Điều Gì Làm Nên Thắng Lợi Thần Tốc Của Cách mạng tháng Tám năm 1945?

Mùa thu năm 1945 đã trở thành một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước chịu ách thống trị của phát xít và thực dân, thời cơ lịch sử đã xuất hiện, mở ra cơ hội để nhân dân đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, toàn dân đã đồng lòng tiến hành tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền ở nhiều địa phương đã về tay nhân dân, mở ra bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc, đưa Việt Nam bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do và xây dựng một nhà nước mới của nhân dân Việt Nam.

LỊCH SỬ 12 BÀI 6: CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bối cảnh lịch sử


- Thế giới: Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Đến ngày 15 8 - 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện.

- Trong nước:

+ Từ tháng 3 - 8 – 1945, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã diễn ra trong cả nước,

+ Ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc, ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

+ Ngày 14 – 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa.

+ Ngày 16 - 17/ 8/ 1945, Đại hội Quốc dân được triệu tập tại Tân Trào.

=> "Thời cơ ngàn năm có một” cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền xuất hiện.

2. Diễn biến chính

- Ngày 18-8 - 1945, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam đã giành chính quyền sớm nhất trong cả nước.

- Khởi nghĩa giành chính quyền ở các đô thị lớn: Hà Nội (19 – 8), Huế (23 – 8), Sài Gòn (25 – 8).

- Từ ngày 25 đến ngày 28 – 8 – 1945, các địa phương khác trong cả nước từ rừng núi, nông thôn, thành thị nối tiếp nhau khởi nghĩa... Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là hai địa phương giành thắng lợi cuối cùng.

- Ngày 30-8-1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn sụp đổ.

- Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với nhân dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

3. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm

a. Nguyên nhân thắng lợi

- Chủ quan:


Đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng; truyền thống yêu nước, đoàn kết của nhân dân; quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo.

- Khách quan :

Thắng lợi của lực lượng Đồng minh và Hồng quân Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít, đặc biệt là chiến thắng trước quân phiệt Nhật Bản.

b. Ý nghĩa lịch sử

- Trong nước:


+ Mở ra bước ngoặt lớn của dân tộc: kết thúc ách cai trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và gần 5 năm của quân phiệt Nhật; chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ.

+ Đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

+ Mở đầu kỉ nguyên mới: kỉ nguyên độc lập, tự do, nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước; giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội.

+ Đưa Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành đảng cầm quyền, chuẩn bị điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo của cách mạng Việt Nam.

- Quốc tế:

Góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên đấu tranh tự giải phóng.

c. Bài học kinh nghiệm

- Bài học về sự lãnh đạo của Đảng

- Bài học về xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc

- Bài học xác định thời cơ, tạo và chớp thời cơ

- Bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Cuộc cách mạng đã lật đổ ách thống trị của thực dân, phát xít và chế độ phong kiến, đưa chính quyền về tay nhân dân, mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc.Thắng lợi đó gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng thời thể hiện sức mạnh đoàn kết to lớn của toàn thể nhân dân Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tự hào của dân tộc mà còn là nguồn động lực để các thế hệ tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
B. CÂU HỎI MỞ RỘNG

Câu 1: Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang những tính chất nào? Tính chất nào là chủ yếu?


- Cách mạng tháng Tám trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính chất dân tộc.

+ Về đối tượng cách mạng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 nhằm vào kẻ thù là đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai. Chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai nên Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang tính chất dân tộc.

+ Xét về nhiệm vụ cách mạng: Các Hội nghị Trung ương Đảng (1939, 1940,1941) đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này là chống đế quốc giành độc lập dân tộc; chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất.

+ Xét về lực lượng: Cách mạng tháng Tám là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh. Việt Minh tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ). Như vậy, lực lượng đông đảo nhất của Mặt trận Việt Minh là lực lượng dân tộc. Vì thế Cách mạng tháng Tám mang tính chất dân tộc.

+ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một hình thức chính quyền nhà nước rộng rãi, không chỉ của công nhân và nông dân, mà của toàn thể dân tộc. Mọi người Việt Nam đã tham gia vào quá trình đấu tranh giành chính quyền thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia giành và giữ chính quyền.

- Cách mạng tháng Tám cũng mang tính chất dân chủ, biểu hiện là:

+ Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã bước từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Chính phủ cách mạng đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

+ Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào tháng lợi của phe dân chủ chống phát xít trên thế giới,

+ Một bộ phận những quyền dân chủ của nông dân đã được giải quyết: cấp ruộng đất, giảm tô, chia lại ruộng công...

- Tuy nhiên, tính chất dân chủ của Cách mạng tháng Tám không phải là tính chất điển hình vì dù đã xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến nhưng Cách mạng tháng Tám chưa xóa bỏ triệt để mọi cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ phong kiến, chưa giải quyết triệt để khấu hiệu người cày có ruộng, chưa hoàn toàn xóa bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến (giai cấp địa chủ còn tồn tại, chưa được xóa bỏ về mặt giai cấp).

Như vậy, Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ mới, trong đó tính chất dân tộc hết sức điển hình

Câu 2: Phân tích nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang của Đảng trong Cách nạng tháng Tám năm 1945.

-Lê-nin nói: “Khởi nghĩa vũ trang là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật được tuân theo những nguyên tắc của nó và nổ ra đúng thời cơ”. Nlững điều đó đòi hỏi người lãnh đạo cách mạng phải nhận thức đúng và có lành động khéo léo.

-Nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng tháng Tám tập trung ở phương pháp cách mạng. Đây là yêu tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể hiện tập trung ở phương pháp chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang.

Nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng:

Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, dựa vào lực lương chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.

Về hình thái phát triển cách mạng

Nếu như cuộc Cách mạng tháng Mười Nga (1917) bùng nổ ở các trung tâm đô thị rồi tỏa về vùng nông thôn, cách mạng Trung Quốc từ nông thôn tiến vào thành thị, lấy nông thôn bao vây thành thị, thì Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam lại diễn ra với sự kết hợp hài hòa giữa nông thôn và thành thị. Đảng coi trọng nông thôn là trận địa vững chắc, dựa vào nông thôn để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, tiếp tục xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó lã điều kiện để phát động toàn dân nổi dậy ở cả nông thôn và thành thị, trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa.

Về hình thức phát triển của cách mạng:

Hội nghị lần thứ Tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) xác định chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; xác định hình thức cuộc khởi nghĩa ở nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa. Luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, khi có thời cơ sẽ chuyến từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. Thực chất của Cao trào kháng Nhật cứu nước (từ 9 - 3 đến giữa tháng 8 -1945) là một thời kì khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền bộ phận ở nhiều vùng nông thôn. Từ ngày 14-8 đến ngày 28-8-1945, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã tổ chức cho nhân dân cả nước tiến hành cuộc Tống khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình,

Chủ tịch Hô Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập.

Nghệ thuật chớp thời phát động Tổng khởi nghĩa.

Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (đầu tháng 9 -1945), đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đểế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước thống nhất đều nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Đảng ta kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh (Anh - Pháp - Trung Hoa Dân quốc) vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, khiến Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và ít đồ máu.

Câu 3: Cách mạng thắng Tám năm 1945 ở việt Nam có phải là một cuộc cách mạng bạo lực hay không? Tại sao?

-Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một cuộc cách mạng bạo lực.

-Trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam, kẻ thù luôn dùng bạo lực để thống trị, đàn áp nhân dân ta, thì con đường để giành độc lập tự do chỉ có thể là con đường cách mạng bạo lực. Bạo lực là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân.

-Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc vùng dậy của cả dân tộc Việt Nam, diễn ra dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang. Đó là một cuộc cách mạng bạo lực. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng.

-Đảng và Hồ Chí Minh đã lãnh dạo xây dựng cơ sở của bạo lực cách mạng bao gồm hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ ưang.

+ Ngay từ khi ra đời, Đảng đã nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, quy tụ lực lượng sức mạnh của cả dân tộc, làm đẩy nên cao trào cách mạng năm 1930, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, Lực lượng chính trị cách mạng cũng được hình thành từ cao trào này.

