“Khí áp, gió và mưa là những yếu tố quan trọng của khí quyển, quyết định thời tiết và khí hậu trên Trái Đất.”
-“Vì sao có gió thổi từ nơi này sang nơi khác?”
-“Điều gì tạo nên mưa?”
-“Khí áp – yếu tố vô hình nhưng chi phối thời tiết”

- Trình bày được sự hình thành các đai khí áp trên Trái Đất, nguyên nhân của sự thay đổi khí áp.

- Trình bày được một số loại gió chính trên Trái Đất; một số loại gió địa phương.

- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa và trình bày được sự phân bố mưa trên thế giới.

- Phân tích được bảng số liệu, hình vẽ, bản đồ, lược đồ về khí áp, gió và mưa.

ĐỊA LÝ 10- KHÍ ÁP VÀ GIÓ, MƯA


I. KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ CHUYÊN SÂU

1. Khí áp


- Trên bề mặt Trái Đất có hai đai khí áp cao cực, hai đai khí áp thấp ôn đới và hai đai khí áp cao cận nhiệt đới, được phân bố đối xứng nhau qua đại áp thấp Xích đạo. Sự hình thành các đại áp có nguồn gốc từ nhiệt động lực.

+ Tại Xích đạo, không khí bị đốt nóng nở ra thăng lên cao nên ở đây hình thành đại áp thấp Xích đạo. Đến tầng bình lưu, không khí chuyển động theo luồng ngang về phía hai cực, nhiệt độ hạ thấp và bị lệch hướng do tác động của lực Côriôlit nên giáng xuống vùng cận chí tuyến, tạo nên đai áp cao cận nhiệt đới.

+ Ở cực, nhiệt độ xuống thấp, không khí co lại nén xuống bề mặt Trái Đất tạo nên đai áp cao cực.

+ Không khí chuyển động từ áp cao cực và từ chí tuyến về ôn đới gặp nhau thăng cao, tạo nên đai áp thấp ôn đới.

+ Tuy nhiên, các đai khí áp trên Trái Đất không liên tục mà bị chia cắt thành các khu khí áp riêng biệt, do sự phân bố xen kẽ giữa lục địa và đại dương.

- Nguyên nhân của sự thay đổi khí áp

+Càng lên cao, không khí càng loãng, sức nén của không khí càng giảm nên khí áp càng nhỏ.

+ Nhiệt độ tăng làm không khí nở ra, tỉ trọng của không khí giảm đi nên khí áp giảm.

+ Không khí có độ ẩm cao thì khí áp giảm. Khi nhiệt độ cao, hơi nước bốc lên nhiều chiếm dần chỗ

của không khí khô làm cho khí áp giảm.

2. Gió

- Một số loại gió chính trên Trái Đất

+ Gió Mậu dịch (Tín phong): Gió Mậu dịch là loại gió thổi gần như quanh năm từ hai khu vực áp cao cận nhiệt đới về phía áp thấp Xích đạo. Gió này có tốc độ thổi đều đặn (trung bình 20 km/giờ) và hướng ít thay đổi. Gió rất khô, đặc biệt là ở trên lục địa; gió này chỉ tạo điều kiện cho mưa khi vượt qua một chặng đường dài trên đại dương và gặp địa hình chắn.

+ Gió Tây ôn đới: Gió Tây ôn đới là loại gió thổi từ khu áp cao cận nhiệt đới về phía khu áp thấp ổn đới ở cả hai bán cầu. Gió này thổi quanh năm và thường đem theo mưa, độ ẩm cao.

+ Gió mùa: Là loại gió thổi theo mùa, hướng ngược nhau giữa lục địa và đại dương. Nguyên nhân chủ yếu là do sự nóng lên hoặc lạnh đi không đều giữa lục địa và đại dương theo mùa. Về mùa đông, lục địa bị mất nhiệt nhanh hình thành các áp cao, gió thổi từ lục địa ra đại dương, có tính chất khô. Đến mùa hạ, lục địa bị đốt nóng nhiều hơn hình thành nên áp thấp, gió từ đại dương thổi vào lục địa, có tính chất ẩm Trên Trái Đất, gió mùa chỉ có ở một số khu vực thuộc đới nóng và một số nơi thuộc vĩ độ trung bình. Tại những nơi này, hoạt động của gió mùa có sự khác nhau. Nam Á và Đông Nam Á là những khu vực có hoạt động của gió mùa điển hình.

- Gió địa phương

+ Gió đất, gió biển: Là loại gió hình thành ở vùng ven biển, có hướng thay đổi theo ngày và đêm.

+ Gió phơn: Là loại gió thổi từ trên núi xuống, nóng và khô.

+ Gió núi – thung lũng: Là loại gió hoạt động theo ngày đêm ở khu vực miền núi. Ban ngày, không khí ở sườn núi được đốt nóng hơn so với không khí xung quanh nên gió thổi lên theo sườn núi và ở trên gió thổi về phía thung lũng. Ban đêm, không khí ở sườn núi lạnh hơn xung quanh nên gió thổi dọc theo sườn xuống dưới, ở dưới không khí bốc lên trên thung lũng.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa

- Khí áp:

+ Ở các khu áp thấp, không khí bị hút vào giữa và đẩy lên cao ngưng tụ tạo thành mây và gây mưa. Trị số khí áp càng thấp, mưa càng lớn. Ví dụ: Ở Xích đạo và ôn đới đều là khu vực áp thấp, nhưng ở Xích đạo mưa lớn hơn nhiều do trị số khí áp nhỏ hơn.

+ Ở các khu áp cao, chỉ có gió thổi đi không có gió thổi đến nên mưa rất ít hoặc không có mưa. Trị số khí áp càng cao, mưa càng ít. Ví dụ: Ở cực và chí tuyến đều là khu vực áp cao, nhưng ở chí tuyến mưa nhiều hơn do trị số khí áp nhỏ hơn.

