• HÃY CÙNG TẠO & THẢO LUẬN CÁC CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC [Vn Kiến Thức] - Định hướng VnKienthuc.com
    -
    Mọi kiến thức & Thông tin trên VnKienthuc chỉ mang tính chất tham khảo, Diễn đàn không chịu bất kỳ trách nhiệm liên quan
    - VnKienthuc tạm khóa đăng ký tài khoản tự động để hạn chế SEO bẩn, SPAM, quảng cáo. Chưa đăng ký, KHÁCH vẫn có thể đọc và bình luận.

uocmo_kchodoi

Moderator
TỔNG QUAN VỀ THỜI KỲ PHỤC HƯNG
1. Phục Hưng là gì và tầm ảnh hưởng của nó

Da_Vinci_Vitruve_Luc_Viatour-221x300.jpg

Phục Hưng là một phong trào văn hóa thường được xem là bao phủ giai đoạn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, khởi đầu tại Firenze (Ý) vào Hậu kỳ Trung Đại, sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu ở những quy mô và mức độ khác nhau.

Phục Hưng bao hàm sự nở rộ của các nền văn học tiếng Latin cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển, sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo dục tiệm tiến nhưng phổ cập.

Trong chính trị, Phục Hưng đã đóng góp vào sự phát triển những hiệp ước ngoại giao, và trong khoa học là một sự quan tâm lớn hơn tới quan sát thực nghiệm. Các sử gia thường lập luận những biến đổi về trí tuệ này là một cầu nối giữa Trung Cổ và thời hiện đại. Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ Vĩ nhân Phục Hưng (“Renaissance Great Man”). Có một cuộc tranh luận kéo dài trong giới sử học về quy mô, phân kì của văn hóa và thời đại Phục Hưng, cũng như giá trị và ý nghĩa của nó. Bản thân thuật ngữ Renaissance, do nhà sử học Pháp Jules Michelet đặt ra năm 1855 cũng là đối tượng của những chỉ trích, rằng nó ngụ ý một sự mô tả thái quá về giá trị tích cực của thời kỳ này.

Phục Hưng đã tác động sâu sắc tới đời sống trí thức châu Âu trong thời sơ kỳ hiện đại. Bắt đầu ở Ý, lan ra khắp châu Âu vào thế kỉ 16, ảnh hưởng của nó hiện diện trong văn học, triết học, mĩ thuật, âm nhạc, chính trị, khoa học, tôn giáo, và các khía cạnh khác của đời sống tinh thần. Các học giả Phục Hưng sử dụng phương pháp nhân văn trong nghiên cứu, và khai thác hiện thực đời sống và cảm xúc con người trong nghệ thuật.

2. Bối cảnh và địa điểm hình thành

Có một sự đồng thuận rằng thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở Firenze, Italia, trong thế kỷ 14. Nhiều giả thuyết khác nhau đã được đề xuất để giải thích cho nguồn gốc và đặc điểm của nó, tập trung vào một loạt các yếu tố bao gồm đặc thù xã hội và công dân của Firenze tại thời điểm đó, cấu trúc chính trị của nó, sự bảo trợ của dòng họ thống trị, nhà Medici, và sự di cư của các học giả và các bản văn Hy Lạp sang Ý sau sự thất thủ của Constantinopolis dưới tay người Thổ Ottoman. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tranh luận về lý do tại sao thời kỳ Phục hưng lại bắt đầu tại Ý, và tại sao nó lại bắt đầu vào một thời điểm như thế. Bởi vậy, một số giả thuyết khác nhau đã được đưa ra để giải thích nguồn gốc của Thời kỳ Phục Hưng.

Phong trào Phục Hưng diễn ra trong bối cảnh Tây Âu diaanx ra nhiều sự kiện:

- Các máy móc như: vành sắt, máy ngựa, vai cày, xe cút kít, cối xay gió, đồng hồ cơ học, giải toán học,..

- Diễn ra nhiều cuộc phát kiến lớn về địa lý mang lại những hậu quả to lớn vầ sâu sắc đã thúc đẩy sự phát triển KT và thương mại mang tính chất thế giới rõ rệt, làm cho Tây Âu giàu lên nhanh chóng thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của g/c TS Châu Âu.

- Đây là thời kỳ bùng nổ các cuộc cải cách tôn giáo và cuộc đấu tranh của g/c nông dân chống lại các lãnh chúa phong kiến. Tiêu biểu là cải cách tôn giáo và chiến tranh nông dân Đức thế kỷ XVI.

- Đây là thời kỳ CN chuyên chế thằng lợi sỏ một số nước lớn, CN dân tộc được hình thành.

- Riêng Italia sở dĩ trở thành quê hương đầu tiên của Vh Phục Hưng vì phong trào ở đây ra đời sớm.

Đây vốn là quê hương của nền Vh La Mã cổ đại. La Mã lại tiếp thu nền văn minh Hy Lạp.

3. Nguyên nhân làm xuất hiện phong trào Phục Hưng


tkphung-anh-1-copy_1.jpg

Nguyên nhân chính xuất hiện phong trào văn hóa phục hưng:

- Hậu kì trung đại, bộ mặt kinh tế Tây Âu có nhiều thay đổi, QHSX TBCN hình thành, sự tiến bộ của KHKT
- Do sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến. Chế độ phong kiến kìm hãm sự phát triển của xã hội
- Giai cấp tư sản có thể lực về kinh tế nhưng không có địa vị xã hội dẫn tới sự đấu tranh giành địa vị xã hội

Bên cạnh đó, sự phát triển khoa học và kỹ thuật của thời Trung Cổ đã góp phần phát triển nên thời Phục hưng.

4. Nội dung tư tưởng phong trào văn hóa Phục Hưng

- Phê phán xã hội phong kiến và giáo hội.
- Đề cao giá trị con người.
- Đòi tự do cá nhân.

5. Tính chất của phong trào văn hóa Phục Hưng

- Là phong trào của giai cấp tư sản nên nội dung của nó mang tính chất tư sản. Trong bối cảnh lúc đó, phong trào thực sự là một cuộc cách mạng lớn với những tác động tích cực và toàn diện lên đời sống xã hội.

+ Phong trào mang tính chất tư sản tiến bộ khi phản ánh nội dung chống giáo hội và chống phong kiến. Điều này phản ánh nhu cầu của giai cấp tư sản đổi mới về văn hoá và thủ tiêu sự kiểm soát của giáo hội đối với tư tưởng.

+ Đề cao giá trị con người và tự do cá nhân.

+ Đề cao tinh thần dân tộc.

- Phong trào Văn hoá Phục hưng phản ánh xu thế mới đang lên của giai cấp tư sản, chống lại hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến lỗi thời và khủng hoảng. Vì thế, về cơ bản nó có nội dung tích cực, tiến bộ, thúc đẩy sự phát triển của văn hoá, tư tưởng và khoa học, kĩ thuật.

6. Thành tựu của phong trào văn hóa Phục Hưng


Phong trào văn hóa Phục Hưng là khôi phục tinh hoa văn hóa xán lạn cổ đại Hy Lạp, Rô-ma, đấu tranh xây dựng một nền văn hóa mới, một cuộc sống tiến bộ.

- Thành tựu :
+ Khoa học kỹ thuật có tiến bộ vượt bậc về y học, toán học.
+ Văn học nghệ thuật phát triển phong phú với những tài năng như : Lê-ô-ma-đơ Vanh-xi, Sếch-xpia.

3. Ý nghĩa của phong trào văn hóa Phục hưng

- Lên án giáo hội Ki-tô, tấn công vào trật tự phong kiến, đánh bại tư tưởng phong kiến lỗi thời.

- Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

- Đề cao tự do, xây dựng thế giới quan tiến bộ
Nguồn: Sưu tầm​
 
Sửa lần cuối:

uocmo_kchodoi

Moderator
BÀN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHONG TRÀO PHỤC HƯNG ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI?
Với tư các là một phong trào văn hóa, phong trào Phục Hưng đã tác động sâu sắc tới đời sống trí thức châu Âu trong thời sơ kỳ hiện đại. Bắt đầu ở Ý, lan ra khắp châu Âu vào thế kỉ 16. Tầm ảnh hưởng có nó phổ rộng trên khắp các lĩnh vực, phương diện từ trong văn học, triết học, mĩ thuật, âm nhạc, chính trị, khoa học, tôn giáo đến các khía cạnh khác của đời sống tinh thần. Các học giả Phục Hưng sử dụng phương pháp nhân văn trong nghiên cứu, và khai thác hiện thực đời sống và cảm xúc con người trong nghệ thuật.

Các nhà nhân văn Phục Hưng như Poggio Bracciolini đã lục tìm những tác phẩm văn học, lịch sử và hùng biện thời Cổ đại viết bằng tiếng Latin trong tàng thư ở các tu viện châu Âu, trong khi sự thất thủ của thành Constantinopolis (1453) tạo nên một làn sóng tỵ nạn của các học giả Hy Lạp mang lại nhiều bản thảo giá trị về Hy Lạp cổ đại, mà phần nhiều đã rơi vào quên lãng trước đó ở phương Tây. Chính trong trọng tâm nghiên cứu mới về tài liệu văn học và lịch sử mà các học giả Phục Hưng khác biệt với các học giả Trung cổ của thời kỳ Phục Hưng thế kỷ 12, những người tập trung vào nghiên cứu các công trình Hy Lạp và Ả Rập về khoa học tự nhiên, triết học và toán học. Trong sự hồi sinh của trường phái triết học tân Plato, các nhà nhân văn Phục Hưng không chối bỏ Cơ đốc giáo, trái lại, nhiều công trình Phục Hưng vĩ đại nhất đã phục vụ nó, và Giáo hội bảo trợ nhiều tác phẩm nghệ thuật Phục Hưng. Tuy nhiên, một sự dịch chuyển tinh tế xảy ra trong cách mà các trí thức tiếp cận tôn giáo phản ánh trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa. Hơn nữa, nhiều công trình Cơ đốc bằng tiếng Hy lạp, bao gồm kinh Tân Ước tiếng Hy Lạp, được mang về từ Byzantium lần đầu tiên cho phép các học giả phương Tây tiếp cận chúng. Ảnh hưởng mới của những tác phẩm Cơ đốc bằng tiếng Hy Lạp này, và đặc biệt là sự trở lại Tân Ước nguyên gốc bằng tiếng Hy lạp được những nhà nhân văn Lorenzo Valla và Erasmus khuyến khích, dọn đường cho Cải cách Kháng Cách về sau

Sau khi những bước đi quay về với chủ nghĩa cổ điển trong nghệ thuật được Nicola Pisano thí nghiệm, các họa sĩ Florence, đứng đầu là Masaccio đã nỗ lực minh họa hình dạng con người một cách hiện thực nhất, phát triển các kĩ thuật áp dụng phối cảnh và ánh sáng một cách tự nhiên hơn. Các triết gia chính trị, nổi tiếng nhất là Niccolò Machiavelli tìm cách mô tả đời sống chính trị theo cách lý tính, thay vì lý tưởng hóa như trước kia. Một đóng góp chủ chốt cho chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng Ý là tác phẩm nổi tiếng của Pico della Mirandola, “De hominis dignitate” (“Về Phẩm cách Con người”, 1486), bao gồm một loạt bài tiểu luận về triết học, tư tưởng tự nhiên, niềm tin và ma thuật chống lại bất kì kẻ thù nào trong địa hạt lý trí. Thêm vào việc nghiên cứu tiếng Latinh cổ điển và tiếng Hy Lạp, các tác giả Phục Hưng cũng ngày càng sử dụng rộng rãi các ngôn ngữ dân tộc: kết hợp với sự xuất hiện của in ấn, điều này cho phép ngày càng nhiều người tiếp cận được với sách, đặc biệt là Kinh Thánh

Nhìn chung, Phục Hưng có thể được xem như một nỗ lực của các trí thức, nghệ sĩ nhằm nghiên cứu và tăng cường khuynh hướng thế tục trong đời sống tinh thần châu Âu thông qua sự tái sinh những tư tưởng cổ đại cũng như những cách tiếp cận tư tưởng mới. Một số học giả, như Rodney Stark muốn hạ bớt tầm quan trọng mà họ cho là bị đánh giá thái quá của Phục Hưng, thay vào đó nhấn mạnh những tiến bộ trước đó của các thị quốc Ý trong thời Trung kỳ Trung Đại, tổng hòa của chính phủ chịu trách nhiệm, Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa tư bản non trẻ. Phân tích này lập luận rằng, trong khi những quốc gia châu Âu lớn nhất (Pháp và Tây Ban Nha) là các nền quân chủ chuyên chế, và các quốc gia khác thì chịu sự kiểm soát trực tiếp của Giáo hội, những nhà nước cộng hòa độc lập của Ý đã nắm lấy những nguyên lý của chủ nghĩa tư bản và quản lý các điền sản thuộc tu viện, làm nên một cuộc cách mạng thương mại rộng lớn chưa từng có, báo trước và nuôi dưỡng Phục Hưng

