Ba Chàng Sinh viên- Ngữ Văn 9

Phần mở đầu (Tóm tắt bối cảnh)
Vào năm 1895, tại căn nhà trọ ở một thành phố của Anh, Sơ-lốc Hôm (Sherlock Holmes) và người bạn Oát-xơn (Watson) nghe ông Hin-tơn Xôm (Hilton Soames) – giảng viên trường Đại học Xanh Lúc (St. Luke) – kể về vụ việc xảy ra ở trường mình. Khoảng 3 giờ chiều nay, bản in thử đề thi tiếng Hy Lạp được gửi đến, thầy Xôm đã phải soát lại để đảm bảo đề bài tuyệt đối chính xác. Tới 4 giờ 30 phút, thầy vẫn chưa đọc xong nhưng vì phải đi dùng trà cùng một người bạn nên đã giữ đề lại cẩn thận. Khi trở về, thầy kinh ngạc thấy chìa khóa đang cắm vào ổ khóa cửa phòng do người hầu Be-ni-xtơ (Bannister) quên rút. Trước khi đi, thầy để ba trang đề thi ở cùng một chỗ, nhưng lúc này, một trang trên bàn kê sát cửa sổ, còn một trang nằm trên sàn. Trên bàn có vài mảnh vỏ bút chì, một đầu chì gãy, vết rách dài độ 3 inch và một mẩu bột đen nhỏ, lấm tấm mùn cưa.

Thầy Xôm cho biết thêm, có một sinh viên tên là Đao-lát Rát (Daulat Ras) đã vào phòng hỏi về cuộc thi lúc ấy bản in thử đã được mang đến nhưng vẫn còn cuộn lại. Holmes được mời tới phòng thầy Xôm để xem xét. Phòng làm việc của thầy có một cửa sổ gắn lưới sắt nhìn ra khoảng sân rêu phong của ngôi trường cổ kính. Holmes cho rằng có người đã chép được nửa tờ thứ hai thì thấy thầy Xôm về nên vội rút lui, không kịp để đề thi về chỗ cũ. Hắn đã viết mạnh đến mức làm gãy ngòi chì, phải vót lại. Vị thám tử cũng phát hiện trong phòng ngủ của thầy Xôm có mẩu nhỏ màu đen dạng hình chóp, giống hệt mẩu trên bàn ngoài phòng làm việc. Holmes phỏng đoán kẻ chép trộm đề thi đã trốn vào phòng ngủ trong suốt thời gian thầy Xôm nói chuyện với Be-ni-xtơ ở phòng làm việc của thầy. Theo lời thầy Xôm, có ba sinh viên ở tầng một: Ghi-crít (Gilchrist) – một sinh viên chăm chỉ và là vận động viên giỏi; Đao-lát Rát sống ở tầng hai; và Mai Mắc-Le-rờn (Miles McLaren) – một người lười học, ăn chơi và vô kỉ luật ở tầng trên cùng.
Quá trình điều tra tại các phòng sinh viên
– Tôi muốn ngó qua từng người một – Hôm nói. – Vậy có được không nhỉ? – Dễ thôi – Xôm trả lời. – Dãy phòng này thuộc loại cổ nhất trong trường, vì vậy chuyện có khách tới tham quan cũng không hề lạ. Mời các ông đi theo tôi, sẽ dẫn đường. – Ông nhớ đừng gọi tên chúng tôi đấy nhé! – Hôm nói khi chúng tôi gõ cửa phòng Ghi-crít.