- Gió: Gió có tính chất khô thường không gây mưa, gió có tính chất ẩm thường gây mưa. Ở những nơi có gió từ biển thổi vào hoặc có hoạt động của gió mùa thường có mưa lớn. Ở những nơi chịu ảnh hưởng của Tín phong thường mưa ít.

- Frông và dải hội tụ nhiệt đới

+ Frông là mặt tiếp xúc của hai khối khí có nguồn gốc và tính chất vật lí khác nhau, nơi không khí bị nhiễu loạn và sinh ra mưa. Dọc các frông nóng cũng như frông lạnh, không khí nóng bốc lên cao tạo thành mây và gây mưa, đó là mưa frông.

+ Dải hội tụ nhiệt đới: Các khối khí nóng ẩm trong vùng nội chí tuyến tiếp xúc với nhau tạo thành dải hội tụ nhiệt đới, gây mưa lớn, đó là mưa dải hội tụ. Lượng mưa dải hội tụ lớn hơn rất nhiều so với mưa frông.

- Dòng biển: Những nơi có dòng biển nóng chảy qua có mưa nhiều vì phía trên dòng biển nóng không khí thường chứa nhiều hơi nước. Ngược lại, những nơi có dòng biển lạnh chảy qua có mưa ít vì phía trên dòng biển lạnh, không khí lạnh nên hơi nước không bốc lên được.

- Địa hình:

+Cùng một sườn núi nhưng lượng mưa lại không giống nhau theo độ cao. Ở vùng nhiệt đới, càng lên cao nhiệt độ càng giảm, mưa càng nhiều; tới một độ cao nào đó sẽ không còn mưa do độ ẩm không khi đã giảm nhiều nên ở các sườn núi cao hoặc đỉnh núi thường ít mưa.

+ Cùng một dãy núi, lượng mưa lại khác nhau giữa sườn đón gió và sườn khuất gió.

4. Sự phân bổ mưa trên thế giới

- Lượng mưa trên thế giới phân bố không đều theo vĩ độ: Xích đạo mưa rất nhiều, chí tuyến mưa ít, ôn đới mưa nhiều, cực mưa rất ít.

- Phân bố mưa trên lục địa: Lượng mưa trên lục địa không giống nhau giữa các khu vực và giữa hai bán cầu. Nguyên nhân là do ảnh hưởng của biển và đại dương, dòng biển nóng và dòng biển lạnh. Ở những nơi gần biển hoặc có dòng biển nóng chảy qua thường mưa nhiều hơn, những nơi sâu trong lục địa hoặc chịu ảnh hưởng của dòng biển lạnh thường mưa ít.

“Khí áp quyết định sự hình thành gió, còn gió lại ảnh hưởng đến sự phân bố mưa. Ba yếu tố này liên kết chặt chẽ, tạo nên thời tiết và khí hậu trên Trái Đất.”

CÓ THỂ BẠN MUỐN XEM :

Khám phá lớp không khí bao quanh Trái Đất

Chuyển động của Trái Đất và những điều kì diệu

 
II. CÂU HỎI VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Câu 1. Khí áp là gì? Áp cao và áp thấp khác nhau như thế nào? Tại sao khí áp trên Trái Đất khác nhau ở mọi nơi?

Hướng dẫn:


- Khí áp:

+ Là sức nén của không khí xuống mặt Trái Đất.

+ Đơn vị đo khí áp là Át motphe, kí hiệu atm, là áp lực của không khí bằng trọng lượng của một cột thuỷ ngân có tiết diện 1 cm và cao 760 mm trên mặt nước biển, trong điều kiện nhiệt độ không khí là 0°. Khí áp còn được đo bằng miliba (mb). 1 atm = 1013 mb. Hiện nay, theo quy ước quốc tế, đơn vị đo khí áp là hectô Paxcan. 1mb = 1 hPa. Cứ lên cao 10m, khí áp giảm 1mmHg. - Sự khác nhau giữa áp cao và áp thấp:

+ Áp thấp (xoáy thuận): Không khí tăng lên với trục quay thẳng đứng ngược chiều kim đồng hồ; khí áp giảm từ ngoài vào trong (cực tiểu ở trung tâm); gió thổi từ ngoài vào tâm; thời tiết ẩm, mây và mưa.

+ Áp cao (xoáy nghịch): Không khí giáng xuống với trục quay thẳng đứng theo chiều kim đồng hồ; khí áp tăng từ ngoài vào tâm (cực đại ở trung tâm); gió thổi từ tâm ra ngoài; thời tiết trong sáng, mùa hè nóng, mùa đông lạnh.

- Khí áp trên Trái Đất khác nhau do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau:

+ Độ cao: Càng lên cao không khí càng loãng nên sức nén càng nhỏ, khí áp giảm.

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng làm không khí nở ra, tỉ trọng giảm đi, khí áp giảm. Nhiệt độ giảm, không khí co lại, tỉ trọng tăng nên khí áp tăng.

+ Độ ẩm: Không khí chứa hơi nước nhẹ hơn không khí khô, vì thế không khí nhiều hơi nước thì khí áp cũng giảm. Khi nhiệt độ cao thì hơi nước bốc lên nhiều, chiếm dần chỗ của không khí khô và làm cho khí áp giảm, điều này xảy ra ở vùng áp thấp Xích đạo.

- Khí áp trên Trái Đất luôn khác nhau ở mọi nơi, do chịu tác động khác nhau ở mỗi nơi của các nhân tố tác động: độ cao, nhiệt độ, độ ẩm.

+ Độ cao: Càng lên cao, không khí càng loãng nên sức nén càng nhỏ, khi áp càng nhỏ.

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng làm không khí nở ra, tỉ trọng giảm đi, khí áp giảm. Nhiệt độ giảm, không khí co lại, tỉ trọng tăng nên khí áp tăng.

