Hồ Chí Minh – Hành Trình Cả Cuộc Đời Vì Độc Lập Và Tự Do Của Dân Tộc

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người đã dành trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong số đó, Hồ Chí Minh là một lãnh tụ kiệt xuất, người đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX.Từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 đến khi lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh không chỉ gắn liền với những bước ngoặt lớn của lịch sử Việt Nam mà còn trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ trong hành trình vì độc lập, hòa bình và phát triển. Hãy tưởng tượng một buổi sáng mùa hè năm 1911 tại bến cảng Bến Nhà Rồng. Một chàng thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi đứng lặng nhìn con tàu chuẩn bị rời bến. Trong hành trang của anh không có nhiều tiền bạc, cũng không biết chắc con đường phía trước sẽ ra sao. Nhưng trong trái tim anh có một khát vọng lớn lao: tìm con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam đang chìm trong ách đô hộ.Chàng thanh niên ấy chính là Nguyễn Tất Thành – người sau này trở thành Hồ Chí Minh. Từ chuyến đi ấy, Người đã bôn ba qua nhiều châu lục, tìm hiểu con đường cách mạng và cuối cùng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Hành trình của Người không chỉ là câu chuyện của một con người, mà còn là hành trình của cả dân tộc đi tìm độc lập và tự do.

Lịch sử 12 – Bài 15: Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh – Hành Trình Cả Cuộc Đời Vì Độc Lập Và Tự Do Của Dân Tộc​


1. Những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh

Hoàn cảnh đất nước

- Việt Nam là đất nước có nền văn hiến lâu đời. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống quý báu: yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa,...

- Từ giữa thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược và từng bước áp đặt ách cai trị ở Việt Nam. Dưới chế độ thực dân, nền độc lập dân tộc và quyền tự do của đại bộ phận nhân dân bị tước đoạt.

- Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX, các phong trào yêu nước chống Pháp đều thất bại, Đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân là nhiệm vụ cấp bách của dân tộc và cũng là khát vọng của cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lý thuyết Lịch Sử 12 Kết nối tri thức Bài 15: Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh


Hoàn cảnh quê hương

- Nghệ An là địa phương có truyền thống hiếu học và khoa bảng, người dân chịu khó và cần củ trong lao động. Đây còn là vùng đất của những làn điệu dân ca ví, giặm, là quê hương của nhiều danh nhân.

- Nghệ An cũng là địa phương có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai.

- Vào đầu thế kỉ XX, cuộc khai thác thuộc địa của tư bản Pháp đã dẫn đến hình thành khu công nghiệp Vĩnh - Bến Thuỷ. Từ đó, Nghệ An trở thành trung tâm công nghiệp, buôn bản lớn ở khu vực Bắc miền Trung. Những thanh niên, trí thức yêu nước và giai cấp công nhân có điều kiện tiếp thu nhiều tư tưởng mới của thời đại.

Lý thuyết Lịch Sử 12 Kết nối tri thức Bài 15: Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh


Ngôi nhà ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên (Nghệ An) nơi sinh của Hồ Chí Minh

Hoàn cảnh gia đình

- Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc và thân mẫu là Hoàng Thị Loan.

+ Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho yêu nước, từng đỗ Cử nhân tại trường thi Nghệ An (1894) và đỗ Phó bảng (1901). Ông là một tấm gương sáng về ý chí vượt khó, là người thầy mẫu mực trong dạy chữ, dạy người.

+ Bà Hoàng Thị Loan là con gái của nhà nho yêu nước Hoàng Xuân Đường. Bà là người sống chan hoà, giỏi làm ruộng và dệt vải, đã nuôi dưỡng các con bằng tình thương yêu cùng những điệu hò, câu ví, giặm.

- Dù phải trải qua tuổi thơ vất vả nhưng sự nền nếp, truyền thống hiếu học, giàu tình yêu thương của gia đình đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm hình thành nhân cách tốt đẹp và có sự đồng cảm với nhân dân lao động.

2. Tiểu sử và tiến trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh

Thời niên thiếu và những hoạt động đầu tiên (1890-1911)

- Hồ Chí Minh có tuổi thơ gắn bó với làng Sen, đến năm 1895 được cha đưa theo vào Huế, học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, sau đó là Trường Quốc học Huế.