Từ lâu người ta đã tranh cãi tại sao Phục Hưng là bắt đầu từ Firenze mà không phải nơi nào khác. Một số người nhấn mạnh vai trò của dòng họ Medici, một gia đình nhiều đời là chủ ngân hàng lớn nhất và sau là công tước của Firenze, đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị thành phố cũng như khuyến khích nghệ thuật. Đặc biệt, Lorenzo de’ Medici (1449–1492) tức “Lorenzo Vĩ đại” không chỉ là một nhà bảo trợ nghệ thuật lớn mà còn là người tích cực khuyến khích các gia đình trưởng giả ở Firenze quan tâm tới nghệ thuật và bảo trợ nghệ sĩ. Dưới thời của ông nhiều nghệ sĩ vĩ đại Leonardo da Vinci, Sandro Botticelli, và Michelangelo Buonarroti có cơ hội thể hiện tài năng. Các cơ sở tôn giáo cũng đặt hàng hàng loạt tác phẩm, như tu viện di San Donato agli Scopeti

Lorenzo_de_Medici-ritratto-234x300.jpg
T
Tuy nhiên, sự thật là không phải tới thời Lorenzo nắm quyền Phục Hưng mới ra đời, mà bản thân gia đình Medici cũng chỉ thừa hưởng truyền thống trọng nghệ thuật của Firenze và phát huy nó. Một số người cho rằng Firenze trở thành nơi khởi đầu Phục Hưng là do may mắn, nghĩa là đơn thuần bởi vì những vĩ nhân ngẫu nhiên sinh ra ở đây: cả da Vinci, Botticelli và Michelangelo đều là người xứ Toscana (mà Firenze là thủ phủ). Tuy nhiên các nhà sử học khác phản đối ý kiến cho rằng đây là sự ngẫu nhiên và quy cho truyền thống trọng nghệ thuật của Firenze

God2-Sistine_Chapel-300x140.png

Sự sáng tạo ra Adam, một tác phẩm nổi tiếng của Michelangelo​

Một trong những đặc điểm phân biệt của mỹ thuật thời kỳ Phục Hưng là sự phát triển phép phối cảnh tuyến tính có tính hiện thực cao. Giotto di Bondone (1267-1337), được coi là người đầu tiên thực hiện một tác phẩm bích họa như là một cánh cửa sổ để bước vào không gian, nhưng tác phẩm của ông đã không gây được nhiều ảnh hưởng cho đến tận thời của Filippo Brunelleschi (1377–1446) và những tác phẩm tiếp theo của Leon Battista Alberti (1404-1472), quan điểm này được chính thức hóa thành một kỹ xảo nghệ thuật. Sự phát triển của quan điểm này là một phần của một xu hướng rộng lớn hơn đối với chủ nghĩa hiện thực trong nghệ thuật, đạt đến độ trưởng thành kể từ tranh tường của Masaccio (1401-1428). Để đạt được điều đó, các họa sĩ đã phải phát triển các kỹ thuật khác nhau, nghiên cứu mảng sáng-tối, nổi tiếng nhất trong số đó là trường hợp giải phẫu người của Leonardo da Vinci. Đằng sau những thay đổi trong phương pháp nghệ thuật, là một khao khát được làm mới lại muốn miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, và làm sáng tỏ các tiên đề thẩm mỹ, với các tác phẩm đi đầu của Leonardo, Michelangelo và Raffaello đã đại diện cho đỉnh cao của thuật và đã được nhiều nhiều họa sĩ khác học hỏi. Những nhân vật đáng chú ý khác bao gồm Sandro Botticelli, làm việc cho gia tộc Medici ở Firenze, một người Firenze khác là Donatello và Tiziano Vecelli ở Venezia, cùng nhiều người khác

Đồng thời, tại Hà Lan, khi mà văn hóa nghệ thuật đang phát triển, những tác phẩm tiêu biểu của Hugo van der Goes và Jan van Eyck đã gây nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của hội họa tại Ý, cả về kỹ thuật với sự ra đời của sơn dầu trên vải lẫn phong cách trong sự diễn đạt về chủ nghĩa tự nhiên. (xem Thời kỳ Phục Hưng tại Hà Lan) Sau này, những tác phẩm của Pieter Bruegel il Vecchio đã truyền cảm hứng cho các họa sĩ về chủ đề miêu tả cuộc sống hàng ngày. Sự giao thoa văn hóa bắc-nam châu Âu khiến cho từ thế kỷ 16, có thể nói toàn châu Âu đã chuyển mình sang một nền mỹ thuật mới.

Leonardo_da_Vinci_-_presumed_self-portrait_-_WGA12798-193x300.jpg

Chân dung tự họa của Leonardo da Vinci. Những tác phẩm kinh điển của ông như Mona Lisa, Bữa ăn tối cuối cùngNgười Vitruvius là đại diện cho nghệ thuật thời Phục Hưng

Chigi_codex-300x197.jpg

Kinh Thương Xót trong bản Chigi codex từ tác phẩm Missa Ecce ancilla Domini của Johannes Ockeghem
Galilee-207x300.jpg

Galileo Galilei. Tranh chân dung chì màu bởi nhà điêu khắc Phục Hưng Leone Leoni
Alexander_VI_-_Pinturicchio_detail-255x300.jpg

Alexander VI, một Giáo hoàng nhà Borgia khét tiếng gian dâm và tham nhũng.

Thetriumphofdeath-300x213.jpg

Bức Le Triomphe de la Mort (“Thần Chết Khải hoàn”, vẽ khoảng 1562) của Pieter Bruegel phản ánh những biến động và sợ hãi mang tính toàn xã hội theo sau bệnh dịch hạch tàn phá châu Âu Trung Cổ.
Shakespeare-234x300.jpg

William Shakespeare tác gia tiêu biểu của văn học Phục Hưng Anh đồng thời là nhà soạn kịch vĩ đại nhất của phong trào Phục Hưng nói chung.
Holbein-erasmus-212x300.jpg

Erasmus của Rotterdam năm 1523, tranh minh họa bởi Hans Holbein Trẻ

GraoVasco1-300x278.jpg

“São Pedro Papa”, 1530-1535, bởi Grão Vasco Fernandes. Một tác phẩm đỉnh cao của thời kỳ mà Phục Hưng Bồ Đào Nha có ảnh hưởng đáng kể ngoài nước.

Nguồn: doxuachauau.vn/​
 

uocmo_kchodoi

Moderator
MỸ THUẬT THỜI PHỤC HƯNG
Như chúng ta đã biết, thời kỳ Phục Hưng hình thành và phát triển mạnh mẽ, để lại những thành tựu to lớn đối với nhân loại. Và một trong những lĩnh vực nổi bật nhất thời kỳ này chính là hội họa. Sự phát triển nghệ thuật ở thời kỳ này rực rỡ đến nỗi con người vĩnh viễn có thể không bao giờ đạt tới trình độ văn hóa nghệ thuật như vậy.

Người ta nói Phục Hưng là thời kỳ tái sinh của châu Âu, vì vậy vào thời kỳ này, khi khen một hoạ sĩ nào, người ta thường có thói quen nói rằng : tác phẩm của hoạ sĩ đó có thể sánh ngang với “người xưa”, người xưa đây là những hoạ sĩ Hy Lạp, La Mã cổ điển.

Trong thời kì này, các tác phẩm nghệ thuật đạt tới đỉnh cao, hoàn thiện, mẫu mực và định hình về phong cách. Ở thời kỳ tiền phục hưng, mĩ thuật đã đạt được nhiều thành tựu. Song ở một vài tác giả, xét về tranh của họ, bên cạnh sự đổi mới về phong cách vẫn còn đôi chút ảnh hưởng của nghệ thuật thời trung cổ. Nhất là sự thiếu vắng tình cảm thực của con người, sự biểu cảm chưa thật sâu sắc. Nhưng sang thế kỷ XVI, mĩ thuật Ý đã thực sự phục hưng. Một nền nghệ thuật đi theo hướng hiện thực, tự nhiên đã phát triển rực rỡ, để lại nhiều tác giả và tác phẩm có giá trị trường tồn – một phong cách nghệ thuật mới đã thực sự định hình. Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển của hội hoạ, điêu khắc và những công trình kiến trúc.

Trước Phục Hưng, tranh trên giá chưa thực sự phát triển. Suốt thời kỳ cổ đại và trung cổ, thể loại tranh được sử dụng nhất là bích hoạ(tranh vẽ trên tường) – luôn gắn với kiến trúc. Đến thời kỳ Phục Hưng, nhất là trong thế kỷ XVI nhiều hoạ sỹ với những tác phẩm của họ được nhiều đương thời yêu thích. Chưa bao giờ hội hoạ lại phát triển và đạt được nhiều thành công như ở thời kỳ Phục Hưng. Các thể loại tranh đều được các hoạ sỹ thích thú thể hiện. Được ưa thích nhất là tranh chân dung, tranh tôn giáo, thần thoại, tranh sinh hoạt.

1. Các giai đoạn phát triển của hội họa Phục Hưng ở Ý

Nghệ thuật hội hoạ thời kì phục hưng được chia làm ba giai đoạn cơ bản:

Giaiđoạn 1 – Thời kì Mở đầu: Bắt đầu từ khoảng thế kỉ XIII tại Ý với những tên tuổi như: Sipawe, Giotto di Bontone(1267 – 1337), Donatello(1386 – 1486)… Tranh của Giotto bắt đầu khám phá không gian vào trong tranh, có sự xa gần mặc dù chưa cụ thể, mới chỉ là sơ khai, chưa tách bạch, chiều sâu chưa lớn, chưa rõ ràng…


Huyền thoại thánh Francis của Giotto​

Kế tục của ông là Sipawe, ở ông đã bắt đầu có sự xuất hiện của ánh sáng trong tranh nhưng vẫn chưa tập chung, chưa đúng vị trí, chưa cụ thể…Hình chưa chính xác, cơ thể được vẽ bao bọc bởi những trang phục kín từ đầu đến chân bằng những mảng lớn, giải phẫu, cấu trúc, tạo hình chưa chính xác. Tuy nhiên nếu so sánh với tranh thời Trung cổ thì tranh ở thời kì này đã có những điểm rất khác biệt(tranh thời trung cổ mang tính trang trí, không đề cập đến không gian ba chiều, chưa diễn tả chiều sâu của không gian, hình tượng nhân vật vẽ mảng bẹt, phẳng, ít tả khối, hoặc chỉ là khối đơn giản).

Giai đoạn 2: Kéo dài khoảng 200 năm từ thế kỉ XIV Đến cuối thế kỉ XV. Với những tên tuổi nổi tiếng như: Masaccio, Angelico hay nổi bật là Sandro Botticelli.


Đuổi khỏi vườn địa đàng của Masaccio​

Với Masaccio, ông là người mở đầu cho cho nghệ thuật thế kỉ XV. Ông được thừa hưởng thành tựu về phép phối cảnh, hình hoạ, điêu khắc, ánh sáng trong tranh rõ ràng, các mảng sáng tối trên nhân vật sắc nét, tương phản, được gợi khối tròn và có sự mềm mại. Chiều thứ ba của không gian được diến tả tốt nhờ sự chắc chắn về hình đậm nhạt và tương quan nóng lạnh của màu sắc trong tranh. Ngoài cái đẹp vè hình thể, khối, ông còn thể hiện được rõ tình cảm trên khuôn mặt nhân vật trong tranh như bức tranh ở trên.

Tuy nhiên, khi nói tới giai đoạn này, người để lại nhiều tác phẩm còn giữ được khá nguyên vẹn và nổi tiếng cho tới nay đó là Botticelli. Nói tới ông, người ta hay nhớ tới các bức: Mùa xuân, Sự sinh ra của thần vệ nữ, Lễ truyền tin, …với đề tài tôn giáo và thần thoại. tranh của ông diễn tả rất thành công cơ thể mềm mại, da thịt căng tròn, đầy cảm xóc, thân hình mượt mà, sống động của thần Vệ Nữ, một cái đẹp tổng thể, hài hoà của nhiều yếu tố tạo hình như đường nét, màu sắc, chất biểu cảm của bức tranh đã làm mờ đi những khiếm khuyết trên cơ thể của nàng. Bức tranh này hiện đang được trưng bày trong bảo tàng Uffizi tại Florence.

Ở thời kì này, mỹ thuật đã được đẩy lên một mức cao hơn so với giai đoạn mở đầu.

+ Về bố cục chặt chẽ hơn, nhiều kiểu bố cục mới, đa dạng hơn.

+ Hình khối chắc chắn, rõ ràng, mạch lạc.

+ Tỉ lệ, giải phẫu nhân vật cơ bản hoàn chỉnh, chính xác, cân đối .

+ Không gian trong tranh rõ ràng cụ thể, có sự tách bạch giữa nhân vật và khung cảnh xung quanh.

+ Xa gần trong tranh được áp dụng một cách triệt để.

+ Màu sắc tương đối hài hoà, Êm cúng, tương phản nhẹ.

+ Tình cảm trong tranh được thể hiện rõ ràng, nhiều cảm xúc của các nhân vật được miêu tả xinh động.

+ Ánh sáng trong tranh giai đoạn 2 được sử dụng một cách triệt để và sử dụng linh hoạt, tập chung, chính xác, bước một bước xa hơn với giai đoạn đầu.