+ Trong giai đoạn 1936 -1939, tận dụng khả năng hoạt động hợp pháp công khai, Đảng phát động phong trào dân chủ rộng lớn ở cả thành thị và nông thôn, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp xã hội, từ quần chúng cơ bản đến tầng lớp trên đấu tranh chống đế quốc phát xít, bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng, giành dân sinh, dân chủ. Từ phong trào này, Đảng đã xây dựng được một đội quân chính trị hùng hậu hàng triệu người.

+ Trong giai đoạn cứu nước 1939 - 1945:

Lực lượng chính trị được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện trong Mặt trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên “Cứu quốc”. Việt Minh là nơi tập hợp, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị cho cách mạng; đây là một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

-Trên cơ sở lực lượng chính trị, Đảng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng vũ trang gồm Cứu quốc quân (1941), Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944), được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân (5-1945); lực lượng bán vũ trang (du kích, đội tự vệ).

-Từ tháng 3 đến giữa tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, các lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã tích cực tham gia đấu tranh chống Nhật.

Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản Chỉ thị quyết định phát động một Cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền dề cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

Hình thức đấu tranh của quần chúng là từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang du kích, ở căn cứ địa Cao – Bắc - Lạng, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân cùng với quần chúng giải phóng nhiều xã, châu, huyện. Ở Bắc Kì, khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” thu hút hàng triệu người tham gia. Có nơi quân chúng đã giành được chính quyèn. Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Tiên Du (Bắc Ninh, 10 - 3 -1945), Bãn Yên Nhân (Hưng Yên, 11 - 3 - 1945). Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng (11- 3 -1945), thành lập Đội du kích Ba Tơ. Ở Nam Kì, Việt Minh hoạt động mạnh mẽ ở Mĩ Tho và Hậu Giang.

-Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, dựa vào lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.

Toàn thể dân tộc Việt Nam xuống đường với sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị quần chúng có vũ trang thô sơ là lực lượng đông đảo nhất và giữ vị trí quyết định thắng lợi. Lực lượng vũ trang, tuy số lượng ít, trang bị thiếu thốn, non yếu về trình độ tác chiến, nhưng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tiến công quân sự ở một số nơi, gây thắng thế cho cách mạng, đồng thời còn là lực lượng xung kích hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

-Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.



Câu 4: Chứng minh Cách mạng tháng Tám nỉm 1945 thắng lợi là kết quả cùa 15 năm chuẩn bị lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

*Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), thông qua Cương lĩnh chính trị là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có ý nghĩa quyết định cho những bước phát triển tiếp theo của lịch sử dân tộc Việt Nam.

-Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung nguyện suốt đời hy sinh cho lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân.

-Cho dù còn vắn tẳt nhưng là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đán, sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và nhân văn theo con đường cách mạng vô sản. Độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh, được phản ánh đầy đủ trong cương lĩnh này. Cương lĩnh đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại.

*Phong trào cách mạng 1930 -1931 là cuộc tập dượt đầu tiên cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

-Phong trào cách mạng 1930 -1931 đã khẳng định vai trò của khối liên minh công nông; xây dựng được đội ngũ cán bộ và đảng viên.

-Nếu không có phong trào cách mạng 1930 -1931, trong đó quần chúng công, nông đã vung ra một nghị lực cách mạng phi thường thì không thể có thắng lợi của phong trào dân chủ 1936 -1939 và Cách mạng tháng Tám 1945

*Phong trào dân chủ 1936 -1939 là cuộc tập dượt lần thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

-Qua phong trào này, quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; uy tín và ảnh hưởng của Đảng được nâng cao trong quần chúng; đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành; Đảng thêm trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu.

-Phong trào dân chủ 1936 -1939 là một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.

*Chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa (1939-1945)

-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939 đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu “lập chính quyền Xô viết công - nông - binh” bằng khẩu hiệu “lập chính quyền dân chủ cộng hòa”.

