân chia thế giới thành hai phe đối lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đứng đầu là hai siêu cường: Liên Xô và Mỹ.

1. Bản chất?
Hai cực: Thế giới chia làm hai trận tuyến:
Cực Xã hội chủ nghĩa: Do Liên Xô đứng đầu (Đông Âu, một phần châu Á).
Cực Tư bản chủ nghĩa: Do Mỹ đứng đầu (Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản).
Chi phối: Mọi vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế toàn cầu giai đoạn này đều xoay quanh sự cạnh tranh và đối đầu giữa hai khối này (thường gọi là Chiến tranh Lạnh).
2. Hình thành khi nào?
Thời điểm: Bắt đầu hình thành từ hội nghị tại Ialta (Liên Xô) vào tháng 2/1945.
Sự kiện: Ba cường quốc (Liên Xô, Mỹ, Anh) họp lại để bàn về việc kết thúc chiến tranh và phân chia khu vực ảnh hưởng tại châu Âu và châu Á.
Định hình rõ nét: Đến năm 1947 (với Học thuyết Truman của Mỹ) và 1949 (khi các liên minh quân sự như NATO ra đời), trật tự này chính thức được xác lập hoàn toàn.
3. Sụp đổ khi nào?
Trật tự này tồn tại hơn 40 năm và kết thúc vào khoảng năm 1989 - 1991 khi chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã.

II. Chiến tranh Lạnh là trạng thái đối đầu căng thẳng về mọi mặt (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa...) giữa hai phe: Phe Tư bản chủ nghĩa (do Mỹ đứng đầu) và Phe Xã hội chủ nghĩa (do Liên Xô đứng đầu).

1. Tại sao gọi là "Lạnh"?
Không trực tiếp bắn nhau: Hai siêu cường Mỹ và Liên Xô không bao giờ tuyên chiến hay đưa quân đội trực tiếp đối đầu trên chiến trường.
Chạy đua vũ trang: Thay vào đó, họ chạy đua chế tạo vũ khí hạt nhân, tranh giành ảnh hưởng tại các nước thứ ba và dùng các biện pháp bao vây kinh tế, tình báo (như CIA và KGB).
2. Hình thành từ khi nào?
Chiến tranh Lạnh bắt đầu nhen nhóm ngay sau khi Thế chiến II kết thúc (1945), nhưng được xác định chính thức qua các cột mốc:
Tháng 3/1947: Tổng thống Mỹ Truman đọc thông điệp trước Quốc hội, khẳng định Mỹ sẽ giúp đỡ các nước chống lại sự "bành trướng" của chủ nghĩa cộng sản. Đây được coi là sự kiện mở đầu Chiến tranh Lạnh.
Năm 1949: Sự ra đời của khối quân sự NATO (do Mỹ đứng đầu).
Năm 1955: Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập khối quân sự Vácsava để đối trọng. Đến đây, sự phân chia hai phe chính thức hoàn tất.
3. Kết thúc khi nào?
Cuộc chiến này kéo dài hơn 40 năm và chính thức chấm dứt vào tháng 12/1989 sau cuộc gặp gỡ tại đảo Malta giữa lãnh đạo hai nước (Bush "cha" và Gorbachev).

III. Trật tự hai cực Ianta và Chiến tranh lạnh, nội dung nào có trước?

Nếu phải chọn một câu trả lời chính xác nhất trong bối cảnh học thuật và thi cử, thì Trật tự hai cực I-an-ta có trước.
Dưới đây là lý do tại sao trật tự này được xem là tiền đề, tạo ra cái "khung" cho Chiến tranh Lạnh bùng phát:
1. Về mốc thời gian hình thành
Trật tự hai cực I-an-ta: Được định hình từ tháng 2/1945 (Hội nghị I-an-ta). Lúc này Chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc, Liên Xô và Mỹ vẫn còn là đồng minh sát cánh chống phát xít.
Chiến tranh Lạnh: Chỉ thực sự bắt đầu từ tháng 3/1947 (với Học thuyết Truman). Đây là thời điểm mối quan hệ đồng minh chính thức tan vỡ và chuyển sang đối đầu.
2. Về mối quan hệ Nhân - Quả
Cái khung (I-an-ta): Hội nghị I-an-ta chia thế giới thành các khu vực ảnh hưởng (ví dụ: Đông Âu thuộc Liên Xô, Tây Âu thuộc Mỹ).
Sự xung đột (Chiến tranh Lạnh): Chính việc tranh chấp, bảo vệ và mở rộng các khu vực ảnh hưởng đã định ra trong trật tự I-an-ta này đã dẫn đến cuộc Chiến tranh Lạnh.
3. Sự khác biệt về bản chất
I-an-ta là một thỏa thuận địa chính trị giữa các cường quốc thắng trận để phân chia quyền lợi.
Chiến tranh Lạnh là tình trạng đối đầu gay gắt về tư tưởng, quân sự và kinh tế nảy sinh dựa trên sự phân chia đó.
Tóm lại: Xét về trình tự lịch sử, Trật tự I-an-ta là nền tảng (có trước), còn Chiến tranh Lạnh là hệ quả (có sau) của sự phân cực đó.