Giai đoạn 3:
Từ khoảng 1490/ 1500 cho đến 1520. Đây được coi là thời kì đỉnh cao của nghệ thuật Phục Hưng, các tác phẩm đạt tới sự hoàn mĩ, tinh tế và trở thành các tác phẩm kinh điển. Các danh họa thời kì này có thể kể tới là tam trụ của nền Phục Hưng: Raphael, Michelangelo và Leonardo da Vinci. Với Michelangelo, hầu hết các tác phẩm để đời của ông đều là điêu khắc, xét về hội họa thì người ta nhớ đến ông qua bức “Ngày phán xét cuối cùng” được vẽ trên tường nhà nguyện Sistine trong 04 năm liên tục và hoàn thành trong khoảng 1536 and 1541.


Trước đó, ông cũng đã treo mình liên tục 4 năm nữa từ 1508 tới 1512 để vẽ nên bức tranh trên toàn bộ trần của nhà nguyện này​


Trần nhà nguyện Sistine​

Nói về Leonardo da Vinci thì người ta không thể không nhắc tới bức tranh “Nàng Mona Lisa” vốn chưa bao giờ ngừng làm vơi giấy mực để bình phẩm về nó (đang được lưu giữ ở bảo tàng Louvre, Pháp).


Nàng Mona Lisa của Davinci​

Hay những bức tranh đầu màu sắc, tinh tế, tỉ mỉ sống động trong bảo tàng Vatican của Raphael.


Giải cứu Thánh Peter​


Trường học Athen​


Tranh luận về Bí tích Thánh Thể​


Trục xuất Heliodorus từ đền thờ​

Tranh của thời kì này chặt chẽ hơn về bố cục, nhiều kiểu bố cục mới, đa dạng hơn và đạt đỉnh cao của nghệ thuật.

+ Hình khối chắc chắn, rõ ràng, mạch lạc, tả khối chi tiết của từng bộ phận, từng nếp vải, đạt chuẩn cho tất cả các hình thức thể hiện.

+Tỉ lệ, giải phẫu nhân vật hoàn chỉnh, chính xác, cân đối về tỉ lệ. Giai đoạn này là đỉnh cao về tỉ lệ con người (7 1/2), chuẩn mực về con người, là một trong những yếu tố tạo thành nghệ thuật Phục Hưng độc đáo.

+ Không gian trong tranh rõ ràng cụ thể, rộng, có sự kết hợp con người với thiên nhiên, có sự tách bạchgiữa nhân vật và khung cảnh xung quanh, giữa các nhân vật chính phụ với nhau…đây cũng là một trong những yếu tố tạo thành nghệ thuật Phục Hưng vô cùng Phục Hưng độc đáo.

+ Xa gần trong tranh được áp dụng một cách triệt để, trong tranh thể hiện rõ được đường tầm mắt, điểm tụ…xa gần cả về đậm nhạt, cả về hình. Đạt chuẩn về luật xa gần như bức trường học Athen.

+ Màu sắc tương đối hài hoà, chắc chắn, ấm cúng tình cảm, tương phản nhẹ, thể hiện được gam màu chủ đạo.

+ Tình cảm trong tranh được thể hiện rõ ràng, nhiều cảm xúc của các nhân vật được miêu tả xinh động, buồn, vui mừng, giận giữ, đau khổ, lo sợ, hãi hùng, kính phục…

+ Ánh sáng trong tranh giai đoạn 3 – giai đoạn Phục Hưng được sử dụng một cách triệt để và sử dụng linh hoạt, tập chung, chính xác, bước một bước xa hơn với giai đoạn 2, đi đến thời hưng thịnh, đỉnh cao về hội hoạ mà không thể không kể đến yếu tố ánhsáng trong tranh.

2. Một số họa sỹ tiêu biểu nhất thời kỳ Phục Hưng
2.1. Leonado da Vinci (1452-1519)

Leonado da Vinci là nhà bác học có nhiều công trình nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực vật lý, toán học, địa lý, giải phẫu, triết học, âm nhạc, điêu khắc,.. Về hội họa, ông chú trọng diễn tả những nét tinh tế trong đời sống nội tâm. Các tác phẩm nổi tiếng nhất: La Jaconde (Mona Lisa) và Bữa Tiệc Cuối Cùng (The Last Super), Đức mẹ đồng trinh trong hang đá,…


The Last Super - Leonardo da Vinci​

Bữa ăn cuối cùng là bức bích họa 450 x 870cm được sáng tác vào khoảng năm 1495 đến 1498, vẽ trực tiếp lên tường phòng ăn ở tu viện Santa Maria delle Grazie ở Milan, Italy. Nội dung miêu tả khoảnh khắc chúa Jesus nói với 12 môn đồ: "Trong các con có kẻ muốn nộp Ta". Hình ko đủ lớn để thấy sự tinh tế của họa sĩ khi diễn tả phản ứng của từng môn đồ trên nét mặt họ.


La Joconde (Mona Lisa) - Leonardo da Vinci
Bức tranh được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương, hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp. Đây là bức tranh làm tốn nhiều giấy mực nhất trong lịch sử

2.2. Michelangelo Buonarroti (1475–1564)

Michelangelo Buonarroti thường được biết đến dưới tên gọi Michelangelo, là nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư và cũng là nhà thơ.


Pièta - Michelangelo, 1499
Pietà, tức Đức Mẹ Sầu Bi, miêu tả cảnh Đức mẹ Mary bồng Chúa Jesus sau khi bị đóng đinh lên thập tự giá, hoàn thành khi Michelangelo mới 24 tuổi.


David - Michelangelo, 1504
Tượng David, hoàn thành năm Michelangelo 29 tuổi, là bức tượng nổi tiếng nhất thời kỳ Phục hưng.

2.3. Raffaello (1483–1520)

Ông tên đầy đủ là Raffaello Sanzio da Urbino là họa sĩ và kiến trúc sư Ý, một trong ba người khổng lồ của mỹ thuật thời Phục hưng, dù mất lúc chỉ mới 37 tuổi. Tác phẩm của ông thường mô tả những phụ nữ đẹp dịu dàng, những quang cảnh tươi vui, sung túc ..


Đức mẹ Sistine - Raffaello, 1514 - sơn dầu trên vải 265x196 cm
Tác phẩm cuối cùng Raphael vẽ Đức Mẹ, được nhiều nhà phê bình cho là đỉnh cao nhất của nghệ thuật Kitô giáo về đề tài Đức Mẹ tính cho đến ngày nay


Đức mẹ Granduca - Raffaello, 1504 - sơn dầu trên gỗ, 84 x 55 cm
Tác phẩm được cho là Raphael vẽ ko có nguyên mẫu, chỉ theo trí tưởng tượng về một cái đẹp lí tưởng. Nhiều nhà phê bình đã cho rằng vời "Đức Mẹ Granduca" Raphael đã tạo nên một mẫu mục về hình tượng Đức Mẹ trong hội họa và cả trong tâm thức người phương Tây.

Nguồn: gocnhosantruong.com và bài viết của chimkudo - library.chimkudopro.com​
 
Sửa lần cuối:

uocmo_kchodoi

Moderator
ÂM NHẠC THỜI KỲ PHỤC HƯNG
Bên cạnh những thành tự về khoa học kỹ thuật, về văn học và hội họa thì sự phát triển rực rỡ của một lĩnh vực nghệ thuật khác cũng đã có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống con người. Đó chính là âm nhạc. Nền âm nhạc lúc bấy giờ cũng là tiền đề cho sự phát triển của nền âm nhạc sau này, với nhiều sự đổi mới so với thời kì trung cổ nền âm nhạc thời Phục Hưng đã mang lại những âm sắc mới mẻ, hấp dẫn, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật.

1. Đôi nét về âm nhạc thời kỳ Phục Hưng

Âm nhạc thời kì Phục Hưng được hình thành từ khoảng thế kỷ 14 vừa kết thúc thời kì trung cổ tiếp nối dòng nhạc baroque. Đây là thời kỳ của những thay đổi mạnh mẽ ở châu Âu khi việc tái khám phá di sản văn tự của Hi Lạp và La Mã cổ đại làm hồi sinh niềm hứng thú lớn lao đối với nghiên cứu khoa học, nghệ thuật...

Với sự cởi mở trong trao đổi học thuật ở châu Âu cũng như sự biến chuyển về chính trị, kinh tế và tôn giáo thời kỳ này đã dẫn tới nhiều thay đổi lớn trong phong cách sáng tác, phương pháp phổ biến âm nhạc, các thể loại âm nhạc mới và sự phát triển của các loại nhạc cụ. Đó là các bản motet và mass phức điệu với lời ca bằng tiếng Latin được soạn để sử dụng trong các nhà thờ lớn và nhà nguyện của cung đình. Các nhạc sĩ lúc bấy giờ đều ưa thích phong cách âm nhạc đơn giản với những giai điệu trôi chảy êm ả, những hoà âm nghe êm tai hơn và ít nhấn mạnh vào đối âm như thời kì trung cổ. Âm nhạc lúc bấy giờ đã trở thành phương tiện để biểu diễn cảm xúc cá nhân, các nhạc sĩ cũng tìm nhiều cách khiến cho phần nhạc biểu cảm hơn. Đến cuối thế kỉ 16, các nhà soạn nhạc bắt đầu có nhiều nguồn bảo trợ hơn: các nhà thờ Công giáo, nhà thờ Tin Lành, triều đình, các nghệ sĩ tài tử phong lưu và cả các nhà phát hành âm nhạc.

Bên cạnh đó nhờ phát minh ra máy in năm 1450 mà các bản nhạc được in ấn hàng loạt và phổ biến rộng rãi, đến khoảng những năm 1460 thì các bản nhạc được phổ biến hầu hết châu âu

Thời kì Phục Hưng các nhạc sĩ bắt đầu để mắt và sử dụng các quảng bá nhiều hơn, nhạc phức điệu được trau chuốc, mang tính độc lập và cho thấy được sự đơn giản hoá so với các thời kì trước. Thời kì Phục Hưng là thời kì cho thấy được sự gia tăng đáng kể của âm vực trong âm nhạc-so với thời Trung Cổ, biên độ âm vực hẹp tạo ra sự tương phản lớn khi chuyển đoạn, cuối thế kỉ 15 thì các đặc tính của âm vực bắt đầu bị tan vỡ do sự xuất hiện của quãng năm.
Những đặc điểm cơ bản của thời kì Phục Hưng; âm nhạc dựa trên giai điệu, kết cấu phong phú hơn, kết cấu âm nhạc thiên về hoà quyện, hoà âm được chú trọng nhiều hơn.

Hai thể loại chính của thời kì này đó là: Dòng nhạc thế tục và dòng nhạc nhà thờ.

Dòng nhạc thế tục: là âm nhạc không tôn giáo, tách biệt với tôn giáo. Được phát triển ở thời kì Trung Cổ đến thời kì Phục Hưng thì được sử dụng rộng rãi hơn. Dòng nhạc này viết về tình yêu, châm biếm chính trị, tinh thần thượng võ, các tác phẩm sân khấu và vũ nhạc.Trong âm nhạc thế tục, các nhạc cụ thường được sử dụng và rất phổ biến, lời thơ có thể được kèm theo và được hát. Lời hát được xem là phần quan trọng trong âm nhạc thế tục. Những nhạc sĩ như Josquin des Prez viết nhạc thiêng liêng và thế tục. Ông đã sáng tác 86 tác phẩm thế tục rất thành công. Âm nhạc thế tục cũng được hỗ trợ bởi sự hình thành của văn học trong thời cai trị của Charlemagne đó bao gồm một bộ sưu tập các bài hát thế tục và bán thế tục. Bây giờ chúng ta cùng nghe một ca khúc thuộc thể loại nhạc thế tục nhé.


Âm nhạc nhà thờ: Âm nhạc nhà thờ là âm nhạc viết cho các bản ca trong nhà thờ, hoặc bất kỳ thiết lập âm nhạc phục vụ của Giáo Hội, hoặc tập âm nhạc để bày tỏ lòng thành cũng như cầu nguyện có tính chất thiêng liêng, như một thánh thi, là sự phát triển tự nhiên của thể loại bình ca, Dạng nhạc phức điệu 2 bè đơn giản cuối thời Trung cổ được mở rộng thành phức điệu 4 bè, trong đó mỗi bè đều quan trọng như nhau. Hình thức mới này được gọi là motet. Trái với thời Trung cổ, trong giai đoạn này âm nhạc được chú trọng hơn lời ca. Josquin des PrezGiovanni Palestrina là hai nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ Phục hưng về thể loại motet. Giai điệu âm nhạc nhà thờ thời kì Phục Hưng bắt đầu được trau chuốc trở nên hoa mỹ hơn, các nhạc sĩ bắt đầu thích thể hiện phong cách hơn là sự truyền bá tôn giáo đây là sự bắt nguồn cho sự hài hoà giữa lời ca và giai điệu.