-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (5 -1941) đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; chỉ rõ một cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có đủ điêu kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ; xác định hình thái khởi nghĩa vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa.

-Chuẩn bị lực lượng chính trị

+ Xây dựng lực lượng chính trị gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Việt Minh (bao gồm các đoàn thể quần chúng mang tên "Cứu quốc”). Chương trình của việt Minh đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, nên phong trào của Việt Minh ngày càng phát triển mạnh.

+ Lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng đông đảo nhất, một lực lượng cơ bản, giữ vai trò quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Việt Minh là nơi tổ chức, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chinh trị, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng.

-Chuẩn bị lực lượng vũ trang

+ Cùng với quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, Đảng từng bước chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang.

+ Sau cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (11 - 1940), lực lượng vũ trang Bắc Sơn được duy trì để làm vốn quân sự cho cách mạng. Bước sang năm 1941 những đội du kích ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội cứu quốc quân 1 (14 - 2 -1941), Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 7 -1941 đến tháng 2 -1942). Ngày 15 - 9 -1941, Trung đội cứu quốc quân II ra đời.

+ ở Cao Bằng, trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh, các đội tự vệ cứu quốc ra đời. Cuối năm 1941, Nguyền Ái Quốc chỉ thị thành lập đội tự vệ gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. Người biên soạn nhiều tài liệu để huấn luyện cán bộ quân sự như Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Tàu...

+ Ngày 22 - 12 -1944, thực hiện chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Đội việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, lúc đâu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ba ngày sau, đội đánh thắng hai trận liên tiếp ở Phay Khắt và Nà Ngần.

+ Ngày 15 - 5 - 1945, Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân.

+ Lực lượng bán vũ trang cũng được xây dựng rộng khắp, ở cả nông thôn và thành thị, gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu.

+ Cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều là cơ sở của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong Tổng khởi nghĩa toàn dân, đập tan chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.

- Xây dựng căn cứ địa

+ Năm 1940, sau cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn, vùng Bắc Sơn - Võ Nhai được xây dựng thành một trung tâm căn cứ địa, gắn liền với sự ra đời và hoạt động của đội du kích Bắc Sơn.

+ Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chọn Cao Bằng làm nơi đầu tiên để xây dựng căn cứ địa. Từ đó, căn cứ địa cách mạng ngày càng mở rộng, phát triền thành căn cứ Cao – Bắc-Lạng.

+ Tháng 6 -1945, Khu giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đó là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới trong tương lai.

Tân Trào là thủ đô Khu giải phóng, ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập.

+ Công cuộc chuẩn bị lực lượng được tiến hành chu đáo. Toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng đón chờ thời cơ vùng dậy Tống khởi nghĩa.



 
Câu 5: Bằng những sự kiện lịch sử chọn lọc, hãy làm sáng tò vai trò của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.

*Xác định đường lối giải phóng dân tộc và chủ trương khởi nghĩa vũ trang

-Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) là người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Người đã xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc và truyền bá về Việt Nam. Những tư tưởng này là ngọn cờ hướng đạo cho phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì vận động thành lập Đảng, là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đang đi tìm chân lý đầu thế kỉ XX.

-Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam (1930), soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, xác định đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn. Cương lĩnh nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc.

-Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định đường lối và phương pháp cách mạng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị giương cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện mỗi nước Đông Dương. Nhờ sự chỉ đạo đó, toàn Đảng toàn dân đã tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

*Sáng lập Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị lực lượng chính trị

-Người rất quan tâm đến lực lượng chính trị, đã chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941). Việt Minh là khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và các tôn giáo yêu nước, cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng.

-Sự phát triển của Mặt trận Việt Minh góp phần xây dựng, tổ chức, giác ngộ và chuẩn bị lực lượng chính trị cho cách mạng.

*Chuẩn bị lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng

-Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo cán bộ quân sự. Từ năm 1925 đến năm 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc) người mở các lớp đào tạo cán bộ quân sự, chính trị cho cách mạng Việt Nam. Một số cán bộ được Nguyễn Ái Quốc cử đi học tại các trường quân sự của Trung Quốc và Liên xô nhằm chuẩn bị lực lượng vũ trang cho cách mạng.

