Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - văn 6

1. Yêu cầu đối với bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích

  • Được kể từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Người kể chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện.
  • Khi kể có tưởng tượng, sáng tạo thêm nhưng không thoát ki truyện gốc.
  • Cần có sự sắp xếp hợp lí các chi tiết và bảo đảm có sự kết nối giữa các phần. Nên nhấn mạnh, khai thác nhiều hơn các chi tiết tưởng tượng, hư cấu và kì ảo
  • Có thể bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tả người, tả vật hay thể hiện cảm xúc của nhân vật

2. Hướng dẫn các bước viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích

Bước 1. Trước khi viết
- Chọn ngôi kể và đại từ tương ứng: Ngôi kể sẽ là ngôi thứ nhất (Ví dụ: ta, tôi, mình, tớ,... phù hợp với địa vị, giới tính,... của nhân vật em đóng vai cũng như bối cảnh kể)
- Chọn lời kể phù hợp

  • Cần xác định được giới tính, tuổi tác, địa vị,... của nhân vật đã lựa chọn lời kể phù hợp (cách xưng hô, dùng từ ngữ,...)
  • Tính chất lời kể vui, buồn, thân mật, nghiêm trang,... cũng cần phù hợp với nội dung câu chuyện được kể, bối cảnh kể.
- Ghi những nội dung chính của câu chuyện
- Lập dàn ý:


- Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu chuyện định kể.
- Kể lại diễn biến của câu chuyện.
  • Xuất thân của các nhân vật.
  • Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.
    • Sự việc 1
    • Sự việc 2
    • Sự việc 3
- Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện

Bước 2: Viết bài văn dựa trên dàn ý đã lập
Bước 3. Chỉnh sửa bài viết
Xem lại và chỉnh sửa bài viết theo một số gợi ý sau đây:

- Được kể từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Người kể chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện.- Rà soát để bảo đảm sự chính xác và thống nhất về người kể chuyện, ngôi kể, từ ngữ, xưng hô. Nếu chưa chính xác và thống nhất, cần chỉnh sửa.
- Có sự tưởng tượng, sáng tạo thêm nhưng không thoát li truyện gốc; tránh làm thay đổi, biến dạng các yếu tố cơ bản của cốt truyện ở truyện gốc.- Đánh dấu các diễn biến chính, các chi tiết được lấy từ truyện gốc; kiểm tra tính chính xác của chúng. Nếu chưa chính xác thì cần sửa lại cho đúng với truyện gốc.
- Kiểm tra tính hợp lí, nhất quán giữa các chi tiết được sáng tạo thêm với truyện gốc (quan hệ nhân quả, trật tự thời gian,...). Nếu chưa phù hợp, cần sửa lại.
- Cần có sự sắp xếp hợp lí các chi tiết và bảo đảm có sự kết nối giữa các phần.- Rà soát trình tự lô-gic và sự kết nối giữa các chi tiết, các đoạn, các phần. Chỉnh sửa nếu chưa hợp lí.
- Cần bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tả người, tả vật hay thể hiện cảm xúc của nhân vật.- Kiểm tra các yếu tố miêu tả, biểu cảm. Nếu chưa có hoặc chưa đủ thì cần bổ sung.
- Được kể từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Người kể chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện.- Rà soát để bảo đảm sự chính xác và thống nhất về người kể chuyện, ngôi kể, từ ngữ, xưng hô. Nếu chưa chính xác và thống nhất, cần chỉnh sửa.
 
Sửa lần cuối:

Đóng vai Thủy Tinh kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh


Ta là Thủy Tinh - một vị thần đến từ biển cả có tài năng hô mưa gọi gió. Cả đời ta tung hoành ngang dọc, nhưng không thể ngờ rằng lại gặp phải thất bại nặng nề khi tiến vào đất liền.

Năm đó, ta tiến vào đất liền dạo chơi, vừa hay đúng lúc Vua Hùng kén rể cho con gái. Nhìn thấy nàng Mị Nương xinh đẹp, hiền dịu, ta liền quý mến vô cùng. Thế là ta liền vào tham gia kén rể. Tất cả mọi người ở đó chẳng ái là đối thủ của ta. Cuối cùng, chỉ còn lại ta và một kẻ tên là Sơn Tinh là ngang sức ngang tài. Bởi vì hắn cũng biết phép lạ là dời núi lấp bể. Điều này khiến Vua Hùng hết sức băn khoăn. Sau cùng, ngài đã đưa ra một danh sách các sính lễ quý hiếm với số lượng lớn và bảo rằng, ai mang sính lễ đến trước sẽ là người chiến thắng.