- Từ năm 1909, Nguyễn Tất Thành đến nhiều tỉnh phía nam như Bình Định (1909), dạy học tại Trường Dục Thanh ở Phan Thiết (1910) rồi vào Sài Gòn (1911).

- Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành (với tên gọi mới là Văn Ba) đã rời Bến Nhà Rồng trên con tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.

Lý thuyết Lịch Sử 12 Kết nối tri thức Bài 15: Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh


Trường Quốc học Huế - nơi Nguyễn Tất Thành học tập trong những năm 1908 - 1909

Những năm tháng hoạt động ở nước ngoài (1911-1941)

- Từ năm 1911 đến năm 1920


+ Từ năm 1911 đến năm 1917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước châu Á, châu châu Phi, tích cực tìm hiểu cuộc sống của nhân dân lao động.

+ Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại hoạt động ở Pháp. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Véc-xai bản Yêu sách của nhân dân An Nam, trong đó kí tên là Nguyễn Ái Quốc.

+ Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Lê-nin.

+ Tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

- Từ năm 1921 đến năm 1930

+ Từ năm 1921 đến tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Pháp: tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ,…

+ Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên Xô, tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế,..

+ Từ tháng 11-1924 đến giữa năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc), thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên (1925),...

+ Từ giữa năm 1927 đến cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động cách mạng ở Pháp, Bỉ, Đức, Xiêm,...

+ Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hương Cảng (Trung Quốc), soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Lý thuyết Lịch Sử 12 Kết nối tri thức Bài 15: Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh


Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua (tháng 12/1920)

- Từ năm 1930 đến năm 1941

+ Năm 1933, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Liên Xô.

+ Năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô trở lại Trung Quốc và hoạt động cách mạng ở đây.

+ Ngày 28-1-1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1941-1969)

- Từ năm 1941 đến năm 1945


+ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5-1941).

+ Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng.

+ Tháng 8-1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế. Tháng 9-1944, Hồ Chí Minh trở về nước tiếp tục lãnh đạo cách mạng.

+ Tháng 8-1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng, Mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, và được cử làm Chủ tịch của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

+ Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

- Từ năm 1945 đến năm 1969

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954).

+ Tháng 1-1946, Hồ Chí Minh được Quốc hội khoá I bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương (2-1951), Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

+ Tháng 10-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, kiêm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam.

+ Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Hà Nội.

Lý thuyết Lịch Sử 12 Kết nối tri thức Bài 15: Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Đại hội đại biểu lần thứ III
Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam. Những tư tưởng, đạo đức và sự nghiệp cách mạng của Người đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của đất nước. Hình ảnh Hồ Chí Minh sẽ mãi là nguồn động lực tinh thần, soi đường cho các thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


CÓ THỂ BẠN MUỐN XEM : Từ Sau 1975 Đến Nay: Hành Trình Ngoại Giao Đưa Việt Nam Ra Thế Giới
 
CÂU HỎI MỞ RỘNG
Câu 1: Phân tích những yếu tố tác động đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.
a. Đất nước
bị thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết, điều đó đã tác động đến việc ra đi tìm đuòng cứu nước của Nguyễn Tất Thành.
+ Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các tầng lớp, giai cấp trong xã hội VN không chỉ bị bóc lột về kinh tế, mà còn phải chịu nỗi nhục mất nước. Độc lập tự do là khát vọng của cả dân tộc VN.
+ Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc VN với thực dân Pháp và phản động tay sai. Nhiệm vụ cứu nước được đặt ra vô cùng cấp thiết. Hoàn cảnh đó đặt ra cho mọi người VN yêu nước (trong đó có Nguyễn Tất Thành) phải đấu tranh giải phóng dân tộc.

b. Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước làm cho NTT phải tìm con đường cứu nước mới.
+ Cuối TK XIX, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp (khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế….) bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu. Con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ phong kiến đã bị thất bại.
+ Đầu thế kỉ XX các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới, tiến hành cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản (hoạt động của PBC, PCT…), nhưng cũng không thành công. Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Hoàn cảnh đó đặt ra yêu cầu phải tìm con đường cứu nước mới.
+ Nguyễn Tất Thành khâm phục tinh thần yêu nước của các nhà yêu nước tiền bối, xong không tán thành con đường cứu nước của họ nên muốn sang phương Tây để tìm một con đường cứu nước đúng đắn.