+ Độ ẩm: Không khí chứa hơi nước nhẹ hơn không khí khô, vì thế không khí nhiều hơi nước thì khí áp giảm. Khi nhiệt độ cao thì hơi nước bốc lên nhiều, chiếm dần chỗ của không khí khô và làm cho khí áp giảm, điều này xảy ra ở vùng áp thấp Xích đạo.

Câu 2. Phân biệt áp thấp nhiệt đới và bão. Bão thường được hình thành ở đâu? Tại sao ở Xích đạo không có bão?

Hướng dẫn:


- Áp thấp nhiệt đới và bão đều là vùng gió xoáy vào tâm ngược chiều kim đồng hồ có áp suất khí quyển

- Áp thấp nhiệt đới và bão khác nhau về tốc độ gió. Vùng gió xoáy có sức gió mạnh cấp 6 đến cấp 7 (từ thấp hơn những vùng xung quanh, hình thành trên biển nhiệt đới. 17 - 20 m/s hay 39 đến 61 km/h) được gọi là áp thấp nhiệt đới, còn từ cấp 8 trở lên (trên 39 m/s hay trên 62 km/h) được gọi là bão. Trong quá trình phát triển, một áp thấp nhiệt đới có thể mạnh lên thành bão, hoặc ngược lại, một cơn bão có thể suy yếu thành một áp thấp nhiệt đới.

- Sự hình thành bão do phối hợp các điều kiện: Có nhiễu động xoáy thuận ban đầu, áp khuynh hoặc áp hướng, trị số lực Côriôlit đủ lớn để tạo nên hiệu ứng “quay”, nhiệt độ nước trên đại dương không nhỏ hơn 26°C, bất ổn định của khí quyển tạo điều kiện cho đối lưu phát triển.

- Bão thường được hình thành trên các vùng biển phía đông lục địa, ven rìa các áp cao cận chí tuyến ở cả Bắc và Nam bán cầu. Trên các vùng biển nóng của Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Đại Tây Dương, có 5 trung tâm phát sinh bão: Vùng biển ngoài khơi Philippin và Biển Đông, vùng biển Caribe và Angti, vùng biển trong vịnh Bengan và Ôman, vùng biển Nam Ấn Độ Dương và Mađagatxca, vùng biển Đông Bắc Ôtxtrâylia.

- Ở Xích đạo, lực Côriôlit bằng 0, không thể hình thành xoáy, nên không có bão.

Câu 3. Giải thích sự hình thành và phân bố các đại khí áp trên Trái Đất.

Hướng dẫn:


a) Sự hình thành các đại khi áp trên Trái Đất:

- Ở Xích đạo, không khí bị đốt nóng, loãng ra, nhẹ hơn nên thăng lên theo chiều thẳng đứng; tại đó hình thành nên đai áp thấp Xích đạo.

Không khí thăng lên đến tầng bình lưu thì chuyển động ngang về phía hai cực và bị lạnh đi, nặng hơn, lại do lực Côriôlit làm lệch hướng chuyển động nên giáng xuống ở khu vực khoảng vĩ độ 30°B và N, hình thành nên đại cao áp cận chí tuyến.

- Ở cực, do nhiệt độ không khí rất thấp, nên hình thành đai áp cao cực.

- Gió từ đai cao áp cận chí tuyến và từ đai cao áp cực thổi về gặp nhau ở khu vực ôn đới, thăng lên cao, hình thành nên đai áp thấp ôn đới.

b) Sự phân bố các đại khi áp trên Trái Đất:

- Các đại khí áp phân bố xen kẽ nhau và đối diện nhau qua đai áp thấp Xích đạo.

- Mỗi đại khí áp không phân bố thành dải liên tục bao quanh Trái Đất mà bị chia cắt thành các khu khí áp riêng biệt, nguyên nhân chủ yếu là do sự phân bố xen kẽ giữa lục địa và đại dương.

Câu 4. Chứng minh sự hình thành đai áp thấp ôn đới có nguồn gốc từ nhiệt lực. Tại sao ở nơi diễn ra gió Mậu dịch vẫn có những khu vực hoạt động của gió mùa? (Câu hỏi đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2020) Hướng dẫn:

- Nhiệt độ cao ở Xích đạo làm không khí bị nở ra, thăng lên, đến tầng bình lưu chuyển động về phía cực không khí bị lạnh đi và lệch ngang do lực Côriôlit, giáng xuống ở chí tuyến, tạo nên đai áp cao cận chỉ tuyến. Nhiệt độ thấp ở cực làm không khí co lại, nén xuống tạo thành vành đai áp cao cực.

- Gió từ chí tuyến và cực thổi về ôn đới gặp nhau bốc lên cao, tạo nên vành đai áp thấp ôn đới. Gió Mậu dịch thổi từ áp cao cận chí tuyến về áp thấp Xích đạo. Do sự phân bố lục địa, đại dương nên các vành đai áp bị chia cắt thành các khu riêng biệt; đồng thời, do tính chất khác nhau nên giữa lục địa và đại dương hình thành các áp cao và áp thấp theo mùa.

Câu 5. Tại sao sự phân bố các đai khí áp trên Trái Đất thể hiện sự phân bố các vòng đai nhiệt? Hướng dẫn:

- Sự phân bố các vòng đai nhiệt và các đai khí áp trên Trái Đất:

+ Trên Trái Đất có 7 đai khí áp phân bố xen kẽ và đối xứng nhau qua đai áp thấp Xích đạo: đai áp thấp Xích đạo, hai đại áp cao cận chí tuyến, hai đại áp thấp ôn đới, hai đại áp cao cực.