Suốt cả đêm, ta không nghỉ ngơi ra sức tìm sính lễ. Ngờ đâu, khi mang sính lễ đến nơi thì hôn lễ của Mị Nương và Sơn Tinh đã hoàn thành xong rồi. Tức giận vô cùng, ta liền dâng nước để đuổi đánh Sơn Tinh. Ta kéo mây, tạo mưa to gió lớn, dâng nước nhấn chìm cả thành Phong Châu. Thế nhưng, tên Sơn Tinh kia lại không hề nao núng. Hắn nâng đất dựng thành kéo lũy chắn dòng nước lũ, dời núi lên cao để tránh bị nhấn chìm. Cứ thế, chúng ta đánh nhau cả mấy tháng trời. Cuối cùng ta đuối sức trước, đành rút quân đi trong sự căm phẫn khôn cùng.

Từ đó về sau, năm nào ta cũng kéo quân đánh Sơn Tinh cả. Dù chưa một lần chiến thắng, nhưng ta tin chắc rằng, một ngày nào đó, ta sẽ tiêu diệt được hắn.
 

Đóng vai Thủy Tinh kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh 2

Ta là Thuỷ Tinh, chúa của vùng biển cả. Ta đã nhiều lần giao chiến với Sơn Tinh để cướp Mị Nương, nhưng lần nào cũng thất bại.

Chuyện kể rằng Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương. Người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Nhà vua hết mực thương yêu con gái, muốn kén cho con một người chồng xứng đáng. Không đợi chờ gì nữa, ta liền đến xin cầu hôn nàng.

Khi đến nơi, ta gặp một người tên là Sơn Tinh - chúa vùng núi cao. Anh ta cúi xuống lạy vua Hùng, rồi bắt đầu trổ tài: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Ta nghĩ thầm anh chàng cũng giỏi giang đấy, nhưng so sao được với ta, chúa miền nước thẳm. Ta cũng tiến lên xin vua Hùng được trổ tài. Ta cất tiếng gọi thì một luồng gió mạnh nổi lên, mây đen ùn ùn kéo đến, mưa trút xuống ào ào. Xem xong, nhà vua tỏ vẻ băn khoăn, rồi cho gọi các Lạc hầu của mình bàn bạc rất lâu. Khi trở ra, nhà vua nói:

- Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái. Thôi thì ngày mai, ai đem sính lễ đến trước ta sẽ gả con gái cho.

Chúng ta tâu hỏi đồ sính lễ cần sắm những gì, vua Hùng liền bảo:

- Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ phải đủ một đôi.

Ta nghĩ bụng những thứ lễ vật kia rất khó tìm ở vùng biển cả. Nhưng một người tài giỏi như ta, không có gì là không làm được. Ta liền chào vua Hùng rồi ra về sai người đi chuẩn bị. Nào ngờ hôm sau, mới tờ mờ sáng, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến rước Mị Nương về núi.

Ta đến sau, không lấy được vợ thì tức giận lắm. Ta đem quân đuổi theo đánh Sơn Tinh. Ta hô mưa, gọi gió, làm thành giông bão rung chuyển cả đất trời. Nước ngập nhà cửa, ruộng đồng, tưởng như thành Phong Châu đang nổi lềnh bềnh trên biển nước. Ta đinh ninh chắc hẳn mình giành lại được Mị Nương nên rất đắc chí. Nhưng không, dù gió thét ào ào, mưa trút như thác, Sơn Tinh vẫn đứng vững vàng, nét mặt bình thản bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi ngăn chặn dòng nước lũ. Hắn và ta đánh nhau ròng rã mấy tháng trời. Cuối cùng, ta đuối sức, đành rút quân về.

Từ đó oán nặng, thù sâu, năm nào ta cũng làm mưa gió bão lụt dâng nước đánh hắn. Nhưng lần nào cũng vậy, vẫn không thắng nổi hắn để cướp lại Mị Nương, ta lại lủi thủi rút quân về, với tâm trạng đầy oán hậ
 

Đóng vai người anh kể lại truyện Cây khế

Tôi có một người em trai. Cha mẹ mất sớm, hai anh em tôi chăm chỉ làm lụng nên cũng đủ ăn. Đến tuổi trưởng thành, tôi và em trai đều có gia đình riêng. Hai anh em cũng không còn thân như trước.