c. NTT sớm có chí “đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”.
+ Tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, quê hương và gia đình.
+ Do được tiếp xúc với văn minh Pháp, Pháp lại là nước đang cai trị VN, NTT quyết định sang phương Tây để tìm hiểu xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào, giải phóng dân tộc. Người muốn tìm một con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng cho dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
=>Trên cơ sở nhận thức về tìm một con đường cứu nước đúng đắn nên ngày 5/6/1911, NTT lấy tên là Ba, rời bến cảng Sài Gòn, ra nước ngoài tìm đường cứu nước.


Câu 2:
Xác định mốc thời gian kết thúc hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Phân tích những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước của Người.

a. Xác định mốc thời gian

- Sau 10 năm ra đi tìm đường cứu nước đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã kết thúc hành trình tìm đường cứu nước của mình.
- Những mốc thời gian kết thúc cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Người là:
+ Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Luận cương này giúp người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta. Bản Luận cương này giúp Người khẳng định, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo cách mạng vô sản
.
+ Tiếp đó, tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp lần thứ XVIII (12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

b. Những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc là:

- Do tác động bối cảnh thời đại:
+ Đầu thế kỉ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, những mâu thuẫn trong lòng nó phát triển gay gắt; Mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc dẫn tới chiến tranh thế giới thứ nhất; mâu thuẫn giữa đế quốc với các dân tộc thuộc địa, dẫn tới sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc,…Trong quá trình tìm đường cứu nước, bằng những khảo sát thực tế từ chính các nước tư bản (Mĩ, Anh, Pháp những năm 1911 – 1917), Nguyễn Ái Quốc nhận thức được bản chất của chủ nghĩa tư bản và từ đó không lựa chọn con đường cách mạng tư sản.
+ Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công. Đối với nước Nga đây là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các nước thuộc địa trong đế quốc Nga, đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức. Vì thế Nguyễn Ái Quốc tin tưởng và đi theo con đường cách mạng tháng Mười Nga.
+ Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác – Lê nin trở thành hiện thực và được truyền bá rộng rãi khắp nơi dẫn tới sự ra đời của các đảng cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản được thành lập. Đại hội lần thứ hai của quốc tế cộng sản đã thông qua Luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, chỉ ra phương pháp đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức. Thời đại đầy biến động trên đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn để tìm kiếm, xác định một con đường cứu nước đúng đắn.

- Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc:
+
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm. Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta nổ ra ngay từ khi chúng đặt chân đến xâm lược, diễn ra liên tục và anh dũng theo nhiều con đường cứu nước khác nhau song tất cả đều thất bại.
+ Phong trào Cần Vương thất bại đánh dấu thời kỳ đấu tranh chống Pháp giành độc lập dân tộc dưới khẩu hiệu “phò vua cứu nước” nằm trong hệ tư tưởng phong kiến đã hoàn toàn chấm dứt. Các phong trào nông dân tiêu biểu như khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài nhiều năm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX cũng thất bại. Do đó độc lập dân tộc không thể gắn với chế độ phong kiến.
+ Thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX: như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu – những chí sĩ yêu nước tiêu biểu thời kỳ này cũng lâm vào bế tắc. Khẳng định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản không thể thắng lợi, độc lập dân tộc không gắn liền với chủ nghĩa tư bản.
=> Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng “dường như trong đêm tối không có đường ra”, đặt ra yêu cầu bứcc thiết với Người phải tìm con đường cứu nước mới.
+ Thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam. Đất nước mất độc lập, nhân dân ta mất tự do. Độc lập, tự do là khát khao cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước

- Yếu tố chủ quan: Nhờ có thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén của Nguyễn Ái Quốc, thể hiện
+ Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiện lên như một nhân vật lịch sử. Người sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu lòng yêu nước, trên một mãnh đất có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, Người tận mắt chứng kiến các phong trào yêu nước của ông cha và hạn chế trong các phong trào đó. Chính bởi vậy, một mặt rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha nhưng Nguyễn Ái Quốc lại không tán thành con đường của họ và Người đã quyết tâm tìm con đường cứu nước mới.
+ Kết hợp nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt phát hiện thấy Luận cương của Lê nin một phương hướng cứu nước mới. Người tin tưởng, sáng tỏ, từ đó khẳng định đây là cái cần thiết cho chúng ta, là con đường giải phóng dân tộc cho dân tộc ta. Từ nhận thức đó, NAQ đã quyết định lựa chọn con đường cứu nước cho dân tộc ta theo khuynh hướng vô sản

 
Câu 3: Nét chính về hoạt động NAQ từ năm 1911 – 1930

a. Hoạt động từ năm 1911 -1920:

- NAQ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, quê ở làng Kim Liên (Nghệ An). Người sinh ra trong một gia đình nhà Nho giàu lòng yêu nước, trên một mảnh đất có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm,
- Ngày 5-6-1911, NAQ lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp trên con tàu buôn của Pháp là La-tu-sơ Tơ-rê-vin, rời bến cảng nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước mới.
- Từ năm 1911 đến năm 1917, NAQ đã đi nhiều châu lục Á, Phi, Mĩ, Âu và làm nhiều nghề khác nhau. => Những năm bôn ba nhiều nước TBCN và thuộc địa đã giúp Người nhận thức rõ ai là bạn, ai là thù của nhân dân lao động, Người kết luận: “Nhân dân lao động trên thế giới đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc trên thế giới đều là thù của nhân dân lao động”. Với những chuyến đi, những cuộc khảo sát đó, lòng yêu nước ở Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận thức mới. Người đi sâu tìm hiểu những vấn đề cốt lõi xem bản chất chế độ dân chủ tư sản là gì. Có thực là ở Pháp có “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” hay không? Người kết luận: Cách mạng Pháp, cách mạng Mĩ là những cuộc cách mạng "chưa tới nơi". Người ta đã cách mạng hàng trăm năm rồi mà dân chúng vẫn cực khổ, đang toan tính làm lại một cuộc cách mạng khác. Cuộc cách mạng "tới nơi" mà Nguyễn Ái Quốc tìm kiếm là một cuộc cách mạng giải phóng được dân tộc, đồng thời giải phóng cho người lao động.
- Năm 1917, Người từ Anh sang Pháp, tham gia sôi nổi trong phong trào công nhân châu Âu, có cơ hội tìm hiểu những tư tưởng cách mạng, tham gia sinh hoạt trong Đảng Xã hội Pháp - Đảng tiến bộ nhất châu Âu lúc đó.
- Tháng 11 năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi giúp Người có điều kiện tìm hiểu cuộc cách mạng vô sản lớn nhất thế giới này.
- Ngày 18-6 -1919, Người gửi đến Hội nghị Vecxai Bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi chính phủ Pháp và đồng minh thừa nhận quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.
Tuy không thành công nhưng sự kiện đó đã có tiếng vang lớn đến nhân dân Pháp, nhân dân Việt Nam, nhân dân thuộc địa Pháp.
- Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Luận cương này giúp người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta. Bản luận cương này giúp Người khẳng định, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo cách mạng vô sản.
- Tháng 12 năm 1920, Người dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng XH Pháp, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản III, thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động cách mạnh của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – lê nin và đi theo con đường cách mạng vô sản, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam
=>Như vậy NAQ là người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, tìm thấy con đường đúng đắn nhất để cứu dân tộc.
(Vì sao Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III? Tổ chức Quốc tế này bênh vực cho quyền lợi các nước thuộc địa)
Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong tư tưởng chính trị của Người: từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động cách mạnh của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – lê nin và đi theo con đường cách mạng vô sản, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Sự kiện này mở ra cho cách mạng Việt Nam một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn gắn cách mạng Việt Nam với phong trào quốc tế vô sản, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin.
=> KL: Như vậy, sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu, Nguyễn Ái Quốc đã có vai trò to lớn trong việc tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc: con đường cách mạng vô sản. Đây là con đường duy nhất đem lại những thắng lợi lẫy lừng cho cách mạng Việt Nam trong suốt thế kỷ XX.