-Những năm 1941-1944, Người viết Kinh nghiệm du kích tàu, Kinh nghiệm du kích Nga. Đặc biệt, Người biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ quân sự, tiêu biểu là Chiến thuật du kích.

-Cuối năm 1941, Người chỉ thị thành lập một đội vũ trang gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc.

-Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt dộng và phương châm tác chiến của lực lượng vũ trang. Đó là cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng. Chấp hành Chỉ thị này, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Tuyên Quang), Đội Việt Nam Tuyên truyèn Giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy,

-Thực hiện tư tưởng vũ trang quân chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân của Hồ Chí Minh, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân (5-1945); đồng thời lực lượng bán vũ trang gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày càng rộng khắp. cả hai lực lượng chính trị và vũ trang đều là chỗ dựa của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.

-Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn Cao Bằng làm nơi dừng chân đầu tiên. Trong thời kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước.

-Tháng 5-1945, Người cùng Trung ương Đảng chuyển về Tân Trào (Tuyên Quang), sử dụng Tân Trào thành nơi chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Xác định đúng thời cơ, kiên quyết phát động Tổng khởi nghĩa

-Cùng với Trung ương Đảng, Người đã dự đoán chính xác thời cơ và kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa. Ngay từ đầu tháng 8-1945, nhận được những thông tin về chiến thắng của quân đội Đồng minh đối với phát xít Nhật, Người đã dự đoán được thời cơ thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyèn trong cả nưởc đã tới, nên đã khẳng định: “Lúc này thời cơ đã tới, dù có hi sinh, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết tâm giành cho được độc lập". Sự chỉ đạo của Người đã giúp cho Trung ương Đảng có chủ trương kịp thời và phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước trước khi quân đội Đồng minh kéo vào nước ta.

-Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật dầu hàng Đồng minh không điều kiện (15/8), hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ, "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Ngày 16-8-1945, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã dến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ”.

-Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam quyết tâm nổi dậy giành chính quyền trong tháng 8 - 1945. Cách mạng Việt Nam tiến đến bước nhảy vọt vĩ đại, nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần trong Cao trào kháng Nhật cứu nước lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

-Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã giành được tháng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”.

*Sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

-Ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào đã cử ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

-Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Câu 6. CM tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình.

a. Cách mạng tháng Tám trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính chất dân tộc.


- Đối tượng cách mạng: CM tháng Tám năm 1945, nhằm vào kẻ thù là đế quốc, phát xít Pháp- Nhật và tay sai. Chống đế quốc phát xít Pháp – Nhật và tay sai nên CM tháng Tám năm 1945 mang tính chất dân tộc.

- Xét về nhiệm vụ cách mạng: Các Hội nghị W Đảng (1939, 1940,1941) đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc; Chủ trương giải quyết mối qun hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất.

- Xét về lực lượng: CM tháng Tám là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết trong mặt trận Việt Minh. Việt Minh tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ). Như vậy, lực lượng đông đảo nhất của mặt trận Việt Minh là lực lượng dân tộc. Vì thế Cách mạng tháng Tám mang tính chất dân tộc.

- Nhà nước VNDCCH là một hình thức chính quyền rộng rãi, không chỉ của công nhân và nông dân, mà của toàn thể dân tộc. Mọi người Việt Nam đã tham gia vào quá trình đấu tranh giành chính quyền thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia giành và giữ chính quyền.

b. CM tháng Tám cũng mang tính chất dân chủ:

- Với thắng lợi của CM tháng Tám, nhân dân VN đã bước từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Chính phủ cách mạng đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

- Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào thắng lợi của phe dân chủ chống phát xít trên thế giới.