Một hôm, tôi gọi em trai đến để bàn chuyện chia gia tài. Tôi chia cho em trai một túp lều, ở trước nhà có cây khế mà cha để lại. Cậu không chút than phiền mà nhận lời ngay. Ít lâu sau, tôi biết được vợ chồng người em trở nên giàu có. Tôi tò mò lắm, liền sang nhà hỏi thăm. Em trai kể lại mọi chuyện cho tôi nghe.

Hằng ngày, họ vẫn thường xuyên chăm sóc cho cây khế. Đến mùa, cây khế ra hoa kết trái và thu hoạch, em tôi mang ra chợ bán. Một hôm, có con chim lạ bay đến ăn khế của em. Nó ăn rất nhiều khế trên cây, ăn những quả thơm ngon nhất, cứ như thế suốt gần tháng trời. Em dâu tôi xót ruột, nói với chim thầm:

- Ông chim ơi, cây khế này là gia tài của vợ chồng con. Ông ăn hết khế thì lấy gì chúng con sinh sống.

Chim thần cất tiếng đáp:

- Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng.

Em tôi làm theo lời chim. Hôm sau, như đã hẹn chim bay đến đưa em tôi đi lấy vàng. Ở đó có biết bao thứ đá quý, bạc vàng. Em tôi chỉ lấy một ít vàng và kim cương rồi ra về.

Nghe xong câu chuyện, tôi bàn với vợ, gạ đổi hết tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Tôi và vợ chỉ ăn rồi nằm chờ chim bay đến ăn khế. Một hôm, chim thần đến. Đợi nó ăn được khế, tôi và vợ liền chạy ra van xin chim thần đừng ăn khế nữa. Chim thần nói y hệt những lời nói với em trai của tôi. Vợ chồng tôi hí hửng, vội vàng may túi gấp ba lần.

Hôm sau, chim thần đến đưa tôi đi. Khi đến hòn đảo, tôi hí hửng lắm. Tôi vừa đi vào hang vừa ra sức nhặt thật nhiều vàng bạc, châu báu vào túi. Bao nhiêu chưa đủ, tôi còn cố nhét thêm vào ông tay áo và ống quần, rồi buộc chặt lại. Chim thần đợi tôi lâu quá nên thúc giục ra về. Nằm trên lưng chim, tôi vui mừng, tưởng tượng về cuộc sống giàu sang sắp tới của mình.

Khi bay qua biển, tôi thấy chim thần chao đảo rồi lao thẳng xuống. Tôi bị sóng cuốn ra xa, trôi hết cả vàng bạc vừa lấy được. Tôi kêu cứu, nhưng chim thần đã bay lên trời.
 

Đóng vai Mị Nương kể lại Sơn Tinh Thủy Tinh

Ta là Mị Nương - con gái yêu của vua Hùng thứ mười tám. Năm nay ta đã đến tuổi lấy chồng nên vua cha quyết định mở hội kén rể. Người bảo rằng:

- Con gái ta xinh đẹp như hoa, tính nết hiền dịu, thế nên chồng của nàng phải là một chàng trai văn võ song toàn.