b. Hoạt động 1920- 1930:

- Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc – con đường đi theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, NAQ ra sức học tập, nghiên cứu để hoàn chỉnh nhận thức của mình. Điều này được thể hiện trong bản tham luận mà Người trình bày tại Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản đã nói lên những quan điểm cơ bản về chiến lược và sách lược cách mạng giải phóng dân tộc
- Những quan điểm tư tưởng đó được giới thiệu trong các tác phẩm của Người và được bí mật chuyển về trong nước, đến với các tầng lớp nhân dân. Nó tạo ra một chất men kích thích cho phong trào dân tộc phát triển và nhanh chóng chuyển mình theo xu hướng cách mạng mới của thời đại.
* Những hoạt động của NAQ trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập ĐCSVN.
- Tại Pháp:
Được hoạt động trong Đảng CS Pháp, làm trưởng ban Các vấn đề dân tộc và thuộc địa, NAQ có cơ hội truyền bá CN Mác – Lê nin về trong nước.
+ Năm 1921, NAQ cùng với một số người yêu nước của các khối thuộc địa Pháp thành lập Hội Liên Hiệp thuộc địa Pháp ở Pa ri để tập hợp những người dân thuộc địa sống trên đất Pháp cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Cơ quan ngôn luận của hội là báo “Người cùng khổ”do chính Người là chủ nhiệm kiêm chủ bút. Người còn viết bài cho các báo “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân” ; viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (xuất bản năm 1925 tại Pa ri) để giác ngộ tư tưởng chính trị cho nhân dân VN và nhân dân các nước thuộc địa về bản chất của CNTD. Những sách báo ấy được bí mật gửi về nước góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của đồng bào trong nước và tố cáo tội ác của bọn thực dân.
- Tại Liên Xô: từ tháng 6/1923 đến tháng 11/1924: NAQ bí mật sang LX dự Hội nghị Quốc tế nông dân ở Matxcova (10/1923) và được bầu vào BCH Hội; dự Đại hội Quốc tế cộng sản V, Người đã trình bày quan điểm của mình về vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa, làm việc tại Quốc tế cộng sản, viết bài cho tạp chí “Thư tín quốc tế”, báo “Sự thật”.
=> Từ đó NAQ có thêm nhiều cơ hội tìm hiểu về CNXH và kết luận: nếu chỉ có nông dân không thể tự giải phóng dân tộc (vì giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng, không có điều kiện lao động tập trung, tư tưởng còn manh mún, mức độ tiếp thu các tư tưởng chính trị còn nhiều hạn chế). Người đã học tập phương pháp thành lập một chính đảng vô sản kiểu mới của Lê- nin, từ những hiểu biết về cách mạng vô sản.
- Thời kì ở Trung Quốc (1924 -1927):
+ Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (TQ) để trực tiếp đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng, truyền bá lý luận cách mạng giải phóng dân tộc về Việt Nam.
+Tại Quảng Châu, NAQ mở nhiều lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng. Năm 1925 Người cho xuất bản báo “Thanh niên”.
+Tháng 6- 1925, song song với việc chuẩn bị chính trị tư tưởng, NAQ thành lập tổ chức cách mạng đầu tiên của nước ta: Hội VNCMTN , hướng tổ chức này đi theo con đường cách mạng vô sản. Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông”(7/1925), để xây dựng tình đoàn kết giữa cách mạng các nước trong khu vực.
+Những bài giảng của Người sau này được tập hợp trong cuốn “Đường cách mệnh” được xuất bản năm 1927. Báo thanh niên và tác phẩm “Đường cách mệnh” đã trang bị lí luận giải phóng dân tộc cho cán bộ của Hội VNCMTN để tuyên truyền cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân Việt Nam.
* Thời kì ở Xiêm (1927-1929)
* Trực tiếp sáng lập Đảng CSVN