- Một bộ phận những quyền dân chủ của nông dân đã được giải quyết cấp ruộng đất giảm tô, chia lại ruộng công,…

c. Tuy nhiên, tính chất dân chủ của cách mạng tháng Tám không phải là tính chất điển hình, ví dụ đã xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến nhưng cách mạng tháng Tám chưa xoá bỏ triệt để mọi cơ sở kinh tế, xã hội của chế độ phong kiến, chưa giải quyết triệt để khẩu hiệu người cày có ruộng, chưa hoàn toàn xoá bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến (giai cấp địa chủ còn tồn tại, chưa được xoá bỏ về mặt giai cấp).

=> Như vậy cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ mới, trong đó tính chất dân tộc hết sức điển hình.



Câu 7: Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý ngĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm cách mạng tháng Tám?

a. Nguyên nhân thắng lợi:


* Nguyên nhân khách quan:

- Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và lực lượng dân chủ đã thừng bước làm thất bại lực lượng phát xít, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng.

- 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan đông của Nhật ở Đông Bắc, Trung Quốc. Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirosima và Nagaxaki của Nhật Bản, giết hại hàng vạn người dân vô tội.

+ Ngày 15/8/1945,Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Đó là thời cơ “nghìn năm có một” cho nhân dân Việt Nam đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu.

* Chủ quan:

- Dân tộc VN vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy khi ĐCSĐD và Mặt trận Việt Minh phất cao cờ cứu nước thì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà.

- Có sự lãnh đạo của ĐCSĐD, đứng đầu là chủ tịch HCM, đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo.

- Đảng có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, đặc biệt là lãnh đạo chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.

- Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo, chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.



b. Ý nghĩa lịch sử:


* Đối với trong nước:

- Mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và phát xít Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.

- Thắng lợi của CM tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng VN, mở đầu kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc: Kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước, kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng nhân dân lao động.

- ĐCSĐ D từ chỗ hoạt động bí mật, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai, từ hoạt động bất hợp pháp, trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước.

* Với thế giới:

- Thắng lợi của CM tháng Tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới, một dân tộc nhỏ yếu tự giải phóng khỏi ách thống trị thực dân đế quốc và là thắng lợi đầu tiên của Đảng vô sản ở nước thuộc địa, giành được chính quyền CM trong cả nước. Do đó, CM tháng Tám góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Lào và Cam-puchia.

- Góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, tạo điều kiện để các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng.



c. Những bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám.


- Đảng vận dụng sáng tạo CN mac-Lê nin vào hoàn cảnh thực tiễn VN, nắm bắt diễn biễn tình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp đúng đắn sáng tạo nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đưa nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hàng đầu, nhằm tập trung lực lượng để thực hiện cho kỳ được yêu cầu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

+ Dưới thời thuộc địa, xã hội VN có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc và giai cấp, trong đó mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất. Vì vậy nhiệm vụ giải phóng đan tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

+ Giai cấp nông dân VN chiếm hơn 90% dân số, là lực lượng chủ lực của CM. Giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng nông dân. Yêu cầu được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là yêu cầu hàng đầu của nông dân. Yêu cầu ruộng đất cho nông dân chỉ là thứ yếu so với yêu cầu độc lập.

+ Xuất phát từ đặc điểm trên, trong giai đoạn vận động cách mạng tháng Tám, Đảng đã thay đổi chủ trương chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Nhờ đó đã phân hoá hàng ngũ kẻ thù và huy động được sức mạnh của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của CM tháng Tám.

- Đảng tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi- mặt trận Việt Minh- tạo nên sức mạnh toàn dân. Đánh giá đúng và biết tập hợp, tổ chức lực lượng các giai cấp cách mạng, trong đó công nông là đội quân chủ lực. Trên cơ sở khối liên minh công nông, biết khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp yêu nước và tiến bộ trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng.

- Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị với khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị tiến tới tổng khởi nghĩa.

+ Bạo lực cách mạng là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng. Từ nhận thức trên, Đảng chỉ đạo xây dựng chỗ dựa của bạo lực bao gồm cả dân tộc, được tổ chức thành hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.

+ Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đảng đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.