Một thanh niên cao gầy, tóc hoe vàng ra mở cửa rồi niềm nở mời chúng tôi vào khi biết mục đích chuyến viếng thăm. Phòng vẫn còn lại vài bức phù điêu đẹp đẽ thời Trung cổ. Hôm mê mẩn một bức điêu khắc rồi vẽ nó vào cuốn sổ tay cho kì được. Anh làm gãy bút chì nên đành hỏi mượn một cái của chủ nhân căn phòng, rồi sau đó mượn thêm dao để chuốt. Vận xui kì lạ đó tiếp tục bám theo anh tại phòng cậu người Ấn. Đó là một gã trầm lặng, nhỏ thó, mũi khoằm, cứ gườm gườm nhìn chúng tôi suốt và mừng ra mặt khi Hôm nghiên cứu xong mấy bức phù điêu. Tuy nhiên tại cả hai phòng, tôi đều không thấy Hôm bắt được manh mối cần tìm. Đến phòng thứ ba, mảnh của Hôm thất bại từ trong trứng nước. Chúng tôi gõ cửa nhưng chủ nhân căn phòng không chịu mở, đã thế còn tặng chúng tôi một tràng chửi rủa.
– Tôi có cần biết mấy người là ai. Mấy người đi phút cho nhờ! – Giọng giận dữ gầm lên. – Tôi bận ôn thi, các người nghe rõ chưa? – Một gã thô lỗ. – Người dẫn đường của chúng tôi nói, đỏ mặt giận dữ khi chúng tôi xuống nhà. – Tất nhiên cậu ta không biết tôi là người gõ cửa. Nhưng kể cả vậy thì cậu ta cũng quả là bất lịch sự và lối cư xử đó thật đáng ngờ trong hoàn cảnh này.
Phản ứng của Hôm khá kì lạ. – Ông có thể cho biết chiều cao chính xác của cậu này không? – Anh hỏi. – Ông Hôm, tôi quả thật không biết chắc. Cậu ta cao hơn cậu người Ấn nhưng thấp hơn Ghi-crít. Chắc tầm năm foot sáu.
Buổi sáng giải mã vụ án
8 giờ sáng hôm sau, Sơ-lốc Hôm giục Oát-xơn đi tới trường. Hôm nói rằng mình đã dậy từ 6 giờ sáng và mang về một mẫu đất sét hình chóp màu đen. Khi chúng tôi tới nơi, ông thầy khốn khổ đang đứng ngồi không yên. – Ơn trời ông đến rồi! Tôi chỉ sợ ông cùng bỏ tay. Tôi phải làm gì đây? Kì thi có tiếp tục không? – Có. Bất luận thế nào cũng phải để nó diễn ra. – Nhưng còn tên vô lại kia? – Hắn sẽ không thi. – Ông biết hắn là ai rồi sao? – Tôi nghĩ vậy. Vì chuyện này phải được giữ kín nên chúng ta sẽ tự lập ra một tòa án nho nhỏ vậy. Thầy Xôm, mời thầy ngồi đằng kia! Oát-xơn, anh ngồi đây! Tôi sẽ ngồi ở ghế bành chính giữa. Chúng ta đã đủ oai nghiêm để làm thủ phạm phải hoảng hốt rồi đấy. Xin thầy vui lòng rung chuông!
Be-ni-xtơ vào, ông ta suýt té ngửa vì ngạc nhiên và hốt hoảng trước phong thái pháp đình của chúng tôi. – Giờ thì Be-ni-xtơ, ông vui lòng khai thật cho chúng tôi biết sự việc hôm qua chứ? Ông này tái mét tới tận chân tóc. – Thưa ông, tôi đã thưa cả rồi. Không còn gì để kể thêm sao? – Không, thưa ông. – Nếu vậy, tôi đành gợi ý cho ông vài điều. Hôm qua khi ngồi xuống chiếc ghế đó, phải chăng ông có chủ đích che giấu một vật có thể tiết lộ danh tính kẻ đột nhập? Be-ni-xtơ tái mặt. – Không, thưa ông. Không hề.
Sau đó, thầy Xôm lên phòng cậu Ghi-crít và bảo cậu ta xuống đây. Một lát sau, cậu ta có dáng dấp đẹp đẽ, cao ráo, uyển chuyển và nhanh nhẹn, bước đi thoăn thoắt và gương mặt cởi mở, dễ gần. Đôi mắt xanh tràn ngập lo âu nhìn từng người trong chúng tôi, rồi cuối cùng bàng hoàng dừng lại ở Be-ni-xtơ đang đứng trong góc đằng xa.
Lời vạch trần của Sherlock Holmes
– Đóng cửa lại đã – Hôm nói. – Này cậu Ghi-crít, ở đây chỉ có chúng ta và không ai ngoài kia biết gì về chuyện này. Chúng ta hoàn toàn có thể thẳng thắn nói chuyện với nhau. Cậu Ghi-crít, chúng tôi muốn biết làm sao mà một con người trọng danh dự như cậu lại làm cái chuyện như hôm qua chứ? Chàng trai khốn khổ loạng choạng bước lui và ném về Be-ni-xtơ một cái nhìn hoảng sợ pha lẫn trách móc. – Không, không phải tôi đâu, thưa cậu Ghi-crít. Tôi không hề nói một lời nào – không hề răng một lời nào hết! – Ông người hầu kêu lên.
– Nào, nào – Hôm nhẹ nhàng nói. – Đời chẳng có ai là không phạm sai lầm và ít ra không ai có thể quy kết rằng cậu đã phạm tội ác tày trời. Ghi-crít gục một bàn tay lên và cố kìm nén vẻ uất ức hiện lên gương mặt trong chốc lát. Sau đó, cậu ta quỳ thụp xuống cạnh bàn, hai tay ôm mặt và bật khóc.
Holmes giải thích: "Trước khi vào nhà, tôi có kiểm tra cửa sổ phòng làm việc của thầy. Lúc ấy, tôi đang ước lượng xem người này phải cao chừng nào mới có thể thấy giấy tờ để trên bàn giữa phòng là gì khi đi ngang qua. Tôi cao sáu foot, ấy vậy mà cũng phải cố lắm tôi mới nhìn ra được. Vậy nên kẻ kia phải cao tầm tôi hoặc hơn. Giờ hẳn thầy đã rõ vì sao trong ba cậu sinh viên, tôi lại nghi ngờ cậu Ghi-crít nhất.