- Năm 1929, phong trào dân tộc dân chủ dâng cao khắp cả nước, dẫn đến sự phân hóa của Hội VNCMTN và sự xuất hiện 3 tổ chức cộng sản ở trong nước (…). Các tổ chức này nhanh chóng phát triển cơ sở ở nhiều địa phương và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh của quần chúng. Nhưng các tổ chức đó đều hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm chí công kích nhau làm cho phong trào cách mạng trong cả nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc được tin Hội VNCMTN phân biệt thành 2 nhóm, mỗi nhóm tổ chức thành một tổ chức cộng sản, Người liền rời khỏi Xiêm sang Trung Quốc để thống nhất các tổ chức Đảng.
- Với trách nhiệm là phái viên của Quốc tế cộng sản có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới phong trào cách mạng ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc chủ động triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Cửu Long - Hương Cảng - TQ để bàn việc thống nhất Đảng.
- Ngày 6-1-1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản tại Cửu Long - Hương Cảng - Trung Quốc. Người đã phân tích tình hình và phê bình những nhận thức lệch lạc. Hội nghị đã đi đến thống nhất các tổ chức cộng sản, thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo - được xem như Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta và quyết định thành lập Đảng CSVN, lấy ngày 3-2 hàng năm làm ngày kỷ niệm.
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối, lãnh đạo trong phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đây, ngọn cờ lãnh đạo cách mạng chuyển hẳn sang tay giai cấp công nhân.
=> NAQ đã góp phần quyết định làm chuyển biến phong trào yêu nước sang lập trường vô sản, cách mạng Việt Nam bước sang một bước ngoặt mới, giành nhiều thắng lợi trong những giai đoạn sau. Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp to lớn vào sự thành lập ĐCSVN.
 
Câu 4: Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Nguyễn Ái Quốc đã xác định và truyền bá vào Việt Nam lí luận cách mạng gì? Trình bày nội dung cơ bản của lí luận cách mạng đó. Theo anh (chị), lí luận cách mạng đó hiện nay còn tác dụng tích cực không? Hãy lí giải bằng quan điểm của bản thân.
a/ Lí luận mà Nguyễn Ái Quốc đã xác định và truyền bá vào Việt Nam trong những năm 20 của thế kỉ XX là lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
- Lí luận đó thể hiện qua các tài liệu:

+ Thông qua các tờ báo, các bài viết của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Nhân đạo ( của Đảng cộng sản Pháp), báo đời sống công nhân, báo sự thật, tạp chí thư tín quốc tế, báo Người cùng khổ, báo thanh niên.
+ Qua các bài tham luận của Nguyễn Ái Quốc trình bày trong quốc tế cộng sản lần thứ V, Đại hội quốc tế thanh niên, Đại hội quốc tế nông dân, Đại hội quốc tế phụ nữ.
+ Qua các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách Mệnh.

b/ Nội dung cơ bản

- Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trước hết phải thực hiện “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

- Nhiệm vụ cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, từng bước thực hiện khẩu hiệu “ruộng đất cho dân cày”.

- Lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là gốc của cách mạng, bên cạnh đó lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ.

- Nông dân và công nhân là “bạn đồng minh tự nhiên”, song giai cấp nông dân muốn giải phóng mình phải đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp vô sản, giữ vai trò lãnh đạo cách mạng.

- Thực hiện đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

c/ Lí luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc đến nay vẫn còn nguyên giá trị tích cực với thực tiễn là vì:

- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội…

- Kiên định chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm làm thất bại âm mưu phá hoại của kẻ thù...