IV. Cách nhìn nhận sự hình thành của hai sự kiện này theo hướng đan xen và tương hỗ là cách tiếp cận sâu sắc và khách quan hơn là chỉ nhìn theo mốc thời gian cứng nhắc.
Chúng ta có thể hiểu sự "đan xen" này qua các góc độ sau:
1. Sự cộng sinh về hình thái
Hội nghị I-an-ta (2/1945): Gieo "mầm mống" cho sự phân chia. Lúc này, các cường quốc vẫn còn là đồng minh chống phát xít, nhưng những thỏa thuận về khu vực ảnh hưởng đã ngầm chứa đựng sự đối đầu.
Chiến tranh Lạnh: Là "dòng điện" chạy trong cái khung I-an-ta đó. Chính sự nghi kỵ, đối đầu của Chiến tranh Lạnh đã biến những thỏa thuận phân chia địa chính trị tại I-an-ta thành một trật tự hai cực gay gắt, thay vì chỉ là sự phân chia khu vực quản lý hành chính đơn thuần.
2. Hai mặt của một vấn đề (hay hai mặt của đồng xu)
Nếu không có những thỏa thuận tại I-an-ta để xác lập ranh giới (như ở Đức, Triều Tiên), Chiến tranh Lạnh có lẽ đã bùng phát thành một cuộc chiến tranh tổng lực sớm hơn.
Ngược lại, nếu không có sự đối đầu của Chiến tranh Lạnh, trật tự I-an-ta có thể đã sụp đổ hoặc thay đổi hình thái khi các nước đồng minh không còn kẻ thù chung là Phát xít.
3. Tính tương đối về mốc thời gian
1945 - 1947: Là giai đoạn "quá độ" cực kỳ mập mờ. Đây vừa là lúc trật tự I-an-ta đang hình thành, vừa là lúc Chiến tranh Lạnh đang nhen nhóm (từ diễn văn "Bức màn sắt" của Churchill đến Học thuyết Truman).

Khó có thể vạch ra một đường kẻ phấn chính xác để nói cái nào dừng lại thì cái kia mới bắt đầu.
Tóm lại: Trật tự hai cực I-an-ta giống như một "vỏ bọc" địa chính trị, còn Chiến tranh Lạnh là "nội dung" chính trị - tư tưởng bên trong. Cả hai cùng vận động, bồi đắp cho nhau để tạo nên diện mạo thế giới suốt gần nửa thế kỷ.

V. Tiến trình biến đổi trong quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến 2026

1. Trật tự Thế giới Hai cực Ianta (1945 - 1991)
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự thế giới mới được hình thành dựa trên các thỏa thuận tại hội nghị Ianta.
Đặc điểm: Thế giới bị chia thành hai phe đối lập do hai siêu cường đứng đầu: Mỹ (phe Tư bản chủ nghĩa) và Liên Xô (phe Xã hội chủ nghĩa).
Chi phối: Mọi vấn đề quốc tế lớn đều xoay quanh sự cạnh tranh gay gắt về quân sự, kinh tế và ý thức hệ giữa hai cực này (thời kỳ Chiến tranh Lạnh).
Kết thúc: Sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu năm 1991 đã chính thức chấm dứt trật tự Hai cực.
2. Sự hình thành Trật tự Đơn cực (1991 - đầu những năm 2000)
Sự tan rã của Liên Xô tạo ra một "khoảng trống quyền lực", dẫn đến sự hình thành trật tự đơn cực.
Bối cảnh: Đối trọng duy nhất của Mỹ biến mất. Mỹ vươn lên trở thành siêu cường duy nhất sở hữu sức mạnh áp đảo về mọi mặt (quân sự, kinh tế, khoa học - kỹ thuật).
Đặc điểm: Mỹ đóng vai trò dẫn dắt các quan hệ quốc tế, áp đặt các giá trị kinh tế - chính trị của mình lên phạm vi toàn cầu và thường xuyên hành động đơn phương trong các vấn đề an ninh.
Biểu hiện: Mỹ chi phối các định chế tài chính toàn cầu và tự cho mình quyền can thiệp vào các điểm nóng xung đột mà không cần sự đồng thuận rộng rãi.
3. Xu thế chuyển dịch sang Trật tự Đa cực (Từ đầu thế kỷ XXI đến nay)
Trật tự đơn cực không duy trì được lâu dài do quy luật phát triển không đồng đều của các quốc gia.
Sự trỗi dậy của các trung tâm mới: Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ về kinh tế; Nga phục hồi vị thế cường quốc; Ấn Độ và EU khẳng định tiếng nói độc lập.
Sự hình thành các khối liên kết: Các tổ chức như BRICS, SCO hay ASEAN tạo ra các mạng lưới hợp tác đa phương, giảm bớt sự phụ thuộc vào phương Tây.
Đặc điểm hiện nay: Quyền lực thế giới đang được phân tán. Thế giới hiện đại là một hệ thống "đa cực, đa trung tâm", nơi không một quốc gia nào có thể tự mình quyết định vận mệnh của cả nhân loại.