Từ đầu thế kỷ 16, nhà thờ Tân giáo tách khỏi nhà thờ Công giáo kéo theo những thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt trong đời sống xã hội. Martin Luther muốn tất cả các tín đồ của ông cùng tham gia vào hoạt động âm nhạc. Vì vậy, trong những nhà thờ Tân giáo, người ta sáng tác những bài thánh ca cho mọi người cùng hát, chứ không chỉ dành cho dàn hợp xướng. Phong cách hợp xướng mới này là nền tảng cho những bài thánh ca ngày nay. Những bài thánh ca được viết cho người hát, nhưng 200 năm sau, Bach đã ứng dụng hình thức này vào những tiểu phẩm cho đàn organ.

Có thể nói âm nhạc nhà thờ Thiên Chúa giáo thế kỷ 16 phát triển trên nền tảng của bình ca, còn âm nhạc nhà thờ Tân giáo thế kỷ 17 – 18 phát triển từ thánh ca nhiều bè.

Nhà soạn nhạc nhiều tài nhất đầu thời Phục hưng là Guillaume Dufay. Ông đã viết các motet có sự phức tạp gần với phong cách của ars nova cũng như các chanson theo một kiểu mới hơn và nhẹ nhàng hơn. Nhà soạn nhạc nổi bật về thể loại chanson là Gilles Binchois. Ảnh hưởng của những nhà soạn nhạc Bourgogne đến giữa thế kỉ 15 đã suy giảm.


Các nhạc cụ ngày nay chúng ta đang sử dụng như organ, guitar bắt nguồn từ thời kì Phục Hưng phát triển quá từng giai đoạn và có hình dáng hiện đại như bây giờ.

2. Các trường phái âm nhạc thời kỳ Phục Hưng

Trường phái Bourgogne

Ngược dòng sự phức tạp của phong cách Ars Nova, phần lớn các nhà soạn nhạc đầu thế kỉ 15 đều ưa thích một phong cách âm nhạc đơn giản hơn với những giai điệu chảy trôi êm ả, những hòa âm nghe êm tai hơn và ít nhấn mạnh vào đối âm hơn. Nhà soạn nhạc Anh John Dunstable (1390-1453) là người đầu tiên đẩy mạnh việc sáng tác âm nhạc theo phong cách đơn giản hơn. Những nét thanh nhã trong phong cách của ông sớm được các nhà soạn nhạc châu Âu khác tiếp thu, đặc biệt là những người phục vụ các công tước Bourgogne ở miền Đông Bắc Pháp. Triều đình Bourgogne giai đoạn đó cực kỳ có thế lực và nó đã thu hút các nhà soạn nhạc và nghệ sĩ trên khắp châu Âu. Những nhà soạn nhạc Bourgogne này nổi tiếng bởi những chanson, trong đó một bè giọng thể hiện giai điệu chính và một hoặc hai bè khác đảm nhiệm vai trò phần đệm. Những người Bourgogne cũng phát triển thông lệ sáng tác mass với các phần như một tổng thể hòa nhập mà Machaut đã bắt đầu từ thời Trung cổ. Kết quả là mass trở thành một thể loại bất hủ, về tầm vóc có thể sánh với các giao hưởng thế kỉ 19. Các mass sử dụng một cantus firmus (bè chính, bè cao nhất) thường được dựa trên những chanson hay những giai điệu thế tục khác hơn là dựa trên thánh ca Gregory. Thực tế này phản ánh ảnh hưởng gia tăng của mối quan tâm đến mảng thế tục trong thời Phục Hưng.

Trong viết nhạc đối âm, các nhà soạn nhạc thời Phục Hưng dựa nhiều vào kỹ thuật mô phỏng, sự trình bày liên tiếp, gần gụi về khoảng cách trong một hay nhiều bè giọng có cùng ý đồ giai điệu. Kỹ thuật mô phỏng đã được sử dụng từ cuối thế kỉ 14 nhưng trong thời Phục Hưng thì nó trở thành một yếu tố cấu trúc chính trong âm nhạc. Nếu một bè giọng bắt chước một bè giọng khác một cách nhất quán trong một khoảng thời gian tương đối dài, hai bè giọng sẽ hình thành nên một canon. Trong âm nhạc thời Phục Hưng, các cặp bè giọng chuyển dịch trong một canon suốt cả tác phẩm hay một phần tác phẩm trong khi những mô phỏng ngắn hơn diễn ra trong những bè giọng khác.

Nhà soạn nhạc quan trọng nhất của trường phái Bourgogne, trường phái thống trị âm nhạc châu Âu vào đầu thời kỳ Phục Hưng, là Guillaume Dufay (1397-1474). Ông đã viết các motet có sự phức tạp gần với phong cách của Ars Nova cũng như các chanson theo một kiểu mới hơn và nhẹ nhàng hơn. Các chanson của Dufay bộc lộ tính trữ tình ngọt ngào du dương chưa từng có trước thời đại mình. Bằng sự tinh thông trong hình thức âm nhạc quy mô lớn, Dufay đã tạo sân khấu cho các thế hệ các nhà soạn nhạc tiếp theo ở thời Phục Hưng. Ở thể loại chanson, tác giả nổi bật nhất là Gilles Binchois (1400-1460).

Trường phái Người Hà Lan

Ảnh hưởng của những nhà soạn nhạc Bourgogne đến giữa thế kỉ 15 đã suy giảm. Từ khoảng năm 1450 đến khoảng năm 1550, hầu hết các chức vụ về âm nhạc quan trọng ở châu Âu do những nhà soạn nhạc sinh vào thời đó ở Hà Lan, Bỉ và những vùng của Pháp kề cận đó nắm giữ. Các nhà soạn nhạc trường phái Pháp-Flemish này thường được gọi là Người Hà Lan theo tên vùng đất quê hương họ.

Nói chung những Người Hà Lan ưa thích kiểu âm thanh đồng nhất hơn, chẳng hạn như do một hợp xướng không nhạc đệm tạo ra. Kết cấu âm nhạc chiếm ưu thế của họ là đối âm với mọi bè giọng có tầm quan trọng ngang bằng. Các đặc trưng âm nhạc này tương phản với kiểu âm thanh Bourgogne điển hình, trong đó mỗi bè giọng có màu sắc riêng (chẳng hạn như một giọng solo được hai nhạc cụ solo khác đệm cho) và trong đó một giọng sẽ trội hơn các giọng khác.

Những Người Hà Lan tiếp tục truyền thống Bourgogne về sáng tác chanson, motet và mass. Mặc dù nhiều tác phẩm mass xuất sắc được sáng tác vào cuối thế kỉ 15 và đầu thế kỉ 16 nhưng thể loại mass khi đó không tạo ra một sự thách thức như nó đã từng làm đối với những nhà soạn nhạc Bourgogne. Các kỹ thuật cơ bản để thống nhất một bản mass toàn vẹn đã trở thành sở hữu chung của mọi nhà soạn nhạc. Lời ca của mass, vẫn luôn giữ nguyên, khơi gợi ít kiểu phổ nhạc hơn. Phần lớn vì những lý do này, thể loại motet trở thành phương tiện biểu lộ để thử nghiệm. Lời ca, rút từ mọi phần của Kinh Thánh cũng như từ các nguồn khác, gợi ra cho các nhà soạn nhạc nhiều ý tưởng âm nhạc mang tính minh họa. Những Người Hà Lan hàng đầu là Johannes Ockeghem (1425-1497), Jacob Obrecht (1458-1505), Josquin des Prez (1455-1521) và Orlando di Lasso (1530-1594).

Chanson của thế kỉ 16 đã xa rời hẳn vẻ hấp dẫn đơn giản của các bài tình ca Bourgogne. Chúng có xu hướng được đối âm tỉ mỉ hoặc là được rót đầy bằng các ngụ ý âm nhạc dí dỏm ám chỉ tiếng gọi chim, tiếng rao của những người bán dạo ngoài phố và những âm thanh tương tự. Các chanson của những nhà soạn nhạc người Paris như Claudin de Sermisy (1490-1562) và Clément Janequin (1485-1558) minh họa cho phong cách về sau.

Từ khoảng năm 1530 đến năm 1600, madrigal là thể loại thanh nhạc thế tục phổ biến nhất ở châu Âu. Trong một tác phẩm phổ thơ thường được viết cho bốn hoặc năm giọng hát và ít khi có nhạc đệm, nhà soạn nhạc cố gắng diễn tả cảm xúc mãnh liệt chứa đựng trong từng dòng thơ và đôi khi là từng từ. Luca Marenzio (1553-1599) là một trong những tác giả madrigal Ý nổi bật nhất. Jacques Arcadelt (1500-1568) là người Pháp nhưng đã viết các madrigal ở thành phố Florence nước Ý. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông ở thể loại này là Il bianco e dolce cigno (Thiên nga trắng dịu dàng). Nước Anh cũng có nhiều tác giả madrigal nổi tiếng như Thomas Morley (1558-1602), Francis Pilkington (1570-1638), William Byrd (1543-1623), Orlando Gibbons (1583-1625) và Thomas Weelkes (1576-1623).

Sau khi trường phái Bourgogne suy tàn, nước Ý trở thành trung tâm của âm nhạc châu Âu thời Phục Hưng và là nơi tiếp tục các cách tân với trường phái Venice và trường phái Roma (có phần bảo thủ hơn) với Giovanni da Palestrina (1525-1594) là đại diện tiêu biểu nhất. Âm nhạc của ông điển hình cho dòng phức điệu hợp xướng ngang bằng, đều là tiêu chuẩn chính của phong cách âm nhạc Phục Hưng.

Các sáng tác hợp xướng phức điệu của trường phái Venice cuối thế kỉ 16 nằm trong số các sự kiện âm nhạc nổi tiếng nhất châu Âu và có ảnh hưởng lớn lên hoạt động âm nhạc của các nước khác. Giovanni Gabrieli (1557-1612) là nhà soạn nhạc tiêu biểu nhất của trường phái Venice. Các cách tân của trường phái Venice cùng với sự xuất hiện của thể loại opera ở Florence giai đoạn đó đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Phục Hưng và mở ra thời kỳ Baroque trong âm nhạc.

Âm nhạc thời kỳ Phục hưng có tiếp thu di sản thời kỳ Trung cổ, nhưng về nội dung tư tưởng nó chống đối lại hệ tư tưởng phong kiến và nhà thờ thống trị trong cả nghìn năm đen tối của thời kỳ trung cổ ấy. Nghệ thuật Phục hưng ca ngợi lòng hy sinh, đề cao chủ nghĩa nhân đạo và biểu hiện tư tưởng tiến bộ của tầng lớp tư tưởng thành thị đang thời son trẻ. Để diễn đạt được nội dung tư tưởng ấy, nghệ thuật phục hưng phục hồi lại cái đẹp toàn mỹ của thời kỳ hưng thịnh nhất trong thời kỳ cổ đại.

Nguồn: adammuzic.vn, hoiamnhachanoi.org​
 
Sửa lần cuối:

uocmo_kchodoi

Moderator
GIÁO HỘI THỜI KỲ PHỤC HƯNG
Lịch sử thế giới cho ta thấy, sau nhiều thế kỷ trì tuệ của thời trung cổ, Châu âu đã bắt đầu vươn tới các Châu Lục khác, và khởi đầu kỷ nguyên phục hưng, dẫn đến những biến động lớn về kinh tế, những thay đổi cơ bản về thể chế chính trị, cũng như phát huy cao độ năng lực sản xuất; Đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã sáng tạo ra một khối lượng của cải vật chất mà các thế hệ trước đó không thể nào có được. Chính từ thời điểm này mà Phương Tây, cũng như Phương Đông có những biến chuyển trọng đại trong đời sống nhân sinh của mình

I. NỘI DUNG

1. Bối Cảnh Lịch Sử

1.1. Giai Đoạn Chuyển Mình

Sau thời kỳ phát triển rực rở, độc đáo và toàn diện của triết học cổ đại Hy-Lạp là sự tiếp nối của lịch sử triết học Châu Aâu trong màn đêm dài của thời trung cổ, sở dĩ gọi là màng đêm vì trước nó là thời rực rở của ánh mặt trời tư tưởng, là thế kỷ vàng trong lịch sử văn minh nhân loại; Có thể nói, triết học thời trung cổ là sự bành trướng của chế độ phong kiến, nhà thờ; còn tôn giáo thì giữ vai trò thống trị xã hội trên tất cả các mặt: tinh thần, chính trị, kinh tế… Hệ tư tưởng thống trị là kiểu bốc lột nông nô của phong kiến; thần học giáo điều mang tính kinh viện được dạy trong các trường học, người ta nói đây là nền triết học chủ nghĩa hình thức không thừa nhận bất kỳ cái gì mới, nó kiềm hãm sự phát triển của khoa học; Nói chung, đây là thứ triết học chịu sự thống trị của hệ tư tưởng tôn giáo, là “đày tớ của thần học”.