Nghe vua cha nói, ta vừa vui vừa ngượng ngùng. Ngày kén rể đến, sau nhiều vòng lựa chọn, có hai chàng trai được vào yết kiến vua cha. Lúc ấy, ta đứng phía sau rèm nhìn lại, thấy hai chàng đều rất khôi ngô, tuấn tú. Sau màn giới thiệu ngắn gọn. Ta được biết, chàng trai đứng bên phải tên là Sơn Tinh, sống ở núi Tản Viên, còn người đứng bên trái là Thủy Tinh, sống ở vùng biển. Nhìn cả hai chàng trai, vua cha đã quyết định thử tài. Khi đó, ta cùng vua cha và các cận thần đều hết sức ngạc nhiên trước tài năng của hai người họ. Một người có thể dời non lấp bể, một người có thể hô mưa gọi gió. Ai cũng tài năng phi phàm. Chính vì thế, vua cha rơi vào tình huống khó xử. Ngài cho hỏi ý kiến ta, nhưng chính ta cũng không biết phải chọn lựa thế nào. Vậy là, người bèn cho gọi các cận thần vào cùng bàn bạc. Sau một hồi thảo luận, người quyết định rằng sẽ đưa ra một thử thách cuối cùng, đó chính là những sính lễ vô cùng quý hiếm, khó tìm. Ai mang đến trước thì người đó sẽ là chồng của ta. Sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Ngay sau khi nắm được danh sách sính lễ, cả Sơn Tinh và Thủy Tinh ngay lập tức rời đi để chuẩn bị. Từ lúc đó, ta lúc nào cũng trong trạng thái lo lắng, hồi hộp, không biết ai sẽ là người cùng mình trở thành vợ chồng. Lo lắng, thấp thỏm, nên tối hôm ấy, mãi đến khuya ta mới đi ngủ được. Vậy mà, chỉ một lát sau, ta đã được người hầu gọi dậy, sửa soạn để theo chồng về dinh. Sau khi tiến ra sân rồng, ta nhìn thấy Sơn Tinh đang đứng đợi ở đấy. Hôm nay, trông chàng thật oai vệ, hiên ngang. Vậy là, đám cưới giữa ta và Sơn Tinh được diễn ra dưới sự chứng kiến và chúc phúc của muôn dân trăm họ. Kết thúc buổi lễ, ta từ biệt vua cha, theo Sơn Tinh về núi Tản Viên.

Trên đường đi, ta và chồng hết sức ngượng ngùng, không biết phải nói gì. Bỗng nhiên, trời đất tối sầm lại, tiếng reo hò, tiếng nước chảy ầm ầm bao trùm lên không gian. Chúng ta buộc phải dừng lại, lúc này, bước ra khỏi kiệu, nhìn về phía xa, ta cảm thấy vô cùng kinh hãi. Chốn kinh thành Phong Châu phồn hoa ngày xưa giờ chìm trong biển nước, tiếng kêu than vang khắp nơi. Từng cột nước cuộn trào như những con rắn nước khổng lồ. Trên con rắn nước ấy, Thủy Tinh đang cưỡi gió mà lao tới. Nhìn trận thế như vậy, ta vô cùng hoảng loạn, không biết phải làm như thế nào. Lúc ấy, Sơn Tinh đã dặn ta hãy ở yên trên ngọn núi, còn lại đã có chàng lo. Nói rồi, Sơn Tinh tiến về phía dòng nước dữ, trực tiếp đối đầu với Thủy Tinh. Chàng bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, chặn đứng dòng nước lũ. Thế là, cả vùng đất thoát khỏi cảnh chìm trong bể nước. Thấy vậy, Thủy Tinh càng tức giận, lại ra sức hô thêm mưa, dâng nước lên cao hơn. Thế nhưng dù vậy, Sơn Tinh vẫn bình tĩnh ngăn chặn tất cả. Cuối cùng, sau vài tháng dằng co, trước sự thấp thỏm của ta và muôn dân trăm họ, Thủy Tinh đã kiệt sức và buộc phải rút lui. Vậy là, cuộc sống yên bình đã trở lại. ta cùng Sơn Tinh trở về núi Tản Viên trong sự reo vui, ủng hộ của nhân dân.

Từ đó về sau, ta và Sơn Tinh trở thành đôi vợ chồng chung sống hạnh phúc bên nhau. Hằng năm, ta thường cùng chàng trở về kinh thăm vua cha và họ hàng. Thật vui mừng khi ai cũng sống mạnh khỏe. Chỉ có một điều, là năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh nhau với chồng ta. Điều này khiến ta hết sức khó xử, nhân dân cũng rất mệt mỏi. Nhưng may mắn nhờ có Sơn Tinh nên hắn không bao giờ có thể làm khổ cho muôn dân nước Đại Việt được.
 

Đóng vai Rùa Vàng kể lại sự tích Hồ Gươm

1. Mở bài

- Rùa Vàng - vị tướng dưới trướng của Đức Long Quân tự giới thiệu.

- Giới thiệu chuyện về Lê Lợi và Hồ Gươm.

2. Thân bài

- Kể về tình hình nước ta khi bị giặc Minh giày xéo và cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi.

- Chuyện Đức Long Quân và việc ngài phái Rùa Vàng đem gươm thần đi giúp nghĩa quân.

- Truyện lưỡi gươm thần hiện mình ba lần trong lưới của Lê Thận và chàng đã nhận được gươm.