+ Ranh giới các vòng đai nhiệt thường được phân biệt theo các đường đẳng nhiệt. Từ Bắc cực đến Nam cực có bảy vòng đai nhiệt: vòng đai nóng nằm giữa hai đường đẳng nhiệt năm +20°C của hai bán cầu (khoảng giữa hai vĩ tuyến 30°B và 30°N); hai vòng đai ôn hòa ở hai bán cầu nằm giữa hai đường đẳng nhiệt năm +20°C và đường đẳng nhiệt +10°C tháng nóng nhất; hai vòng đai lạnh ở các vĩ độ cận cực của hai bán cầu, nằm giữa hai đường đẳng nhiệt +10°C và 0° của tháng nóng nhất; hai vòng đai băng giá vĩnh cửu bao quanh cực, nhiệt độ quanh năm đều dưới 0°C.

- Nguyên nhân hình thành các đai khí áp trên Trái Đất liên quan chặt chẽ tới nhiệt lực, sự phân bố các đai khí áp gắn với sự phân bố các vòng đai nhiệt.

+ Ở Xích đạo, không khí bị mặt đất đốt nóng, nở ra; nơi đây tạo thành đai áp thấp Xích đạo.

+ Không khí bị mặt đất đốt nóng ở Xích đạo nở ra và bay cao lên, đến một độ cao nào đó bị lạnh đi. Do phía dưới vẫn có các dòng khí đi lên, nên khí lạnh này không hạ xuống lại được mà phải đi về phía hai cực và bị lệch về phía đông do tác dụng của lực Côriôlit. Tới các vĩ độ 30 – 35°, độ lệch đã lên tới 90° so với kinh tuyến, các dòng khí chuyển động song song với vĩ tuyến. Tại đây, không khí đã lạnh hẳn, hạ xuống rất mạnh, tạo ra các vùng áp cao bên dưới, làm thành đai áp cao cận nhiệt đới.

+ Ở cực, do lạnh nên không khí co lại, hình thành nên đai áp cao cực.

+ Do sự chênh lệch về khí áp, có gió thổi từ khu áp cao cận nhiệt về phía hai cực (gió Tây). Từ cực có những luồng gió thổi từ khu áp cao ở cực về phía Xích đạo (gió Đông). Vùng ôn đới nằm giữa đai gió Đông và đai gió Tây là vòng đai lặng gió. Tại đây, gió thổi đến từ hai phía Bắc và Nam ngược nhau đã tạo ra nguyên nhân động lực để hình thành đại áp thấp ôn đới.
 
Câu 6. Phân tích mối quan hệ về phân bố của các vòng đai nhiệt và các đai khí áp trên Trái Đất. Tại sao nhiệt độ trung bình năm trên Trái Đất không giảm liên tục từ Xích đạo về hai cực? (Câu hỏi đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2010).

Hướng dẫn:


- Mối quan hệ về phân bố các vòng đai nhiệt và đai khí áp:

+ Trình bày về phân bố các vòng đai nhiệt và các đai khí áp trên Trái Đất.

+ Sự phân bố các đai khí áp gắn với sự phân bố các vòng đai nhiệt (dẫn chứng và phân tích sự hình thành các đại áp thấp và áp cao để thấy có hai nguyên nhân hình thành đại khí áp là do nhiệt lực và động lực, nguyên nhân động lực liên quan đến nhiệt lực).

- Nhiệt độ trung bình năm trên Trái Đất không giảm liên tục từ Xích đạo về hai cực, vì nó không chỉ phụ thuộc vào bức xạ mặt trời, còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác: Phân bố lục địa và đại dương, dòng biển lạnh và nóng, hoàn lưu, độ cao địa hình, bề mặt đệm,...

Câu 7. Các đại khí áp trên Trái Đất đã sinh ra những loại gió thường xuyên nào? Hướng dẫn:

- Ở mỗi bán cầu có các đại áp phân bố xen kẽ nhau (áp thấp Xích đạo, áp cao cận chí tuyến, áp thấp ôn đới, áp cao cực). Từ các áp cao có các luồng không khí chuyển động về áp thấp, đó là các gió hoạt động quanh năm trên Trái Đất.

- Do sự chênh lệch về khí áp, có gió thổi từ hai khu áp cao cận nhiệt về phía Xích đạo và hai cực.

+ Những luồng gió thổi từ hai khu áp cao cận nhiệt về phía Xích đạo theo kinh tuyến dưới tác động của lực Côriôlit sẽ thổi theo hướng đông bắc – tây nam ở bán cầu Bắc và đông nam – tây bắc ở bán cầu Nam. Gió này gọi là gió Mậu dịch (Tín phong).

+ Những luồng gió thổi từ khu áp cao cận nhiệt về phía cực bị lực Côriôlit làm lệch về phía đông, lên tới các vĩ độ 450 – 50° hầu như thổi theo hướng tây — đông, tạo thành đại gió Tây ôn đới. - Những luồng gió thổi từ khu áp cao ở cực về phía Xích đạo cũng bị lực Côriôlit tác động, tới các vĩ độ dưới 65 đã có phương song song với vĩ tuyến và hướng từ đông sang tây, được gọi là gió Đông cực.

Câu 8. Phân biệt gió thường xuyên và gió mùa.

Hướng dẫn:


- Gió thường xuyên: Hoạt động quanh năm, thổi từ các đại áp cao thường xuyên trên Trái Đất đến đai áp thấp thường xuyên. Các loại gió khác nhau có nguồn gốc cụ thể, hướng, tính chất gió khác nhau.

+ Gió Mậu dịch (Tín phong): Thổi từ áp cao cận chí tuyến về áp thấp Xích đạo; hướng chủ yếu là đông bắc ở bán cầu Bắc, đông nam ở bán cầu Nam; tính chất rất khô, nóng và thổi quanh năm khá đều đặn. + Gió Tây ôn đới: Thổi từ áp cao cận chí tuyến về áp thấp ôn đới; hướng chủ yếu là hướng tây (tây nam ở bán cầu Bắc, tây bắc ở bán cầu Nam). Gió có độ ẩm cao, thường đem theo mưa.