VI. Hai cuộc xung đột tại Ukraine và Iran không chỉ là các điểm nóng cục bộ mà còn là những "động cơ" thúc đẩy sự thay đổi diện mạo của quan hệ quốc tế đương đại.
1. Thúc đẩy sự hình thành các khối liên kết mới
Sự giao thoa giữa hai cuộc xung đột này đã tạo ra những trục liên minh rõ rệt, đẩy thế giới rời xa trật tự đơn cực:
Trục Nga - Iran - Trung Quốc - Triều Tiên: Nga và Iran đã thắt chặt quan hệ quốc phòng; Iran cung cấp máy bay không người lái (UAV) cho Nga tại Ukraine, trong khi Nga và Trung Quốc được xem là các đối tác chiến lược hỗ trợ Iran trước sức ép từ phương Tây.
Sự hồi sinh và mở rộng của NATO: Xung đột Ukraine đã khiến NATO đoàn kết hơn, mở rộng thành viên (Phần Lan, Thụy Điển) và tăng cường hiện diện quân sự tại Đông Âu để răn đe Nga.
2. Sự phân tán nguồn lực và sự chú ý của phương Tây
Căng thẳng tại Trung Đông liên quan đến Iran đã tạo ra áp lực kép cho Mỹ và đồng minh:
Chia sẻ nguồn lực: Khi xung đột Iran leo thang, sự chú ý và hỗ trợ quân sự của phương Tây bị phân tán, khiến Ukraine đối mặt với nguy cơ thiếu hụt vũ khí và sự suy giảm cam kết viện trợ từ các nước vốn đang phải lo ngại về bất ổn tại Trung Đông.
Thách thức ngoại giao: Mỹ phải đồng thời xử lý hai cuộc khủng hoảng lớn, làm suy giảm khả năng tập trung vào chiến lược xoay trục sang khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
3. Khủng hoảng năng lượng và an ninh lương thực toàn cầu
Cả hai khu vực xung đột đều là những mắt xích trọng yếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu:
Năng lượng: Xung đột tại Ukraine khiến châu Âu phải cắt giảm phụ thuộc vào khí đốt Nga. Đồng thời, căng thẳng tại Trung Đông đe dọa các tuyến đường hàng hải quan trọng (như eo biển Hormuz), làm tăng giá dầu thô và gây lạm phát toàn cầu.
Lương thực: Ukraine là "vựa lúa" của châu Âu; cuộc chiến kéo dài đã làm gián đoạn nguồn cung, gây mất an ninh lương thực nghiêm trọng tại các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Trung Đông và Bắc Phi.
4. Thách thức đối với luật pháp và định chế quốc tế
Sự bế tắc của Liên hợp quốc: Các cuộc xung đột này phơi bày sự chia rẽ sâu sắc trong Hội đồng Bảo an, nơi các cường quốc sử dụng quyền phủ quyết khiến LHQ khó đưa ra các giải pháp hòa bình hiệu quả.
Định hình lại "Luật chơi": Việc phương Tây sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế ngặt nghèo chống lại Nga và Iran đã thúc đẩy xu hướng "phi đô la hóa" và tìm kiếm các hệ thống tài chính thay thế ở nhiều quốc gia khác.
5. Tác động đến cấu trúc an ninh vùng và toàn cầu
Tại châu Âu: Xung đột Ukraine buộc các nước phải tái định nghĩa về an ninh quốc phòng, tăng chi tiêu quân sự lên mức cao kỷ lục kể từ sau Chiến tranh Lạnh.
Tại Trung Đông: Vai trò của Iran và các đòn tấn công từ Israel khiến khu vực này luôn trong tình trạng báo động đỏ, làm đình trệ các tiến trình hòa bình và thỏa thuận hạt nhân

Tóm lại, sự kết nối giữa "mặt trận" Ukraine và Iran đang đẩy nhanh quá trình hình thành một trật tự đa cực đầy biến động, nơi các cường quốc cạnh tranh quyết liệt và các quốc gia tầm trung buộc phải tìm cách tự chủ chiến lược để tồn tại.
Lịch sử thế giới từ sau 1945 đến nay là một quá trình biến động liên tục: từ sự đối đầu nghẹt thở của Hai cực, đến sự thống trị ngắn ngủi của Đơn cực, và hiện đang tiến tới sự cân bằng phức tạp của Đa cực. Xu thế đa cực mang lại cơ hội cho các quốc gia đang phát triển có tiếng nói công bằng hơn trên trường quốc tế.
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top