Chuyện xảy ra như thế này: Cả buổi chiều chàng trai kia ở ngoài sân vận động để luyện nhảy xa. Cậu ta đi đôi giày nhảy về, mà như thầy biết đấy, đây là loại giày đinh. Lúc đi ngang cửa sổ phòng thầy, nhờ lợi thế chiều cao nên cậu ta thấy mấy bản in thử trên bàn và đoán ra chúng là gì. Chuyện xấu đã chẳng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thầy, cậu ta không thấy cái chìa khoá người hầu sơ suất để quên.

Khi thấy đó đúng là đề thi, cậu ta đã đầu hàng sự cám dỗ. Cậu ta đặt giày lên bàn. Cậu ta để găng tay trên ghế rồi lấy từng tờ đề thi để chép lại. Cậu ta tưởng thầy sẽ về qua cửa chính nên ngồi bên bàn cạnh cửa sổ để trông chừng. Như chúng ta đã biết, thầy vào bằng cửa hông. Cậu ta rất bất ngờ khi nghe tiếng thầy mở cửa ngoài. Cậu ta không còn đường thoát. Cậu ta chộp lấy đôi giày và chạy ào vào phòng ngủ nhưng để quên đôi găng tay. Thầy quan sát thấy rằng vết rách khá nông ở một bên, nhưng lại hằn rõ theo hướng của​
 