- Chuyện vỏ gươm hiện mình trong rừng và Lê Lợi nhận được.

- Rùa Vàng tiết lộ ý nghĩa của việc chia gươm làm hai phần, hiện lên ở hai nơi.

- Truyện lưỡi gươm và vỏ gươm gặp nhau ở nhà Lê Thận.

- Chuyện gươm thần giúp Lê Lợi và nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh xâm lược.

- Đất nước sạch bóng quân thù, gươm thần được vua yêu quý, trân trọng, luôn mang bên mình.

- Chuyện vua đi dạo trên hồ Lục Thủy, Rùa Vàng nổi lên xin lại gươm thần; gươm thần cảm nhận được “thần khí” từ Rùa Vàng nên khi tay vua vừa rời khỏi gươm. Gươm thần đã trở về với Rùa Vàng, cả hai lặn xuống và trở về Thủy cung.

3. Kết bài

- Rùa Vàng được Đức Long Quân khen ngợi.

- Bày tỏ mong ước được chứng kiến cuộc sống hòa bình.

Đóng vai Rùa Vàng kể lại sự tích Hồ Gươm

Ta là Rùa Vàng, một vị quan dưới trướng Lạc Long Quân. Hôm ấy, trong lúc ta đang ghi chép sổ sách trong thư phòng thì được tin Đức Long Quân triệu kiến gấp. Ta bèn tức tốc vâng mệnh, đến điện gặp Ngài. Vừa tới nơi ta đã nghe giọng nói như sấm rền của Long Quân:

- Ngày mai, lúc Lê Lợi cưỡi thuyền rồng trên hồ Tả Vọng dạo chơi, ngươi hãy nổi lên đòi lại thanh gươm thần cho ta.

Vâng mệnh Long Quân ta lui về thư phòng, chuẩn bị ngày mai thực thi mệnh lệnh.

Nhớ lại năm xưa, vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, nhân dân cực khổ vô cùng. Bởi bọn giặc vô cùng hung ác, chúng coi người dân như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ ai ai cũng căm giận đến tận xương tuỷ. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, có nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng. Nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên đã nhiều lần thất bại. Thấy vậy, để giữ đúng lời hứa với nàng Âu Cơ năm xưa “khi có việc cần thì giúp đỡ lẫn nhau”, Đức Long Quân đã quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần mà Ngài vẫn đeo bên người để con cháu đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại đất nước. Lúc đó chính ta là người mang gươm cho Lê Lợi mượn.

Ta đã tìm hiểu rất kĩ và biết rằng ờ vùng Thanh Hoá có một người đánh cá tên là Lệ Thận, tính tình hiền lành, chất phác, sau này sẽ tham gia nghĩa quân nên ta quyết định chọn chàng làm sứ giả trao gươm báu.

Như thường lệ, vào một đêm trăng sáng, gió thổi mát lạnh, Lê Thận đem lưới thả xuống sông bắt cá. Đã chờ sẵn từ lâu, ta bí mật bỏ lưỡi gươm vào trong lưới của anh ta. Lúc kéo lưới lên, thấy nằng nặng, chàng đã mừng thầm, chắc hẳn là có cá to. Nhưng khi thò tay xuống chẳng thấy cá đâu mà chỉ thấy gươm báu dưới dạng một thanh sắt chàng, bèn vứt đi và lại thả lưới tiếp. Phải vất vả ba lần ta mới khiến anh chàng nhận ra đó là lưỡi gươm và chịu mang về.

Quả nhiên, về sau Lê Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng hăng hái, gan dạ, không nề nguy hiểm. Vì vậy, một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy tuỳ tòng đến nhà Thận. Thanh gươm thần gặp được chủ tướng nên tự động sáng rực lên trong túp lều tối om. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lên xem và thấy hai chả “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm. Song chuyện đó cũng nhanh chóng bị quên đi, không ai biết đó là báu vật.

Cho tới một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng sĩ rút lui mỗi người một ngả. Lúc chạy ngang qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một chuôi gươm nạm ngọc (Đó chính là phẩn chuôi của thanh gươm thần vốn do Đức bà Âu Cơ cất giữ. Người cho chim thần đem đến đặt trên ngọn đa). Lê Lợi nhớ đến phần lưỡi gươm ở nhà Lê Thận bèn lấy chuôi gươm dắt vào lưng.