Với Giáo Hội công giáo, thì từ thế kỷ 12-13 là thế kỷ đầy kết quả do sự xuất hiện của nhiều dòng tu, nhưng đến 1300 trở đi thì là thời suy thoái, bắt đầu thời giáo triều Avignon với sự có mặt của hai, thậm chí ba Giáo Hoàng cùng một lúc làm ảnh hưởng và uy tín của Giáo Hội bị sút kém dẫn đến việc khiến một số người công giáo đặt lại vấn đề cho đức tin, và có khi từ chối thẩm quyền của Giáo Hội, sự chỉ trích Giáo Hội và việc nổi loạn chống giới thẩm quyền ngày càng gia tăng; Nhất là sự suy thoái của thần học kinh viện, các thần học gia không còn nghiên cứu Kinh Thánh và các Giáo Phụ nữa, mà đã dành thời giờ để tranh luận một cách vô bổ, tỉ như: “bao nhiêu Thiên Thần có thể nhảy múa trên đầu một cây kim”; Rồi vì ảnh hưởng chính trị, các Giáo Hoàng buộc phải ký hiệp ước với nhiều quốc gia, nên nhiều nhà cầm quyền thế tục cũng trở thành Giám Mục, hay Tu Viện Trưởng, có vị còn mua cả hai đến ba chức vụ cùng một lúc, và tất nhiên là họ chẳng màng gì đến việc chăm sóc giáo dân; Hàng Linh Mục và Phó Tế cũng trở nên tồi tệ và thói nát khắp nơi; Còn giáo dân thì chẳng màng gì đến việc đạo đức ngoài việc thích đi hành hương hoặc cúng tiền để được ân xá.

1.2 Bầu Khí Canh Tân Trong Giáo Hội

Những luồng sinh khí của Thánh Thần bắt đầu làm bùng nổ dần sự thức tỉnh tâm linh trước đời sống suy đồi của Giáo Hội, việc canh tân được khai mở với Công Đồng Latêranô (1512-1517), nhưng do tính trần tục và cái nhìn thiển cận của Đức Lêo X mà nhiều sắc lệnh canh tân đã không được thi hành; Rồi lại xuất hiện một tổ chức canh tân khác được gọi là Humanist (nhân bản) do học giả Erasmus (1465-1536) dẫn đầu, họ là những nhà tri thức muốn khôi phục lại tư duy công giáo đặt nền tảng trên Phúc Âm và văn bản của các Giáo Phụ… Thế nhưng, tất cả mọi nổ lực của nhiều thành phần trong Giáo Hội lúc này chẳng ảnh hưởng gì đến giòng sinh lực đang trên đà xuống dốc (Cf. DT Đức, tr.80-81)

1.3. Cải Cách Tin Lành

Chính những thói nát trong Giáo Hội ngày càng gia tăng, nhất là việc lạm dụng ban ân xá cho giáo dân, đã làm cho một tu sĩ dòng Augustine là Luther (1480-1564) không thể chấp nhận được nữa, nên năm 1517 Ông đã nêm yết 95 luận đề phản đối việc ban ân xá của Giáo Hội lên cửa nguyện đường ở Wittenberg, rồi 1519 nhà thần học gia Johannes Eck lại đưa lối cho Ông từ chối thẩm quyền của Giáo Hoàng, các Công Đồng, và coi Phúc Âm như nguồn thẩm quyền duy nhất; Do đó, Ông đã viết 3 luận đề khước từ quyền bính của Giáo Hội công giáo và các Giáo Hoàng, tẩy chay một số bí tích… Thế là thảm kịch đã xảy ra: tại nghị viện Worms 1521 với sắc chỉ (Exsurge Domine) Giáo Hội chính thức phạt vạ tuyệt thông Luther; Nhờ sự trợ giúp thế lực của những vị lãnh chúa, các thái tử mà giáo thuyết của Luther nhanh chóng được ủng hộ và rồi đoạn tuyệt dần với Giáo Hội; các phong trào cải cách lan rộng khắp nơi với những nhân vật nổi tiếng: Jean Calvin (1509-1564), đến Zwingli, rồi các phái Anabaptist,… (Cf. DT Đức, tr.83-84)

2. Bối Cảnh Xã Hội

2.1. Bước Đầu Những Khám Phá

Trong thời kỳ này xã hội cũng có những biến chuyển đáng kể: do nhu cầu mở rộng hoạt động thương mại và nhờ vào những tiến bộ kỷ thuật của ngành hàng hải, nên nhiều nhà thám hiểm Âu Châu đã tìm ra những con đường biển đi sang phương đông:

Đó là các cuộc hành trình của Vasco de Gama vào năm 1497, Ông theo lịnh của vua Bồ Đào Nha tổ chức một cuộc viễn chinh trên biển nhằm thẳng hướng Aán Độ đi qua mũi Hảo Vọng, đến 1498 thì cửa hàng Bồ Đào Nha đầu tiên trên bờ biển phía tây của Dek-kan được thiết lập, phá vở độc quyền của người Ả-Rập về việc buôn bán đồ gia vị; Cũng năm 1497 này mà nhà hàng hải người Anh tên Jean Cabot tìm đường qua phía tây bắc Đại Tây Dương và phát hiện ra đảo Labrador (Canađa ngày nay).

Rồi những chuyến vượt đại dương của Christophe Colomb đã phát hiện ra lục địa Châu Mỹ, gọi là “Tân Thế Giới”; Cuộc thám hiểm của Magienlan chẳng những đến Châu Mỹ mà còn vượt qua Thái Bình Dương để tới quần đảo vùng Đông Nam Á, gọi là Philippin.
Những chuyến phát kiến địa lý như tìm ra Châu Mỹ và đường hàng hải sang Aán Độ, Trung Quốc để qua Châu Phi đã mở rộng giao lưu hàng hóa giữa các nước, giữa Đông và Tây đã đem lại những khả năng mới cho sự giao lưu kinh tế và văn hóa, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc giữa các nền văn minh thế giới; nhờ đó mà sản xuất và thương nghiệp phát triển, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành, nhanh chóng lan rộng khắp nơi, các chủ xưởng công trường thủ công, chủ các hảng buôn… xuất hiện rất nhiều; Cho nên, vai trò của tư sản ngày càng được nâng cao và tất nhiên mâu thuẩn giữa họ với giai cấp địa chủ phong kiến càng thêm phát triển.

2.2. Những Biến Chuyển Trọng Đại

Việc mở rộng con đường biển đến các Châu Lục đã sản sinh ra những cuộc di chuyển dân cư trên qui mô lớn: Thương nhân thì lo giành giật thị trường và các tài nguyên ở các địa bàn mới; Quân đội và quan chức thì lo xâm chiếm thuộc địa và thiết lập chế độ thực dân; Dân chúng thì kéo nhau đến những vùng đất mới để khai phá, tìm vàng và lập nghiệp; Người da đen thì bị đưa sang Châu Mỹ làm nô lệ trong các đồn điền, hầm mỏ; Các nhà truyền giáo cũng hòa vào đoàn người di cư để mang Kinh Thánh đến các vùng đất vừa phát hiện này hầu truyền bá Tin Mừng Chúa Kytô.

Bao cuộc hành trình của các giới trên đã tạo nên sự tiếp xúc giữa các nền văn minh của các Châu Lục; Người Châu Aâu thì tiếp nhận văn minh truyền thống của Phương Đông; Người Châu Á, Châu Phi thì tiếp cận được nền công nghệ cao hơn của người Châu Aâu. Vì vậy mà thế giới Aâu –Mỹ hình thành dần nền văn minh rất đa dạng do sự hòa hợp giữa các nền văn hóa của nhau, nhất là sự phát hiện nền văn minh vốn có từ lâu đời ở Châu Mỹ được gọi là văn minh tiền Côlông với ba tộc người chính: Maya, Aztếch và Inca; Đây chính là nền văn minh lâu đời ở trình độ cao, họ đã sớm có nhà nước, xây dựng nhiều thành thị và lâu đài bằng đá, nhiều Lễ Đường nguy nga, có cả chữ viết và tôn giáo riêng.
Nhìn chung thì sự hình thành thị trường, cũng như việc tiếp cận các nền văn minh trên qui mô thế giới đã tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế xã hội nơi nhiều quốc gia; Sự tiếp xúc giữa các nền văn minh của loài người là những thành tựu vĩ đại của trí sáng tạo và tinh thần quả cảm nhưng cũng thấm đầy máu và nước mắt, nó đã thúc đẩy lịch sử loài người có những bước tiến dài mà trước đó không hề tưởng tượng được.

3. Bối Cảnh Văn Hóa

3.1. Điều Kiện Lịch Sử


Phong trào văn hóa phục hưng bắt đầu xuất hiện ở Ý từ thế kỷ thứ XIV, rồi lan dần sang các nước Tây Aâu khác như: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức…vào thế kỷ XV; Trong thời này, cả thế giới Phương Tây đều bàng hoàng và kinh ngạc trước những di sản văn hóa của thời cổ đại Hy-Lạp và La-Mã vừa được phát hiện, với các pho tượng thời cổ khai quật được trong những đống hoang tàn ở La Mã, người ta thấy cả một thế giới mới lạ hiện ra trước mắt và tất nhiên ai cũng rất muốn sống lại những tinh hoa của nền văn hóa cổ này (Cf. Hà Thiên Sơn, tr.147); Hơn ai hết, các văn nghệ sĩ Ý có nhiều điều kiện để làm sống lại và phát triển những thành tựu văn hóa đó khi mà hoàn cảnh xã hội đang từng bước chuyển mình (Cf. DV Ninh, tr. 270-272). Nhờ kinh tế phát triển, nên tầng lớp giàu có cũng bắt đầu xuất hiện và để phô trương cho sự giàu sang của mình, họ đã xây dựng nhiều lâu đài tráng lệ được trang sức bằng những tác phẩm nghệ thuật có giá trị; Điều này khích lệ rất lớn cho sự sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ, nhất là các họa sĩ và các nhà điêu khắc

Nhờ được sự bảo trợ của các nhà cầm quyền trong nhiều quốc gia như họ Mêdixi ở Phirenxê, họ Giôndagiơ ở Mantu,… Thậm chí các Giáo Hoàng trong thời này cũng ủng hộ tích cực cho phong trào phục hưng này, nên rất nhiều nhà văn nghệ sĩ có điều kiện tập trung trí tuệ và tài năng của mình vào nghệ thuật sáng tạo (Cf. DV Ninh, tr.272).
Nhờ việc in ấn được phát minh vào giữa thế kỷ XV của Gutenberg làm điểm xuất phát, cũng là nền tảng của việc giao lưu các tư tưởng, những tác phẩm hiếm hoi xưa thì đã được phổ biến rộng rãi, nhất là các học giả quan tâm một cách sai mê đến những văn học cổ đang mê ngủ trong thư viện của nhiều tu viện (Cf. DT Đức, bài 15, tr. 3)

3.2. Những thành tựu chính

Phong trào này là một bước nhảy vọt đáng kể về văn hóa, các bậc trí thức đều nhìn nhận rằng: một cuộc đổi mới kỳ diệu về văn hóa đã mạnh mẽ chuyển mình, có người còn bảo:“chỉ trong vòng một thế kỷ, chúng ta đã chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc nơi các nhà khoa học, trong khi để được như vậy, cha ông chúng ta cần đến 14 thế kỷ” (Cf. DT Đức, bài15, tr. 3)
Nhìn chung, phong trào đã đạt được những thành tựu rực rỡ về mọi mặt,về văn học nghệ thuật, rồi triết học, khoa học song hành phát triển rộng khắp:

Về Văn Học

Cả ba thể loại: thơ, tiểu thuyết và kịch đều có những tác phẩm có giá trị gắn liền với nhiều tác giả nổi tiếng thế giới, chẳng hạn: nhà thơ Francois Rabelais (1494-1553) với các tác phẩm mang tính trào phúng cao, nhưng nội dung thì nói về người thật, việc thật trong xã hội lúc bấy giờ; Rồi đến Miguel de Cervantes (1547-1616) với kiệt tác của nền văn học thế giới là Don Quichotte đã làm nổi bật được chân dung của hai nhân vật chính mang trong mình những phẩm chất cao quí, là những người bảo vệ tự do và chính nghĩa. Còn kịch thì cũng càng được phát triển và thịnh hành rộng khắp, mà tác giả tiêu biểu là nhà kịch nghệ tài hoa William Shakespeare (1564-1616), Ông đã đưa nghệ thuật kịch lên tới tuyệt đỉnh của nó với các hài kịch: Đêm thứ mười hai, Theo đuổi tình yêu vô hiệu, Người lái buôn thành Vênêxia,…; Các bi kịch: Rômêo và Giuliét, Hămlet, Oâtenlô, Vua Lia,…; Các kịch lịch sử: Risớt II, III, Henri IV,… Trong tất cả các vở kịch của mình, Ông đã đưa lên sân khấu các nhân vật thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội đương thời, nhất là đã đề cập đến nhiều mặt, nhiều mâu thuẩn phức tạp đang xảy ra trong cuộc sống lúc bấy giờ (Cf. VD Ninh, tr.168).