+ Nhận rõ vai trò, vị trí của nông thôn và thành thị, Đảng ta đã xây dựng lực lượng cách mạng trên cả 2 địa bàn với mức độ khác nhau: Nông thôn được xem là trận địa vững chắc, là chỗ dựa để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, ra sức xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó là điều kiện phát động toàn dân nổi dậy cả nông thôn và thành thị. Trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi Tổng KN tháng Tám.

- Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng để vững mạnh về tổ chức. đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công

+ Trong vòng 15 năm lãnh đạo (1930-1945), Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Qua đó, Đảng đẫ rèn luyện được đội ngũ cán bộ đảng viên làm cho Đảng ngày càng phát triển và trưởng thành.

+ Nhờ quan hệ gắn bó với nhân dân, từng bước đấu tranh cho quyền lợi dân tộc, của nhân dân. Đảng đã vững mạnh về tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo CM thành công.

 
Câu 8: Nước VNDCCH ra đời như thế nào? Nội dung TNĐL.
a. Nước VNDCCH ra đời như thế nào?


- Trong bối cảnh phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh (15/8/1945), Đảng CSĐD và mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước từ ngày 13/8 - 28/8/1945.

- Ngày 25/8/1945, HCM cùng với Trung ương Đảng và Uỷ ban dân tộc giải phóng VN từ Tân Tào về Hà Nội.

- Ngày 28/8/1945, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam DCCH.

- Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, chủ tịch HCM thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước VNDCCH.

b. Tuyên ngôn độc lập.

- Bản tuyên ngôn khẳng định quyền độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm mà mọi dân tộc được hưởng: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”.

- Cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân ta đã giành được những thắng lợi: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ cộng hoà.

- Cuối bản tuyên ngôn khẳng định ý trí sắt đá của nhân dân VN quyết giữ vững nền độc lập tự do vừa giành được: Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy.

Câu 9: Nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng tháng Tám.

- Lên nin nói: Khởi nghĩa vũ trang là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật được tuân theo những nguyên tắc của nó và nổ ra đúng thời cơ. Nhưng điều đó đòi hỏi người lãnh đạo cách mạng phải nhận thức đúng và có hành động khéo léo.

- Nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang trong CMT tám tập trung ở phương pháp cách mạng, Đây là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, thể hiện tập trung ở phương pháp chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang.
a. Nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng.


- Trong tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, dựa vào lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.

b. Về hình thái phát triển cách mạng:

- Nếu như Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ ở trung tâm đô thị rồi tỏa về vùng nông thôn, cách mạng Trung Quốc từ nông thôn tiến vào thành thị, lấy nông thôn bao vây thành thị, thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam lại diễn ra sự kết hợp hài hòa giữa nông thôn và thành thị.

- Nhận rõ vai trò, vị trí của nông thôn và thành thị, Đảng ta đã xây dựng lực lượng cách mạng trên cả 2 địa bàn với mức độ khác nhau: Nông thôn được xem là trận địa vững chắc, là chỗ dựa để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, ra sức xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó là điều kiện phát động toàn dân nổi dậy cả nông thôn và thành thị. Trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi Tổng KN tháng Tám.

c. Về hình thức phát triển cách mạng:

- Hội nghị lần thứ VIII BCH W Đ (1941), xác định chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, hình thức: đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Thực chất của cao trào kháng Nhật cứu nước (từ tháng 3 đến giữa tháng 8/1945), là một thời kì khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền bộ phận ở nhiều vùng nông thôn.

- Từ 14-8 đến 28-8-1945, Đảng và Mặt trận VM đã tổ chức cho nhân dân cả nước tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2-9-1945, tại Ba đình, HCM đọc bản TNĐL. Nước VNDCCH thành lập.

c. Nghệ thuật chớp thời cơ phát động tổng khởi nghĩa:

- Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện khách quan và chủ quan, phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. “Thời cơ ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh (15/8/1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (đầu thàng 9/1945). Đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến.

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng từ ngày 14-28/8/1945, nhân dân cả nước nhất tề nổi dậy giành chính quyền thắng lợi, Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Đảng đã kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân đồng minh (Anh – Pháp – Trung hoa dân quốc) vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, khiến Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và ít đổ máu.
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top