+Gió Đông cực: Thổi từ áp cao cực về áp thấp ôn đới; hướng chủ yếu là hướng đông (đông bắc ở bán cầu Bắc, đông nam ở bán Cầu Nam). Gió lạnh, khô.

Gió mùa:

+ Thổi theo mùa, hướng gió ở hai mùa có chiều nhau. ngược

+ Thường có ở đới nóng (Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Đông Bắc Ô-xtrây-li-a,...) và một số nơi thuộc vĩ độ trung bình (phía đông Trung Quốc, Đông Nam Liên bang Nga, Đông Nam Hoa Kì).

+ Nguyên nhân hình thành khá phức tạp, chủ yếu là do sự nóng lên hoặc lạnh đi không đều giữa lục địa và đại dương theo mùa, từ đó có sự thay đổi của các vùng khí áp cao và khí áp thấp ở lục địa và đại dương. Mùa đông, lục địa toả nhiệt nhanh, nhiệt độ hạ thấp nên hình thành áp cao, đại dương có nhiệt độ cao hơn hình thành áp thấp, gió từ lục địa thổi ra có tính chất khô. Mùa hạ, lục địa hấp thụ nhiệt nhanh, nhiệt độ tăng cao nên hình thành áp thấp, đại dương có nhiệt độ thấp hơn nên hình thành áp cao, gió từ đại dương thổi vào có tính chất ẩm, gây mưa.

Câu 9. Tại sao ở miền có gió Mậu dịch thường mưa ít, miền có gió mùa có lượng mưa lớn và thất thường?

Hướng dẫn:


- Gió Mậu dịch:

+ Là loại gió thổi từ các áp cao ở hai chí tuyến về Xích đạo. Gió thổi quanh năm khá đều đặn, hướng gần như cố định (hướng đông bắc ở bán cầu Bắc và đông nam ở bán cầu Nam), tính chất của gió nói chung là khô, gió thổi khá đều đặn.

+ Do đặc tính như vậy, nên những nơi có gió này hoạt động, thời tiết nhìn chung tương đối ổn định, mưa ít hoặc không mưa.

- Gió mùa:

+ Là loại gió thổi theo mùa. Nguyên nhân chủ yếu do sự nóng lên hoặc lạnh đi không đều giữa lục địa và đại dương theo mùa, từ đó có sự thay đổi của các vùng khí áp cao và khí áp thấp ở lục địa và đại dương, dẫn đến hướng gió ở hai mùa có chiều ngược nhau. Về mùa hạ, lục địa nóng hơn đại đương, hình thành nên các hạ áp; gió thổi từ các cao áp từ đại dương vào hạ áp ở lục địa. Về mùa đông, lục địa lạnh hơn đại dương, hình thành nên các cao áp; gió thổi từ các cao áp trên lục địa đến các hạ áp trên đại dương.

+ Gió từ đại dương thổi vào đất liền có độ ẩm cao gây mưa lớn vào mùa hạ. Hoạt động của gió từ lục địa thổi ra và từ đại đương thổi vào theo mùa liên quan trực tiếp đến nhiệt độ không khí, chuyển động biểu kiến của mặt trời, tính chất bề mặt đệm,... Các yếu tố này có sự thay đổi nên gió mùa không có tính ổn định cao về nhịp điệu, tần suất, tốc độ gió, thời gian bắt đầu và kết thúc,... gây ra tính thất thường về mưa.

Câu 10. Phân tích tác động của gió Tây ôn đới đến khí hậu ở khu vực bờ Đông các đại dương. Hướng dẫn:

Gió Tây ôn đới thổi từ các vành đai áp cao cận chí tuyến về phía vành đai áp thấp ôn đới, là một nhân tố quan trọng hình thành nên kiểu khí hậu ôn đới hải dương ở bờ Tây các lục địa.

- Do thổi qua đại dương rộng lớn, đồng thời thổi từ nơi có nhiệt độ cao về nơi có nhiệt độ thấp hơn (có ngưỡng của độ ẩm bão hòa thấp hơn), cộng với dòng biển nóng ven bờ, gây mưa cho bờ Tây lục địa ôn đới quanh năm và nhiều lên vào mùa xuân.

- Do tác động của gió Tây và dòng biển nóng nên nhiệt độ ở bờ Tây lục địa ôn đới không bị hạ thấp. Nhiệt độ trung bình năm từ 10 - 15°C, trong năm không có tháng nào nhiệt độ xuống dưới 0°C.
 
Câu 11. Tại sao có gió biển, gió đất và gió fơn, gió núi - thung lũng?

Hướng dẫn:


- Gió biển, gió đất và gió fơn, gió núi - thung lũng là gió địa phương. Đây là loại gió thổi trong phạm vi hẹp của các địa phương, có thể thổi ở trong một mùa hoặc trong ngày đêm. Các gió địa phương khác nhau có nguyên nhân hình thành không giống nhau.

- Gió đất, biển: Hình thành ở vùng ven biển, thay đổi hướng theo ngày đêm. Ban đêm, mặt đất lạnh hơn, tạo nên áp cao, nên gió từ đất liền thổi ra biển; ban ngày, mặt biển nhiệt độ thấp hơn đất liền, sự chênh lệch áp giữa áp cao ở biển và áp thấp trong đất liền đã tạo nên gió từ biển thổi vào đất liền.

- Gió fơn: Khi gió mát và ẩm thổi tới một dãy núi, bị núi chặn lại và đẩy lên cao, nhiệt độ giảm theo tiêu chuẩn của không khí ẩm, trung bình cứ lên cao 1000m giảm 0,6°C. Vì nhiệt độ hạ nên hơi nước ngưng tụ, mây hình thành và mưa rơi bên sườn đón gió. Gió vượt sang sườn bên kia, hơi nước đã giảm nhiều, nhiệt độ lại tăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô xuống núi, trung bình cứ 1000 m tăng 1°C, nên gió trở thành khô và rất nóng.