Nghệ Thuật

Song song với văn học, nền nghệ thuật cũng có nhiều nhà họa sĩ và điêu khắc nổi tiếng, đây là giai đoạn Quatrocentô (phong trào văn nghệ thế kỷ XV) của Florence, khi mà các nghệ sĩ sống hòa mình với nhân dân, thay cho nghệ sĩ thiên tài đơn độc (Cf. NV Dân, tr.168); Với sự xuất hiện ồ ạt của phong cách cầu kỳ trong hội họa đã có sức tác động rất lớn đến các tài năng trẻ bấy giờ, nhiều thiên tài lần lần xuất hiện khắp nơi: Maxasiô (1401-1428), Đônatenlô (1386-1466), Vêrôsiô (1435-1488),… Họ là những người mở đầu cho xu hướng hiện thực chủ nghĩa trong hội họa (Cf. VD Ninh, tr. 277).
Sang thế kỷ XVI, nền nghệ thuật này đạt đến đỉnh cao với nhiều nhà danh họa và điêu khắc nổi tiếng thế giới, đó là: Leonardo de Vinci (1452-1519), chính bức họa Last Supper của Ông trong nhà thờ Đức Bà ban ơn lành ở Ý là một kiệt tác đánh dấu kỷ nguyên mới trong lịch sử nghệ thuật (Cf. Bùi Đẹp, tập3, tr. 306), rồi bức tranh bữa tiệc ly được hoàn thành năm 1497 đã mô tả thành công tính cách và hoạt động nội tâm của các nhân vật: người thì ngạc nhiên, người thì tức giận, người thì buồn bả, người thì biểu lộ sự ngay thẳng trung thực của mình… Khi nghe Thầy Giêsu nói trong các ông sẽ có kẻ phản bội; Đến nhà tài hoa xuất chúng Michelangelo (1475-1564) với các tác phẩm “Sáng tạo thế giới” được vẽ trên tầng nhà thờ Xixtin ở La Mã suốt 4 năm trời, và “Cuộc phán xét cuối cùng” thì vẽ trên tường nhà thờ trong khung cảnh con người bị xét xử (Cf. VD Ninh, tr. 278); Chính Ông cũng là người đã chỉ đạo xây dựng nhà thờ lớn nhất thế giới là nhà thờ Thánh Phêrô năm 1545 (Cf. NV Dân, tr.188), và hầu hết các bức tranh trang trí nhà thờ đều lấy từ tác phẩm của Ông (Cf. Bùi Đẹp, tập 4, tr. 313); Kế đến là nhà họa sĩ thiên tài Raphael (1483-1520) với những bức họa chân dung, Ông thể hiện được một cách sống động vẽ đẹp tươi tắn của các cô gái, vẽ dịu hiềncủa người mẹ, và nét thơ ngây đáng yêu của các trẻ con (Cf. VD Ninh, tr. 278).

Triết Học

Các truyết thuyết thời cổ đại được phục hưng với cái nhìn mới vế con người và vũ trụ, nhất là thuyết Platon và Aristote; Người đầu tiên phát khởi phong trào là Erasme (1469-1564), Ông chính là“Hoàng tử của các nhà khảo cổ học” và cũng là tu sĩ linh mục, nhờ ngao du khắp nơi để tiếp xúc với các nhà khảo cổ và su tầm các bản văn cổ mà năm 1498 Ông đã thu thập được tinh hoa của di sản văn hóa cổ đại trong tập cách ngôn của mình (Cf. NV Dân, tr.171); Rồi với tác phẩm nổi tiếng “Lời khen dành cho sự điên khùng” (1511) đã châm chọc chua cay cho mọi giới trong xã hội hiện thời, và nhờ vào nghệ thuật in ấn Ông đã xuất bản nhiều công trình của các nhà văn cổ đại, nhất là các Giáo Phụ, trong đó nổi tiếng nhất là quyển ghi chú và phêbình Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp năm 1516 (Cf. DT Đức, bài, tr. 4).
Tiếp đến là vị Hồng Y Nicolai Kudan (1401-1464), Ông muốn thay thế thần học trung cổ bằng thần học mới, triết của Ông chịu ảnh hưởng Platon và các tư tưởng nhân đạo trong thời này, nên luôn đề cao giá trị con người, cũng chính Ông là người đưa ra quan điểm tự nhiên thần luận (Cf. Bùi Thanh Quất, tr. 212).

Khoa Học

Bên cạnh đó, nhà thiên văn học và cũng là nhà triết học Nicôlai Côpécnic (1473-1543) đã mở đầu cho bước nhảy vọt về khoa học tự nhiên với thuyết “Nhật tâm”, coi mặt trời là trung tâm, trái đất và các hành tinh đều xoay quanh mặt trời, thuyết này hoàn toàn bác bỏ thuyết “Địa tâm” của Ptolêmê đã ngự trị suốt 14 thế kỷ, chính Angghen cũng viết: “nhờ tác phẩm bất hữu này mà khoa học tự nhiên mới bắt đầu được giải phóng khỏi thần học” (Cf. BT Quất, tr. 213); Thật vậy, thuyết của Ông được hoàn thành năm 1536 với tác phẩm bàn về sự vận hành của thiên thể, nhưng vì sợ bị Giáo Hội kết án là dị đoan nên trước khi chết mấy hôm Ông mới dám công bố vào năm 1543 (VD Ninh, tr. 280).
Người hưởng ứng tích cực học thuyết của Côpécnic là nhà thiên văn học Ý Gioócđanô Brunô (1548-1600), Ông cũng là một linh mục, nhưng dù bị Giáo Hội cấm lưu hành tác phẩm của Côpécnic thì Ông lại phát triển thêm một bước nữa: cho rằng vũ trụ là vô tận, mặt trời không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là trung tâm của thái dương hệ chúng ta, ngoài ra còn nhiều thái dương hệ khác nữa; Rồi cũng nhà thiên văn học Ý là Galile (1564-1642) lại tiếp tục phát triển quan điểm này, Ông cũng là người đầu tiên dùng kính viễn vọng phóng to gấp 30 lần để quan sát bầu trời, và là người mở đầu cho ngành khoa học thực nghiệm; Đồng thời với Ông, Kepler (1571-1630) cũng đã phát minh ra ba qui luật quan trọng về sự vận hành của các hành tinh quanh mặt trời (Cf. VD Ninh, tr. 280-281)
Sự tiến bộ của khoa học ngày càng lan rộng khắp nơi; Hội khoa học (Academia Secretorum Naturae) được thành lập đầu tiên ở Ý tại Napoli năm 1560, còn ở Pháp thì có nhà toán học Francois Vie`te cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề Canon mathematicus (qui tắc toán học) để áp dụng đại số cho hình học năm 1577; Còn ở Pháp thì Pene’ Descartes (1596-1650) cho xuất bản cuốn sách luận đề về phương pháp năm 1637 (Cf. NV Dân, tr. 221-203).

4. Trào Lưu Tư Tưởng

Trào lưu văn hóa phục hưng là cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng của giai cấp tư sản mới ra đời nhằm đáp ứng cho đời sống tinh thần của mình, đồng thời cũng để phản kháng lại thần học kinh viện và tư tưởng của giai cấp phong kiến thời bấy giờ; Các nước cộng hòa thành thị đầu tiên ra đời ở miền bắc nước Ý như Phirenxê, Vênêxia, Giênôva… đã chứng minh điều đó (Cf. VD Ninh, tr. 271)
Tư tưởng chủ đạo phong trào là chủ nghĩa nhân văn (Humanisme), là hệ tư tưởng chú trọng đến con người, chỉ chú ý đến cuộc sống hiện tại, và chủ trương con người được quyền hưởng mọi lạc thú ở đời. Nó được thể hiện qua các mặt:
Lên án, đã kích và châm biếm sự dốt nát, giả nhân giả nghĩa của các Giáo Sĩ và giai cấp phong kiến
Chống lại quan niệm của Giáo Hội về con người và cuộc sống trần gian
Đề cao tinh thần dân tộc, tình yêu đối với tổ quốc và tiếng nói của nước mình
Chống những quan điểm phản khoa học và chủ nghĩa duy tâm (Cf. VD Ninh, tr. 282-288).
Có thể nói, phong trào đã mở ra một tư tưởng kỷ nguyên mới, các trào lưu tư tưởng xuất hiện dưới nhiều hình thức với các chủ thuyết phức tạp, đa dạng, thường thì riêng biệt và thiếu liên lạc với nhau; Chẳng hạn, phong trào văn hóa phục hưng thì hướng về thiên nhiên và đề cao con người một cách độc đáo, còn phong trào cải cách thì đã kích thiên nhiên và con người để đề cao Thiên Chúa và ân sủng. Nhưng nhìn chung thì tất cả đều có một điểm tương đồng là chống lại với kinh viện triết và bất phục tùng Giáo Hội.

II. ẢNH HƯỞNG

Biểu hiện phổ biến của thời kỳ này là cao trào khoa học, văn nghệ và nghệ thuật; phong trào đã đem lại những manh nha và thành quả về các mặt: thi ca, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, phát minh khoa học kỷ thuật, cải cách tôn giáo, tự do tư tưởng, chiến tranh nông dân v.v.. Nhưng điều quan trọng là tất cả đã phát triển thành một cuộc cách mạng về tư tưởng, khiến con người có cái nhìn mới về bản thân, về Thượng Đế, về tự nhiên và về xã hội. Chính Hamlet dưới ngòi bút của Shakespear đã thét lên: con người là “tinh hoa của vũ trụ”, “là đấng cao cả của vạn vật”.

Nói chung, xã hội sau thời phục hưng và cải cách làm thức tỉnh con người dám trực diện với nhân sinh, biết tận dụng hết khả năng của mình; Những phát kiến về địa lý, sự hưng khởi của cải cách tôn giáo, sự tìm tòi khoa học… đều là kết quả của sự nhận thức về năng lực và sứ mạng của con người. Những trào lưu mới xuất hiện như tư tưởng bình đẳng, ý thức dân tộc bắt đầu phát triển mạnh mẽ; Tuy nhiên, điều gì cũng có hai mặt của nó, nghĩa là mặt tích cực và tiêu cực đi đôi với nhau:

1. Tiêu cực:

Những cuộc thám hiểm các vùng đất mới làm nẩy sinh nạn buôn bán nô lệ da đen và chế độ thực dân tàn bạo ra đời; Người Châu Phi trở thành món hàng đem bán ở Châu Mỹ và là nguồn sức lao động trong các đồn điền, hầm mỏ, công trường,… Các nước mạnh nhanh chóng biến nơi vừa phát khởi thành thuộc địa để khai thác và bốc lột: Bồ Đào Nha chiếm các vùng ở Châu Phi, vùng Goa ở Ấn Độ và Braxini; Tây Ban Nha thì chiếm vùng trung Nam Mỹ và Philippin; Anh và Pháp thì xâu xé Châu Phi, Châu Á, và các đảo trên Thái Bình Dương,…Đây cũng chính là thời khởi đầu cho quá trình xâm lược và chiếm đóng thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, và cũng là thời kỳ được coi như những vết nhơ trong lịch sử văn minh loài người (Cf. VD Ninh, tr. 307-308). Chính tu sĩ Bartolome de las Casas đã phải mạnh mẽ lên tiếng bên vực người da đỏ Châu Mỹ trong ba tập của bộ sách “Historia General de las Indias” của Ông năm 1551 (Cf. NV Dân, tr.198).
Đối với người công giáo thì sự ly khai của Tin Lành là một thảm kịch lớn lao, không chỉ vì nó khởi đầu một ngăn cách trong nhiệm thể Chúa Kytô, nhưng còn vì sự canh tân tích cực và cần thiết mà lẽ ra Luther đã có thể hoàn tất trong lòng Giáo Hội; Nhất là cuộc canh tân xảy ra ngay lúc đời sống của Giáo Hội đang trong tình trạng suy đồi, vì vậy mà có sử gia cho rằng: “cuộc cải cách xảy ra không vì Aâu Châu quá trần tục mà là vì quá đạo đức”. Rồi việc tu sĩ Bruno bị kết án thiêu sinh năm 1600, đến 1633 thì Galileo cũng bị kết án vì “đã tin theo và bảo vệ một học thuyết trái với Kinh Thánh”… Chính sự hà khắc và những sai lầm nối tiếp nhau đã tạo nên một vết đen trong lịch sử Giáo Hội; Và cũng vì các việc này mà những trào lưu tư tưởng vô thần có cơ hội, lấy đó làm nền tảng để phát triển học thuyết chống tôn giáo của mình. Vì vụ án tai tiếng nhất trong phạm vi khoa học này mà nhân ngày sinh của Einstein, Đức Gioan Phaolô II cũng đã công khai tỏ ra hối tiếc vì bản án dành cho Galileo; Ngài nói: Galileo cũng vĩ đại không kém Einstein, nhưng chỉ khác với Einstein là Galileo đã phải chịu muôn vàng khổ đau, từ phía con người cũng như từ phía Giáo Hội (Cf. Nguyễn Thế Thoại, tr. 87-88).