Tóm tắt các tình tiết chính trong Ba chàng sinh viên​

  • Sự việc khởi đầu: Năm 1895, tại một thành phố đại học ở Anh, thầy Hilton Soames – giảng viên trường Đại học Xanh Lúc – tìm đến Sherlock Holmes trong trạng thái hốt hoảng để nhờ giúp đỡ về một vụ chép trộm đề thi học bổng tiếng Hy Lạp vừa xảy ra tại phòng làm việc của thầy.
  • Phát hiện tại hiện trường: Thầy Soames cho biết trong lúc thầy đi dùng trà chiều, người hầu Bannister đã vô tình để quên chìa khóa ở cửa. Khi trở về, thầy thấy các bản in thử đề thi bị xáo trộn: một tờ dưới sàn, một tờ trên bàn sát cửa sổ và một tờ trên bàn viết. Tại hiện trường, Holmes thu thập được các manh mối: vài mảnh vỏ bào bút chì, một mẩu bút đen nhỏ, một vết rách dài trên mặt bàn da và những mẩu đất sét màu đen hình chóp dính mùn cưa.
  • Xác định đối tượng tình nghi: Vụ án khu trú vào ba sinh viên sống cùng tòa nhà và đi chung cầu thang qua phòng thầy Soames: Gilchrist (sinh viên giỏi thể thao, sống ở tầng hai), Daulat Ras (sinh viên người Ấn Độ, sống ở tầng ba) và Miles McLaren (sinh viên lười biếng, sống ở tầng trên cùng).
  • Quá trình điều tra: Holmes trực tiếp đến thăm phòng của từng sinh viên dưới danh nghĩa khách tham quan để quan sát thái độ của họ. Ông cũng bí mật đến một tiệm bán văn phòng phẩm và sân vận động để đối chiếu các manh mối vật chất.
  • Tháo gỡ nút thắt: Sáng hôm sau, Holmes mời thầy Soames và người hầu Bannister đến để công bố kết quả. Ông chỉ ra sự bất thường trong hành động của Bannister khi người này ngồi thụp xuống chiếc ghế để che giấu đôi găng tay mà thủ phạm bỏ quên. Holmes giải thích rằng thủ phạm phải là người rất cao để nhìn thấy đề thi qua cửa sổ và là vận động viên nhảy xa thì mới có những mẩu đất sét và dấu đinh giày để lại trên bàn.
  • Kết thúc vụ án: Thủ phạm được xác định là Gilchrist. Trước sự chứng kiến của mọi người, Gilchrist đã cúi đầu nhận tội và trình ra lá thư xin lỗi đã viết từ đêm trước. Cậu quyết định không tham gia kỳ thi và sang Nam Phi để gia nhập Sở Cảnh sát Rốt-đơ (Rhodes) nhằm làm lại cuộc đời. Holmes đã dành lời khích lệ cho sự hối cải này của cậu.
 

Vai trò của Bannister trong vụ án là gì?​

Trong vụ án "Ba chàng sinh viên", nhân vật Bannister (người hầu của thầy Soames) đóng một vai trò rất đặc biệt, vừa là người vô tình tạo ra sơ hở, vừa là người nỗ lực che giấu sự thật nhưng cuối cùng lại là nhân tố giúp thủ phạm tỉnh ngộ. Vai trò của ông có thể được phân tích qua các khía cạnh sau:
  • Người vô tình tạo ra hiện trường: Bannister chính là người đã để quên chìa khóa ở cửa phòng thầy Soames sau khi mang trà vào. Chính sơ hở này đã tạo điều kiện cho thủ phạm (Gilchrist) có cơ hội lẻn vào phòng để chép trộm đề thi.
  • Người che giấu chứng cứ (Đồng phạm bất đắc dĩ): Khi cùng thầy Soames phát hiện ra vụ việc, Bannister đã có hành động bất thường là ngồi thụp xuống chiếc ghế sát cửa sổ. Qua suy luận của Sherlock Holmes, thực chất ông ngồi đó để che giấu đôi găng tay mà Gilchrist đã bỏ quên trong lúc vội vã lẩn trốn. Hành động này nhằm bảo vệ Gilchrist khỏi bị thầy Soames phát hiện ngay lúc đó.
  • Người bảo vệ dựa trên lòng trung thành: Động cơ của Bannister không phải là vì tiền bạc hay ác ý, mà là vì lòng trung thành với gia đình Gilchrist. Trước đây, ông từng làm việc cho cha của Gilchrist (một quý tộc đã qua đời). Vì tình cảm gắn bó từ lâu, ông không nỡ nhìn thấy con trai của chủ cũ bị hủy hoại tiền đồ nên đã tìm cách bao che.
  • Người định hướng đạo đức: Dù che giấu chứng cứ cho Gilchrist, nhưng Bannister không ủng hộ hành động gian dối. Sau khi vụ việc xảy ra, chính ông là người đã nói chuyện, thuyết phục Gilchrist rằng cậu không thể trục lợi từ hành vi sai trái này. Lời khuyên của ông đã góp phần giúp Gilchrist quyết định viết thư xin lỗi và không tham gia kỳ thi để làm lại cuộc đời.
Tóm lại, Bannister không chỉ là một người hầu trung hậu mà còn là một mắt xích quan trọng giúp Sherlock Holmes tháo gỡ những bí ẩn cuối cùng về tâm lí và hành động của thủ phạm​
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top