- Gió núi - thung lũng: Ban ngày, không khí ở sườn núi được đốt nóng hơn so với không khí xung quanh nên gió thổi lên theo sườn núi và ở trên gió thổi về phía thung lũng. Ban đêm, không khí ở sườn núi lạnh hơn xung quanh nên gió thổi dọc theo sườn xuống dưới, ở dưới không khí bốc lên trên thung lũng.

Câu 12. Chứng minh rằng sự phân bố mưa trên Trái Đất không đều theo vĩ độ và chịu ảnh hưởng của sự phân bố lục địa, đại dương.

Hướng dẫn:


– Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều theo vĩ độ: Mưa nhiều nhất ở vùng Xích đạo, nhiều ở hai vùng ôn đới bán cầu Bắc và bán cầu Nam, tương đối ít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam, càng ít khi càng về hai cực Bắc và Nam.

– Lượng mưa không đều do ảnh hưởng của lục địa, đại dương:

+ Mưa nhiều hay ít tuỳ thuộc vị trí gần đại dương hay xa đại dương và dòng biển nóng hay dòng biển lạnh chảy ven bờ. Ở nhiệt đới bán cầu Bắc, bờ Đông lục địa, mưa nhiều hơn ở bờ Tây; ở ôn đới bán cầu Bắc, bờ Tây mưa nhiều hơn ở bờ Đông. Càng vào sâu trong nội địa, mưa càng ít.

+ Từ Xích đạo về vòng cực Bắc có mưa ít hơn từ Xích đạo về vòng cực Nam, do diện tích lục địa ở vùng từ Xích đạo về vòng cực Bắc lớn hơn diện tích lục địa từ Xích đạo về vòng cực Nam. Ngược lại, từ vòng cực Bắc về cực Bắc (đại dương Bắc Băng Dương) mưa nhiều hơn từ vòng cực Nam về cực Nam (lục địa Nam cực).

Câu 13. Tại sao lượng mưa phân bố không đều trên Trái Đất? (Câu hỏi đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia 2012)

Hướng dẫn:


- Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều theo vĩ độ, vị trí gần hay xa đại dương, độ cao địa hình...

- Có nhiều nhân tố tác động đến lượng mưa (khí áp, frông, dòng biển, địa hình,...).

- Mỗi nhân tố có sự tác động khác nhau ở các nơi trên Trái Đất.

+ Khí áp: Vùng áp thấp mưa nhiều, vùng áp cao rất ít hoặc không có mưa.

+ Frông: Miền có frông hoặc dải hội tụ nhiệt đới đi qua, thường mưa nhiều.

+ Gió: Ở sâu trong lục địa không có gió đại dương thổi vào thì mưa rất ít; miền có gió Mậu dịch mưa ít, miền có gió mùa có lượng mưa lớn.

+ Dòng biển: Cùng nằm ven bờ địa dương, nơi có dòng biển nóng đi qua, mưa nhiều; nơi có dòng biển lạnh đi qua, mưa ít.

+ Địa hình: Cùng một sườn núi, càng lên cao, nhiệt độ càng giảm, mưa càng nhiều; tới một độ cao nào đó, độ ẩm không khí đã giảm nhiều, sẽ không còn mưa.

- Mối quan hệ giữa các nhân tố với nhau tác động đến lượng mưa không giống nhau. Ví dụ: frông lạnh bị dãy núi cao chặn lại thì mưa rất lớn ở sườn đón gió; lãnh thổ ở khu vực gió mùa nhưng nếu có cao áp dịch chuyển đến thì lượng mưa cũng ít...

Câu 14. Giải thích sự khác nhau về lượng mưa ở Xích đạo, chí tuyến, ôn đới, và cực; giữa nhiệt đới gió mùa và nhiệt đới lục địa; giữa cận nhiệt lục địa, cận nhiệt gió mùa, cận nhiệt địa trung hải.

Hướng dẫn:


- Sự khác nhau về lượng mưa ở Xích đạo, chí tuyến, ôn đới, và cực:

+ Xích đạo mưa rất nhiều do ở đây có đại áp thấp, nhiệt độ cao, dòng biển nóng, gió thổi đến, dải hội tụ hoạt động; bề mặt chủ yếu là đại dương và rừng rậm Xích đạo ẩm ướt, bốc hơi mạnh.

+Chí tuyến mưa ít do áp cao, gió Mậu dịch hoạt động, dòng biển lạnh, tỉ lệ diện tích lục địa lớn. Bở Đông (ở bán cầu Bắc) có gió mùa hoạt động cùng với frông, dải hội tụ, dòng biển nóng nên mưa nhiều hơn. + Ôn đới mưa trung bình, do áp thấp ôn đới, gió Tây ôn đới từ biển thổi vào gây mưa, dòng biển nóng ở phía tây lục địa (bán cầu Bắc). Bờ đông lục địa (ở bán cầu Bắc) có dòng biển lạnh nên ít mưa hơn bờ Tây, + Cực có mưa ít nhất do áp cao, do lạnh, nước không bốc hơi được, gió Đông cực hoạt động, dòng biển lạnh.

- Giữa nhiệt đới gió mùa và nhiệt đới lục địa; giữa cận nhiệt lục địa, cận nhiệt gió mùa, cận nhiệt địa trung hải.

+ Nhiệt đới gió mùa có gió mùa hạ từ đại dương thổi vào, hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới và dòng biển nóng nên lượng mưa lớn hơn nhiệt đới lục địa, là nơi có áp cao cận chí tuyến, gió Mậu dịch hoạt động và dòng biển lạnh ở bờ Tây lục địa.