2. Tích cực

Với Giáo Hội Công Giáo, sau việc cải cách mạnh mẽ của Tin Lành, đã làm phát sinh các nổ lực cải tổ và canh tân một cách cần mẫn trong lòng Giáo Hội; Những nổ lực và cố gắng của mọi thành phần dân Chúa đã dẫn đưa đến Công Đồng canh tân Tridentinô (1545-1563). Công Đồng đã bắt đầu làm sáng tỏ và xát định những gì là giáo huấn của Giáo Hội, và sau Công Đồng, Giáo Hội gần như đã được thanh luyện, được canh tân triệt để và phản ảnh đời sống Đức Kytô rỏ ràng hơn, đây chính là mùa xuân mới, mùa hoa đức tin lại bừng nở và nhiều người công giáo sống đạo đức hơn; Đặc biệt nhất là việc phát động thành lập các dòng tu, cũng như việc cải tổ những dòng hiện có; nhờ việc canh tân đời sống bí tích và phụng vụ của Giáo Hội, mà nhiều dòng tu xuất hiện gắn liền với các vị thánh, điển hình là Inhasiô Loyôla (1491-1556), Ngài thành lập dòng Tên năm 1534 và được Giáo Hoàng công nhận năm 1539; Rồi sự cố gắng của thánh Têrêsa Avila (1515-1582); Đến Gioan thánh giá (1542-1591); Ở Rôma hội dòng của thánh Philip Nêri được thành lập năm 1517;… Sự thể hiện mạnh mẽ đời sống linh đạo nơi các dòng tu này đã khởi xướng phong trào truyền giáo đến các vùng đất mới vừa phát hiện, và chỉ trong vòng một thế kỷ, mà Giáo Hội đã đưa Tin Mừng tới Bắc và Nam Mỹ, các vùng duyên hải Phi Châu, Aán Độ, Philippines, Nhật Bản và Trung Hoa,… Rồi Việt Nam. Đây chính là thời kỳ truyền giáo lớn nhất của lịch sử Giáo Hội.

Còn đối với thế giới, thì thời kỳ này là một bước tiến diệu kỳ trong lịch sử văn minh ở Tây Aâu, các nhà văn nghệ sĩ, khoa học, triết học,.. đã đóng gớp trí tuệ và tài năng tuyệt vời của mình vào phong trào bằng những tác phẩm và những công trình bất hủ, tất cả đã hòa quyện lại với nhau làm phong phú thêm kho tàng văn hóa của nhân loại. Việc hoàn thiện máy in, rồi phát minh ra cách vẽ tranh sơn dầu, luật viễn cận, luật sáng tối trên lãnh vực hội họa, hoặc những quan điểm mới về thiên văn học, các phát minh về y học.v.v.. Đều đặt cơ sở và mở đường cho sự phát triển của văn hóa nhân loại trong những thế kỷ tới.

III. KẾT LUẬN

Thời phục hưng và cải cách đã đánh dấu một bước ngoặc trọng đại trong lịch sử thế giới, tất cả mọi lãnh vực của cuộc sống đều có những biến chuyển vượt bậc và làm nền tảng cho sự phát triển mai sau. Thời này đã để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quí giá trong cuộc sống, nhất là qua tinh thần của các vĩ nhân tài ba xuất chúng làm cho mình hãnh diện về khả năng siêu việt của con người và nung đúc thêm sự rèn luyện học hỏi không ngừng nơi bản thân hầu có được một sự hiểu biết nào đó nơi con người và vũ trụ kỳ diệu quanh mình. Tuy nhiên, con người cũng có những giới hạn và khả năng bất toàn nơi bản thân, sự hùng vĩ và huyền bí của thế giới mà mình từng bước khám phá giúp mình nhận ra rằng con người không thể hiểu thấu tất cả, dẫn đến niềm tin mạnh mẽ phải có một Đấng Toàn Năng dìu dắt, hướng dẫn một cách tài tình. Là con người chúng ta chỉ biết đón nhận và vui hưởng vẽ diệu kỳ, đẹp đẽ đó trong tin yêu và phó thác cho Đấng quan phòng.
Chủ nghĩa nhân văn phát triển khắp nơi, và“Có khuynh hướng coi cuộc sống chật hẹp của mình là trung tâm của thế giới, cả việc xem cuộc sống riêng mình là tiêu chuẩn của vũ trụ”. Nhưng nhà tư tưởng Michel de Montaigne (1535-1592) thì nhận định: “điều đó không những không hiểu hết về mình, mà sinh vật ưu đẳng đáng thương và nhỏ bé, tự xưng là chủ và chí tôn của vũ trụ còn phải chịu chi phối của vạn vật, liệu có thể tưởng tượng ra cò điều gì nực cười hơn không ?; kỳ thực, ngay tới một mảy mai của vũ trụ, con người cũng không thể nhận thức được, càng không thể bàn tới việc làm chủ và chế ngự vũ trụ nữa ?”.
Trong lãnh vực triết học, tiếp tục luận thuyết duy vật cổ đại, nhưng làm sâu sắc thêm về lý luận nhận thức của con người thời đại, còn khoa học thì đã cải tiến được cái nhìn về vũ trụ, lãnh vực thiên văn học xuất hiện những nhà bác học trứ danh làm cho hệ thống của Ptôlêmeé bị lật đỗ sau khi ngự trị 14 thế kỷ; Trong thần học thì Luther và Calvine đã làm chấn động thế giới tôn giáo với nguyên tắc “tự nhiên xác tín” làm nền tảng của tôn giáo, đặt nền cho thuyết chủ quan và cá nhân .
Với những phát kiến mới về các bộ môn khoa học và nhiều bình diện khác trong cuộc sống con người, dần dần hình thành khuynh hướng “độc lập khỏi tôn giáo và Giáo Hội”, thần khoa học ra đời, biến đổi dần bộ mặt nhân loại và phát triển mạnh mẽ trong những thế kỷ kế tiếp, có người còn cho rằng: khoa học sẽ xóa bỏ được niềm tin tôn giáo của nhân loại, bởi vì “Thiên Chúa đã chết” (Nietzsche). Nói chung thì hầu hết các tư tưởng vô thần đều dựa trên sự tiến bộ vượt bậc của khoa học mà đả phá Thánh Kinh, loại bỏ Thượng Đế sáng tạo ra khỏi cuộc sống con người, họ bắt đầu xây dựng cơ nghiệp cho mình trong thế giới giải thiêng và lấy trái đất làm quê hương của mình. Thế nhưng song song đó, cũng có nhiều nhà khoa học vĩ đại đã tin vào Thượng Đế hơn nhờ kiến thức khoa học của mình như Einstein, còn Pierre paul Grassé thì trở lại đức tin nhờ vào suy tư khoa học,…
Để kết thúc bài này chúng ta hãy cùng đọc lời nhận xét của Jean Delumeau, Ông viết: “Ngày xưa, những nhà thần học gia… đã hơi quá đáng khi tuyên bố mình có đủ thẩm quyền trên mọi sự; ngày nay, phải chăng tình thế đảo ngược, mà một số nhà khoa học đã phạm sai lầm tương tự khi đòi quyết đón trên những lãnh vực mà khoa học không với tới và sẽ không bao giờ với tới được…” Và Ông nhận định rằng: khoa học phải cố gắng tiến xa, nhưng phải được soi sáng dưới lăng kính Kytô-Giáo.

Nguồn: lasan.org​
 

uocmo_kchodoi

Moderator
KIẾN TRÚC THỜI KỲ PHỤC HƯNG

Thời kỳ Phục Hưng là thời kỳ hoàng kim của kiến trúc cổ. Chắc hẳn bạn đã từng nghe đến những công trình tuyệt mỹ, đồ sộ như Cung điện Stupingi, Royal house of Savoy, nhà thờ Florence, Saint Pierre... Với những nét độc đáo của mình, kiến trúc Phục Hưng thể hiện rõ nét đời sống tinh thần cũng như tư tưởng của con người, lý tưởng mà con người thời bấy giờ hướng tới. Hãy cũng butnghien tìm hiểu về kiến trúc thời Phục Hưng này nhé!

1. Khởi nguồn của kiến trúc Phục Hưng

Kiến trúc thời kỳ Phục hưng là kiến trúc nổi bật nhất trong giai đoạn từ giữa thế kỷ 14 đầu thế kỷ 17 và phát triển, ảnh hưởng lẫn nhau ở các vùng khác nhau trong châu Âu. Kiến trúc phục hưng là sự vận dụng, sáng tạo trong việc kết hợp hài hòa giữa tư tưởng kiến trúc Hy Lạp và La Mã cổ đại. Phong cách kiến trúc Phục hưng còn mang hơi thở của kiến trúc Gothic và kiến trúc Baroque. Phát triển đầu tiên tại Florence, sau đó nhanh chóng lan ra các thành phố khác của Ý, rồi ảnh hưởng lên hầu khắp các quốc gia Châu Âu, tuy nhiên hiện nay các công trình kiến trúc còn lưu giữ nhiều nhất là ở Ý.

sanh_tron_kien_truc_phuc_hung.jpg

Sảnh hình tròn trong kiến trúc Phục hưng

Kiến trúc thời Phục Hưng mang đậm sự ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa. Những hiểu biết về con người, tôn vinh vai trò và vị trí của con người được khám phá và phát triển mạnh trong thời gian này. Thời kỳ này con người được xem như thần thánh, là những đứa con của đấng sáng tạo, của Chúa. Từ những năm đầu của thế kỷ 15, nhiều nhà kiến trúc nổi tiếng đã bắt đầu xuất hiện, tên tuổi của họ vẫn còn lưu giữ đến ngày nay như: Leonardo da Vinci, Raphael, Michenlangelo…

2. Các giai đoạn phát triển của kiến trúc thời kỳ Phục Hưng

Kiến trúc thời kỳ Phục Hưng là kiến trúc của thời kỳ giữa thế kỷ 14 và đầu 17 đầu ở các vùng khác nhau của châu Âu, thể hiện một sự hồi sinh và phát triển của một số yếu tố của tư tưởng Hy Lạp và La Mã cổ đại và văn hóa vật chất có ý thức. Phong cách, kiến trúc Phục hưng theo kiến trúc Gothic và được kế tục bởi kiến trúc Baroque. Phát triển đầu tiên tại Florence, với Filippo Brunelleschi là một trong những sáng tạo của mình, phong cách thời Phục hưng nhanh chóng lan sang các thành phố khác của Ý. Các phong cách được chuyển đến Pháp, Đức, Anh, Nga và các bộ phận khác của châu Âu vào những thời điểm khác nhau và với mức độ tác động khác nhau.

Phong cách Phục hưng nhấn mạnh vào tính đối xứng, tỷ lệ hình học và sự hài hòa của các cấu trúc như đã được thể hiện trong kiến trúc cổ điển và đặc biệt là kiến trúc La Mã cổ đại, qua đó nó được gìn giữ lại. Sự sắp xếp hợp lý của cột trụ, lanh tô, cũng như việc sử dụng các mái vòm bán nguyệt, bán cầu, các hốc tường và aedicules để thay thế cho các hệ thống có nhiều phức tạp hơn của các tòa nhà trung cổ.

01._Kien-truc-phuc-Hung.png

Mặt tiền nhà hát lớn Semper, Dresden, Đức​

02._Kien-truc-phuc-Hung.png

Đài phun nước Trevi ở Rome​

Các giai đoạn chính

Các nhà sử học thường chia thời kỳ Phục hưng ở Ý thành ba giai đoạn. Trong khi đó, các nhà sử học nghệ thuật có thể nói về một "Early Renaissance" thời gian, trong đó họ bao gồm phát triển trong hội họa và điêu khắc từ thế kỷ 14, điều này thường không phải là trường hợp trong lịch sử kiến trúc. Các điều kiện kinh tế ảm đạm của những năm cuối thế kỷ 14 đã không tạo ra các tòa nhà được coi là một phần của thời kỳ Phục hưng. Kết quả là, từ "Renaissance" giữa các nhà sử kiến trúc thường được áp dụng cho giai đoạn 1400 đến khoảng 1525, sau đó các trường hợp còn lại của Renaissances không phải người Ý.
Các nhà sử học thường sử dụng các mô tả sau đây:

· Tiền kỳ Phục hưng (khoảng 1400-1500); thường gọi là Quattrocento.
· Thịnh kỳ Phục hưng (khoảng 1500-1525)
· Hậu kỳ Phục hưng (thói quen) (khoảng 1520-1600)

- Quattrocento (1400-1500) là thời kỳ mà các khái niệm và nguyên tắc bắt đầu hình thành. Các nghiên cứu về thời cổ đại đã dẫn đến việc áp dụng các cấu trúc và chi tiết trang trí La Mã. Không gian, một yếu tố của kiến trúc, được tổ chức lại theo tỷ lệ logic và hình học, chứ không phải được tạo ra bởi trực giác như trong các tòa nhà thời Trung Cổ. Kiến trúc sư Filippo Brunelleschi là người tiên phong phát triển kiến trúc Phục hưng. Yếu tố quan trọng nhất mà ông nhấn mạnh là trật tự rõ ràng. Ông nhận thấy, kiến trúc cổ La Mã có tính chất toán học, thứ mà kiến trúc Gothic hoàn toàn không có.



16._Kien-truc-noi-tieng-tren-the-gioi.png

Nhà thờ Santa Maria del Fiore- Công trình kiến trúc vĩ đại. Đây là công trình kiến trúc ấn tượng nhất của thời kỳ Phục hưng do kiến trúc sư Filippo Brunelleschi thiết kế và hiện nay vẫn là mái vòm bằng gạch lớn nhất từng được xây dựng trên thế giới.