- Thực hiện đoàn kết toàn dân tộc và kiều bào nước ngoài tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặt lợi ích đất nước và nhân dân lên hàng đầu, quyết tâm giữ vững độc lập chủ quyền Tổ quốc…
Câu 5: Phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng.
- Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc – con đường đi theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, NAQ ra sức học tập, nghiên cứu để hoàn chỉnh nhận thức của mình. Điều này được thể hiện trong bản tham luận mà Người trình bày tại Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản đã nói lên những quan điểm cơ bản về chiến lược và sách lược cách mạng giải phóng dân tộc
Những quan điểm tư tưởng đó được giới thiệu trong các tác phẩm của Người và được bí mật chuyển về trong nước, đến với các tầng lớp nhân dân. Nó tạo ra một chất men kích thích cho phong trào dân tộc phát triển và nhanh chóng chuyển mình theo xu hướng cách mạng mới của thời đại.
Những hoạt động của NAQ tích cực chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập ĐCSVN.
* Chuẩn bị về chính trị, tư tưởng:
- Trong những năm 20 của thế kỉ XX, NAQ truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc về nước để chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Nội dung lí luận đó được trình bày qua những bài viết cho các báo: báo Nhân đạo (của Đảng cộng sản Pháp), báo đời sống công nhân, báo sự thật, tạp chí thư tín quốc tế, báo Người cùng khổ, báo thanh niên; Qua các bài tham luận của Nguyễn Ái Quốc trình bày trong quốc tế cộng sản lần thứ V, Đại hội quốc tế thanh niên, Đại hội quốc tế nông dân, Đại hội quốc tế phụ nữ. Đặc biệt qua các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách Mệnh.
- Những tài liệu trên là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX đang đi tìm chân lí cứu nước, là ngọn cờ hướng đạo phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì vận động thành lập Đảng, là sự chuẩn bị về mặt tư tưởng, chính trị cho sự ra đời của ĐCSVN.
* Chuẩn bị về tổ chức:
- Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quãng Châu (Trung Quốc) liên lạc với những người Việt Nam yêu nước, tìm hiểu tổ chức Tâm tâm xã.Tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn một số thanh niên Việt Nam tích cực lập ra tổ chức “Cộng sản đoàn”.
- Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó tổ chức “Cộng sản đoàn” là nòng cốt. Ngày 21/6/1925, xuất bản tuần báo Thanh niên cơ quan ngôn luận của Hội ra số đầu tiên.
=> Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng, một bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng. Hội có hệ thống tổ chức chặt chẽ, từ cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ đến chi bộ.
+ Công tác xây dựng cơ sở trong nước cũng được chú trọng phát triển số hội viên của hội không ngừng tăng lên (Năm 1928 đã có 300 hội viên, đến 1929 phát triển 1700 Hội viên).
- Mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo một đội ngũ cán bộ. Từ năm 1925-1927, NAQ đã đào tạo được 75 người, đa số là thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức yêu nước. Họ học làm cách mạng, học hoạt động bí mật, rồi bí mật về nước hoạt động, tuyên truyền lí luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân. Một số sang học ở trường Đại học phương Đông Matcova (Liên Xô) hoặc vào trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Những hoạt động đó đã chuẩn bị về tổ chức cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam.
* Sáng lập Đảng CSVN
- Chủ động triệu tập và chủ trì hội nghị thành lập Đảng
+ Năm 1929, phong trào dân tộc dân chủ dâng cao khắp cả nước, dẫn đến sự phân hóa của Hội VNCMTN và sự xuất hiện 3 tổ chức cộng sản ở trong nước (…). Các tổ chức này nhanh chóng phát triển cơ sở ở nhiều địa phương và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đáu tranh của quần chúng. Nhưng các tổ chức đó đều hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm chí công kích nhau làm cho phong trào cách mạng trong cả nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc được tin Hội VNCMTN phân biệt thành 2 nhóm, mỗi nhóm tổ chức thành một đảng công sản, Người liền rời khỏi Xiêm sang Trung Quốc để thống nhất các tổ chức Đảng.
+ Với trách nhiệm là phái viên của Quốc tế cộng sản có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới phong trào cách mạng ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc chủ động triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Cửu Long - Hương Cảng - TQ để bàn việc thống nhất Đảng.
+ Ngày 6-1-1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản tại Cửu Long - Hương Cảng - Trung Quốc. Người đã phân tích tình hình và phê bình những nhận thức lệch lạc. Hội nghị đã đi đến thống nhất các tổ chức cộng sản thống nhất thành Đảng CSVN, lấy ngày 3-2 hàng năm làm ngày kỷ niệm. Thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo - được xem như Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Đó là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo. Độc lập và tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh và quyết định
- Theo sự phân công của hội nghị, NAQ đã viết lời kêu gọi quần chúng tham gia, ủng hộ Đảng và đứng dưới ngọn cờ đấu tranh của Đảng.
=> Như vậy NAQ là người sáng lập ra ĐCSVN

 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top