+ Cận nhiệt gió mùa có dòng biển nóng, gió mùa hoạt động nên mưa nhiều; cận nhiệt lục địa xa biển nên mưa ít; cận nhiệt địa trung hải có mưa nhiều vào đông xuân do tác động của áp thấp ôn đới và frông ôn đới dịch chuyển từ phía bắc xuống theo chuyển động biểu kiến của mặt trời, mùa hạ không mưa do sự thống trị của áp cao cận chí tuyến dịch chuyển theo chuyển động biểu kiến của mặt trời lên án ngự ở khu vực này.

Câu 15. Phân tích sự khác nhau về lượng mưa giữa Xích đạo và ôn đới, giữa Xích đạo và ôn đới hải dương.

Hướng dẫn:


- Sự khác nhau về mưa giữa Xích đạo và ôn đới:

+ Xích đạo: Nhiệt độ cao quanh năm làm cho bé mặt đại dương rộng lớn và rừng rậm Xích đạo bốc hơi nước mạnh, gây mưa đối lưu quanh năm. Hoạt động của áp thấp Xích đạo, dòng biển nóng, gió thổi đến và dải hội tụ nhiệt đới là các nhân tố gây mưa lớn ở Xích đạo.

+ Ôn đới: Mưa do tác động của áp thấp ôn đới và frông, gió Tây và dòng biển nóng bờ Tây. Mưa ít so với Xích đạo do nhiệt độ thấp hơn, bốc hơi nước kém hơn, mưa đại hình và mưa frông kém hơn nhiều mưa do dải hội tụ; diện tích lục địa rộng hơn Xích đạo nhiều và ở bờ Đông có dòng biển lạnh. Mưa có sự khác nhau từ tây sang đông, bờ Tây có dòng biển nóng và gió Tây ôn đới gây mưa quanh năm, vào sâu trong lục địa xa biển nên mưa ít; bờ Đông có dòng biển lạnh nên ít mưa.

- Sự khác nhau về mưa giữa Xích đạo và ôn đới hải dương:

+ Xích đạo: Mưa lớn, thường xuyên. Do áp thấp có trị số thấp do nhiệt độ cao, hút gió mạnh, dòng thăng rất mạnh gây mưa đối lưu; dải hội tụ hoạt động mạnh, gió Mậu dịch hoạt động mạnh và dòng biển hoạt động mạnh. Các yếu tố này cũng hoạt động thường xuyên quanh năm nên mưa lớn quanh năm.

+ Ôn đới hải dương: Mưa ít hơn, thất thường và mưa nhiều vào đông xuân. Do áp thấp có trị số cao hơn ở Xích đạo do nhiệt độ thấp hơn, mưa do frông yêu hơn do dải hội tụ, gió Tây hoạt động yếu hơn gió Mậu dịch, dòng biển nóng cũng yếu hơn dòng biển ở Xích đạo, nên mưa nhỏ hơn. Do vị trí địa lí ở vĩ độ trung bình, nơi chuyển động biểu kiến hàng năm của mặt trời thể hiện rất rõ rệt, sự dịch chuyển theo mùa của khí áp và frông không ổn định làm cho diễn biến mưa thất thường. Đồng thời, thu đông là nơi có cả hoạt động của cả khối khí, frông cực lẫn khối khí và frông ôn đới nên lượng mưa lớn hơn các thời kì mùa hạ hoặc mùa đông, lúc chỉ có một khối khí và frông hoạt động.
 
Câu 16. Trong năm ở xích đạo thời gian nào mưa lớn nhất, thời gian nào mưa nhỏ nhất?

Hướng dẫn:


- Xích đạo là khu vực có lượng mưa lớn nhất trên Trái Đất, khoảng 2000 - 2500 mm/năm. Mưa quanh năm, hầu như ngày nào cũng có mưa.

- Trong năm, có hai thời điểm mưa nhiều hơn, vào khoảng tháng 4 và tháng 10. Đây là hai khoảng thời gian sau ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh ở Xích đạo, hội tụ nội chí tuyến hoạt động mạnh tại xích đạo gây mưa lớn. - Trong năm, có hai thời điểm mưa nhỏ hơn, vào khoảng tháng 7 và tháng 1. Đây là khoảng thời gian sau các ngày Đông chí và Hạ chí, lúc xích đạo ở xa Mặt Trời nhất, nhiệt độ không khí thấp xuống hơn, lượng bốc hơi ít hơn.

Câu 17. Giải thích sự khác nhau về lượng mưa giữa bờ Tây và bờ Đông lục địa ở vùng nhiệt đới, ở vùng ôn đới.

Hướng dẫn:


- Sự khác nhau về lượng mưa giữa bờ Tây và bờ Đông lục địa ở vùng nhiệt đới:

+ Bờ Tây: Mưa ít do tác động của dòng biển lạnh (ví dụ: dòng biển lạnh Canari ở ven bờ Bắc Phi đã ngăn tác động của biển, góp phần làm sâu sắc hơn hoang mạc Xahara), áp cao cận chí tuyến, hoạt động của gió Mậu dịch.

+ Bờ Đông: Mưa nhiều do hoạt động của gió mùa (gió mùa hạ nóng ẩm từ đại dương thổi vào gây mưa lớn), dải hộ tụ nhiệt đới, dòng biển nóng.

- Sự khác nhau về lượng mưa giữa bờ Tây và bờ Đông lục địa ở vùng ôn đới:

+ Bờ Tây: Mưa nhiều quanh năm do có hoạt động của dòng biển nóng và gió Tây ôn đới.

+ Bờ Đông: Mưa ít, liên quan đến các dòng biển lạnh.

Câu 18. Phân tích sự khác nhau về lượng mưa giữa bán cầu Nam và bán cầu Bắc.