- Trong thời kỳ Phục hưng đỉnh cao (1500-1525) các khái niệm cổ điển được phát triển và sử dụng thuần thục hơn. Kiến trúc sư tiêu biểu nhất cho giai đoạn này là Bramante (1444–1514), người mở rộng và áp dụng kiến trúc cổ điển vào các tòa nhà đương thời. Phong cách thiết kế của Bramante có ảnh hưởng sâu rộng đến kiến trúc Ý trong thế kỷ 16. Công trình thời này bắt đầu được trang trí cầu kỳ hơn.



10._Kien-truc-noi-tieng-tren-the-gioi.png

Tòa thánh Vatican - Công trình kiến trúc nổi tiếng của Bramante​

- Những nghệ sỹ trường phái Kiểu cách (1520-1600) đã dùng các yếu tố kiến trúc một cách sáng tạo và phóng khoáng hơn. Michelangelo là kiến trúc sư nổi tiếng nhất của trường phái kiểu cách. Ông là người phát minh ra cách đặt cột cao nhiều tầng trước mặt tiền nhà.

12._Kien-truc-noi-tieng-tren-the-gioi.png

Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Vatican​

Năm 1546, Michelangelo được chỉ định làm kiến trúc sư Vương cung thánh đường Thánh Phêrô tại Vatican. Đây là công trình kiến trúc quan trọng nhất của ông, và cũng là công trình kiến trúc quan trọng nhất đối với Giáo hội Công giáo. Ông đã thiết kế mái vòm nổi tiếng của nó

03._Kien-truc-phuc-Hung.png


Viện bảo tàng Vatican trong Thành Vatican​

05._Kien-truc-phuc-Hung.png

The Royal Château de Blois được thiết kế theo 3 phong cách khác nhau: Cổ điển, Phục hưng, và phong cách Gothic (từ trái sang phải)

06._Kien-truc-phuc-Hung.png

Nhà thờ St.Peter (Basilica di San Pietro)​

08._Kien-truc-phuc-Hung.png

Đài phun nước Trevi là một đài phun nước ở quận Trevi ở Roma, Italia, do kiến trúc sư Ý Nicola Salvi thiết kế và hoàn thiện bởi Pietro Bracci
3. Đặc điểm của kiến trúc thời kỳ Phục Hưng

Trước thời kỳ phục hưng là thời hoàng kim của phong cách kiến trúc Gothic với đặc điểm chính là những chóp nhọn hướng lên trời mang ý nghĩa tâm linh như thành kính đối với thần linh. Đến thời kỳ phục hưng thì kiến trúc Gothic dần bị tẩy chay do con người nhận ra quyền năng của họ có thể sánh ngang với thần linh, và bắt đầu hồi sinh cho kiến trúc La Mã, Hy Lạp bởi những kiến trúc này thể hiện sự hùng vĩ, mạnh mẽ mà con người thời này hướng đến. Tuy nhiên nguyên tắc lớn nhất trong kiến trúc Phục hưng là tôn trọng nét cổ điển, chuẩn mực của nghệ thuật thời cổ đại.

Kiến trúc Phục hưng là sự kết hợp hài hòa của các nguyên tắc toán học, vật lý học liên quan đến sự tổ hợp, tính quy luật và sự ổn đinh. Thời kỳ này con người đã biết đến sức mạnh của mình qua các cuộc chiến tranh quân sự, những phát minh khoa học hiện đại do đó thông qua việc vận dụng các môn khoa học của toán như hình học, tỉ lệ học mà xác định tính chính xác của công trình. Không như phong cách kiến trúc trước đó là Baroque hay Gothic chỉ tôn vinh thần thánh, thời phục hưng tiếp tục phát triển những tỷ lệ vàng mà nhà toán học, hình học Pythagore đã đưa ra 1:1, 1:2, 2:3, 3:4 để kiến tạo vẻ đẹp cho không gian.

Trong phong cách kiến trúc phục hưng, dễ dàng nhận ra các công trình này hầu hết đều mang yếu tố hình học là hình tròn hay hình vuông, thời kỳ này con người cũng dựa theo hiểu biết của mình để xác định tỉ lệ vàng của con người, theo đó những ai có được tỉ lệ vàng này sẽ là chuẩn mực nét đẹp của xã hội.

Kiến trúc phục hưng mang ý nghĩa làm sống lại phong cách kiến trúc thời kỳ La Mã và Hy Lạp cổ đại, tuy nhiên hơn 1000 năm đã trôi qua tất cả mọi mặt từ kinh tế, chính trị hay văn hóa xã hội đều đã có sự thay đổi khổng lồ, thế nên sự phục hồi này không phải là “bê nguyên xi” kiến trúc cổ đại vào mà là sự vận dụng phát triển sáng tạo sao cho phù hợp nhất với văn hóa xã hội mỗi vùng, miền, quốc gia. Những nét kiến trúc của La Mã được giữ nguyên trong kiến trúc phục hưng là: Vòm cuốn, 5 thức cột.

Những đặc điểm chỉnh mang nét riêng của phong cách phục hưng là:

- Sử dụng các thành phần cổ điển trong sáng tác

- Sử dụng các hình thức vòm ovan đồ sộ mang hơi thở của Baroque

- Sự đa dạng về các loại hình kiến trúc tuy nhiên chủ yếu là: nhà thờ, lâu đài và biệt thự, nhà thép tiền chế.. những công trình có kích thước lớn.

Thời kỳ cổ đại, những lâu đài do các vua chúa xây nên mang nặng chất phòng thủ, do thời kỳ này chiến tranh nổ ra liên miên nhằm tranh giành lãnh thổ. Thế nhưng những lâu đài Phục hưng lại mang đậm chất trang trí, thể hiện sự xa hoa, giàu có của tầng lớp quý tộc, vua chúa thời bấy giờ, thường có dạng chữ nhật, lối vào chính dẫn vào một sân trong lấy ánh sáng ở trên xuống, hành lang được trang trí khảm đá. Ở một số công trình nhiều tầng thì còn sử dụng kết hợp tầng 1 dùng thức cột Doric, tầng 2 dùng cột Ionic còn tầng 3 dùng cột Corinth

Trong khi đó các nhà thờ thời phục hưng không còn lưu giữ những chóp nhọn như thời gothic mà chuyển sang các mái vòm lớn với rất nhiều những hình ảnh tranh khảm nạm được trưng bày trên tường và bên trong nội thất.

Những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất của thời này còn lưu giữ đến ngày nay như: thánh đường Santa Maria de Fario, nhà thờ St Peter

Mặt tiền

Mặt tiền được bố trí đối xứng với trục thẳng đứng của công trình. Mặt tiền nhà thờ thường được chọn giải pháp bởi một hình tam giác và tổ chức thêm một hệ thống cột trụ tường, vòm và hình thức mũ cột. Các cột và cửa sổ hiển thị một sự tiến triển về phía trung tâm. Một trong những mặt tiền Renaissance đầu tiên là Nhà thờ Pienza (1459-1462), đã được giao cho kiến trúc sư Florentine là Bernardo Gambarelli (còn được gọi là Rossellino) theo như kiến trúc sư Alberti có lẽ đã giải quyết tốt một số nhiệm vụ yêu cầu của đồ án thiết kế.

Mặt tiền các tòa nhà dân dụng thường được chọn giải pháp gờ chỉ phào. Có một sự lặp lại thường xuyên của các lỗ hở trên mỗi tầng, cửa đi đặt ở trung tâm được đánh dấu bằng những chi tiết có tính năng như một ban công, hoặc trát vữa nhám chung quanh. Một nguyên mẫu điễn hình là mặt tiền cho Palazzo Rucellai (1446 và 1451) ở Florence chỉ định với ba hàng trụ ốp tường.

17.-Mat-tien-kien-truc-Phuc-hung.jpg

Cột và trụ

Các thức cột La Mã được sử dụng: Tuscan, Doric, Ionic, Corinthian và Composite. Các hình thức này không những là một cấu trúc, chống đỡ mái vòm hoặc đầu dầm, hoặc hoàn toàn dùng để trang trí, được đặt áp sát các bức tường dưới hình dạng những trụ ốp tường. Trong thời kỳ Phục hưng, kiến trúc sư có mục đích sử dụng cột, pilasters, và entablatures như một hệ thống tích hợp. Một trong những công trình đầu tiên sử dụng pilasters như một hệ thống tích hợp là The Old Sacristy (1421-1440) của Brunelleschi.

15._Kien-truc-noi-tieng-tren-the-gioi.png

Cột trụ thời kì phục hưng​
Cung

Cung là nửa vòng tròn, hoặc (trong phong cách Mannerist) là một phân đoạn. Arches thường được sử dụng trong hành lan lối đi trong nhà, được tựa trên các trụ cột hoặc đầu mũ cột. Có thể là một thành phần của entablature giữa mũ cột và chân vòng cung. Alberti là một trong những người đầu tiên sử dụng kiến trúc trên một quy mô hoành tráng tại công trình St. Andrea ở Mantua.

Vòm

Vòm cong không có sườn. Là một nửa vòng tròn, hoặc một phân đoạn đặt trên một mặt vuông, không giống như các vòm Gothic thường có hình chữ nhật. Vòm cong được trở lại trong thuật ngữ kiến trúc tại công trình St .Andrea ở Mantua.

Domes

Những mái vòm được sử dụng thường xuyên, một mặt là một cấu trúc to lớn có thể nhìn thấy từ bên ngoài, còn được coi như một giải pháp cho phần mái trong không gian nhỏ hơn nơi chỉ có thể nhìn thấy bên trong. Sau thành công của các mái vòm trong thiết kế của Brunelleschi cho Basilica di Santa Maria del Fiore và sử dụng trong đồ án Bramante cho Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô (1506) ở Rome, mái vòm đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong kiến trúc nhà thờ và sau đó ngay cả đối với kiến trúc thế tục, như Villa Rotonda Palladio.

16._Kien-truc-noi-tieng-tren-the-gioi.png

Mái vòm Tòa thánh Vatican​
Trần nhà

Mái nhà được tương thích với trần nhà bằng phẳng hoặc có phân ô. Không còn bỏ ngỏ như trong kiến trúc thời Trung Cổ. Thường được sơn phết hoặc trang trí công phu.

Cửa

Cửa ra vào thường có dầm đỡ vuông. Có thể được đặt trong một cung hoặc được bao phủ bằng một hình tam giác tam giác hoặc phần trán tường. Lối vào mà không có cửa thường có dạng cong và được trang trí với quy mô rộng lớn

Cửa sổ

Cửa sổ có thể được ghép nối và đặt trong một vòm bán nguyệt. Có thể có các dầm đỡ vuông và tam giác hoặc một phần trán tường, đó là cách thường được sử dụng phổ biến. Điển hình trong lĩnh vực này là công trình Palazzo Farnese ở Rome, bắt đầu từ năm 1517. Trong giai đoạn Mannerist các cung "Palladian" đã được dung nhiều, thường sử dụng một motif của một cao nửa vòng tròn mở hai bên có hai đầu lỗ vuông thấp hơn. Cửa sổ được sử dụng để đem ánh sáng vào tòa nhà. Kính màu thường được sử dụng, mặc dù đôi khi hiện nay, không phải là một tiêu chí.

14._Kien-truc-noi-tieng-tren-the-gioi.png

Cửa và cửa sổ trong kiến trúc thời phục hưng​

Tường

Bức tường bên ngoài thường được xây bằng gạch, tô trát, ốp đá thành khối thẳng. Các góc của tòa nhà thường được nhấn mạnh bằng cách trát vữa nhám bắt góc. Tầng hầm và tầng trệt thường tô nhám, như tại công trình Palazzo Medici Riccardi (1444-1460) ở Florence. Bức tường nội bộ được thông suốt và dán lớp mặt vôi. Để không gian được trang trọng hơn, bề mặt bên trong được trang trí với các bức bích họa.

Chi tiết

Các chi tiết trang trí được chạm khắc với độ chính xác tuyệt vời. Nghiên cứu, nắm vững các chi tiết của thời La Mã cổ đại là một trong những khía cạnh quan trọng của lý thuyết Phục hưng. Có các yêu cầu khác nhau cho mỗi bộ phận khác nhau của từng chi tiết. Một số kiến trúc sư còn chặt chẽ hơn trong việc sử dụng các chi tiết cổ điển hơn những người khác, nhưng cũng là một giải pháp tốt của sự đổi mới trong việc xữ lý các vấn đề kiến trúc, đặc biệt là ở các góc công trình. Gờ chỉ phào làm nổi bật xung quanh cửa ra vào và cửa sổ chứ không phải bị lõm như trong kiến trúc Gothic. Những bức tượng có thể được đặt trong các hốc tường hoặc đặt trên các bệ cột. Việc này chưa được hoàn toàn trong giai đoạn kiến trúc thời Trung cổ.

07._Kien-truc-phuc-Hung.png

Lâu đài Blois (Château de Blois)​

09._Kien-truc-phuc-Hung.png

Kiến trúc phục hưng trong nhà thờ với hệ thống mái vòm và trang trí tráng lệ​

Nguồn: Sưu tầm​
 

duongvn

New member
Xu
0
Kiến thức Chụp ảnh thật phong Phú Các bạn muốn chụp ảnh quay video sản phẩm : Gold Media tư vấn viên phí . chụp ảnh sản phẩm
 
CHAT
  1. No shouts have been posted yet.

Chủ đề mới

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top