Hướng dẫn:


- Từ vòng cực về cực Bắc là phần lãnh thổ của đại dương Bắc Băng Dương có lượng mưa lớn hơn từ vòng cực Nam về cực Nam là phần lãnh thổ của lục địa Nam cực. hiển thị các trang thang ra công - Từ Xích đạo về vòng cực Bắc có diện tích lục địa lớn hơn diện tích lục địa từ Xích đạo về vòng cực Nam nên lượng mưa từ Xích đạo về vòng cực Bắc nhỏ hơn từ Xích đạo về vòng cực Nam.

Câu 19. Khí hậu hoang mạc có đặc điểm như thế nào?

Hướng dẫn:


Hoang mạc chiếm những diện tích rộng lớn ở châu Á, Phi, Mĩ và Ô-xtrây-li-a. Phần lớn các hoang mạc nằm dọc theo hai đường chí tuyến và giữa đại lục Á - Âu. Đặc điểm nổi bật của khí hậu hoang mạc là khô hạn, khắc nghiệt.

- Lượng mưa quanh năm rất thấp (khoảng 200 mm/năm), nhưng lượng bốc hơi rất lớn (ở Xa-ha-ra, lượng bốc hơi là 4000 mm/năm). Có nơi nhiều năm liền không mưa, hoặc mưa rơi chưa đến mặt đất đã bốc hơi hết (sa mạc Atacama trong 10 - 20 năm liền không mưa lần nào).

- Sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm rất lớn, hơn nhiều sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa trong năm. Trung bình 40° - 50° ở chỗ nắng và 25° ở chỗ râm mát.

Câu 20. Tại sao các hoang mạc và bán hoang mạc thường phân bố ở khu vực từ 20° đến 40° vĩ Bắc và Nam? (Câu hỏi đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2011).

Hướng dẫn:


- Kể tên một số hoang mạc phân bố ở khu vực từ 20° đến 40° vĩ Bắc và Nam (Xahara, Tha, Namip, hoang

mạc Victoria Lớn, sa mạc Lớn, Atacama,...).

- Nguyên nhân: khu vực này rất khô hạn, do:

+ Vành đai cao áp thống trị (Axôrat, Ha Oai, Nam Thái Bình Dương,...).

+ Dòng giáng từ trên cao khí quyển xuống.

6 min gno

+ Hoạt động của dòng biển lạnh ở bờ Tây các lục địa (Califoocnia, Canari, Pêru, Benghêla,...). Câu 21. Giải thích sự hình thành các vùng khô hạn trên Trái Đất. (Câu hỏi đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2019).

Hướng dẫn:

Các vùng khô hạn trên Trái Đất là các vùng có lượng mưa rất nhỏ, phần lớn là hoang mạc và bán hoang mạc. - Sự hình thành các vùng này bắt nguồn từ vị trí địa lí ở nơi chịu tác động của nhân tố ít gây mưa: nằm sâu trong lục địa, cách xa biển; ở nơi chịu tác động của đai áp cao cận chí tuyến, nằm ở sườn núi khuất gió, ở nơi có dòng biển lạnh chảy gần bờ...
 
Câu 22. Sự phân bố lượng mưa trên Trái Đất có mối quan hệ như thế nào với sự phân bố của khí áp? Hướng dẫn:

Khi áp là một nhân tố quan trọng tác động đến mưa:

+ Các khu khí áp thấp hút gió và đẩy không khí ẩm lên cao sinh ra mây, mây gặp nhiệt độ thấp ngưng tụ thành giọt sinh ra mưa.

+ Các khu khí áp cao, không khí ẩm không bốc lên được, lại chỉ có gió thổi đi, không có gió thổi đến, nên mưa rất ít hoặc không có mưa.

- Do vậy, sự phân bố khí áp kéo theo sự phân bố mưa, sự phân bố mưa trên Trái Đất phù hợp với sự phân bố khí áp:

+ Theo vĩ độ: Từ Xích đạo về cực có đai áp thấp Xích đạo, đai áp cao cận chí tuyến, đại áp thấp ôn đới, đai áp cao cực. Tương ứng có các vành đai mưa: Xích đạo mưa rất nhiều, chí tuyến mưa ít, ôn đới mưa nhiều, cực mưa rất ít.

+ Theo lục địa và đại dương: Lục địa vào mùa đông có áp cao, mùa hạ có áp thấp, đại dương ngược lại. Tương ứng, lục địa vào mùa đông ít mưa, vào mùa hạ mưa nhiều; đại dương ngược lại.

Câu 23. Phát biểu nào sau đây đúng với sự thay đổi của khí áp?

A. Không khí càng loãng, khí áp giảm.

C. Tỉ trọng không khí giảm, khí áp tăng.

B. Độ ẩm tuyệt đối lên cao, khí áp tăng.

D. Không khí càng khô, khí áp giảm.

Câu 24. Đặc điểm của gió mùa là

A. hướng gió thay đổi theo mùa.

B. tính chất không đổi theo mùa.

C. nhiệt độ các mùa giống nhau.

D. độ ẩm các mùa tương tự nhau.

Câu 25. Những địa điểm nào sau đây thường có mưa nhiều?

A. Nơi ở rất sâu giữa lục địa, nơi có áp thấp.

B. Miền có gió Mậu dịch thổi, nơi có áp thấp.

C. Miền có gió thổi theo mùa, nơi có áp thấp.

D. Nơi dòng biển lạnh đi qua, nơi có áp thấp.

Câu 26. Những địa điểm nào sau đây thường có mưa ít?

A. Khu vực khí áp thấp, nơi có frông hoạt động.

B. Nơi có dải hội tụ nhiệt đới, khu vực áp cao.

C. Sườn núi khuất gió, nơi có dòng biển lạnh.

D. Miền có gió mùa, nơi có gió luôn thổi đến.

ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM

23-A; 24-A; 25-C; 26-C
 

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top