Ba ngày sau, khi gặp lại mọi người trong nhà Thận, Lê Lợi bèn đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho họ nghe. Và khi đem lưỡi gươm tra vào chuôi thì vừa như in.

Lê Thận bèn nâng gươm lên ngang đầu, cung kính nói với mọi người:

- Đây là ý trời phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!

Đến đây, nhiệm vụ của ta đã hoàn thành, thanh gươm thần đã được đặt vào đúng vào vị trí của nó.

Thế mà cũng đã một năm trôi qua rồi. quả nhiên từ khi có thanh gươm thần giúp sức, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng mạnh, liên tiếp giành được thắng lợi, làm cho quân Minh bạt vía, kinh hồn. Lê Lợi giờ đã lên làm vua, lấy hiệu là Lê Thái Tổ.

Miên man trong những kỉ niệm của một năm trước, ta không ngờ trời đã sáng. Ta liền vội vã lên đường, thực hiện nhiệm vụ mà Long Quân giao. Kia rồi! Đoàn thuyền rồng đã hiện ra trước mắt. Ta từ từ nổi lên mặt nước và bơi ra đón trước mũi thuyền. Ta cất giọng chậm rãi: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”.

Sau khi nghe ta nói, Lê Lợi nâng gươm hướng về phía ta và nói: “Xin Thần Kim Quy về báo lại với Đức Long Quân rằng Lê Lợi thay mặt muôn dân kính cẩn đội ơn Ngài đã cho mượn gươm báu giúp dân, giúp nước. Xin cho chúng dân đổi tên hồ này thành hồ Hoàn Kiếm để đời đời nhớ đến công đức của Ngài”. Nghe xong, ta bèn ngậm gươm thần rồi lặn xuống nước.

Trở về Long Cung, ta tâu lại những điều Lê Lợi đã nói với Long Quân. Người rất vui và hài lòng. Người giao cho ta nhiệm vụ hàng năm nổi lên mặt hồ một lần để xem xét dân tình, kịp thời báo cho người khi con cháu lâm nguy. Ta rất đỗi vinh hạnh nhận sứ mệnh cao cả đó.
 

Đóng vai người cha kể lại truyện Em bé thông minh

Tôi là một người nông dân nghèo. Vợ tôi mất sớm, tôi vất vả nuôi con khôn lớn.. Hai cha con cùng nhau làm việc, nương tựa nhau mà sống. Cậu con trai tuy con nhỏ, nhưng rất thông minh và nhanh nhẹn, thường giúp đỡ tôi nhiều việc.

Hôm ấy, tôi cùng con trai dậy từ sớm ra đồng làm cày kẻo trời trở trưa nắng nóng. Hai cha con đang cày ruộng thì bỗng có một người mang áo vải đỏ, đội mũ quan, cưỡi trên mình con ngựa đầy oai phong tới gần chỗ chúng tôi. Ông ta hý ngựa dừng lại rồi nói:

- Này ông kia, ông có thể cho ta biết trâu của ông một ngày cày được mấy đường không?

Tôi chưa kịp nói gì, thì thằng bé đã nhanh nhảu nói:

- Nếu ông trả lời đúng ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

Vị quan nghe xong, khuôn mặt tỏ vẻ sửng sốt lắm. Rồi ông ấy từ biệt chúng tôi, thẳng đường mà phi ngựa.

Mấy hôm sau, làng tôi nhận được chiếu lệnh trên triều đình ban xuống. Nhà vua ban cho làng ba thúng gạo nếp cùng ba con trâu đực với yêu cầu phải nuôi để cho ba con trâu đực ấy đẻ thành chín con. Nếu đến năm sau mà làng không giao nộp theo đúng yêu cầu thì phải chịu tội. Mọi người trong làng lấy làm hoang mang, lo lắng. Tôi về nhà kể cho cậu con trai. Nghe xong, thằng bé liền bảo tôi:

- Đấy là lộc vua ban cho làng ta. Cha nói với làng, mình xin một trâu và một thúng gạo làm phí đi đường lên kinh lo việc.

Nhận thấy ý nghĩ của con có phần nhẹ dạ, tôi mắng:

- Việc vua giao chưa xong còn ăn với uống. Thịt trâu rồi lấy gì mà lo liệu. Mày dại vừa thôi kẻo có ngày bay đầu đó con ạ.

Thằng bé quả quyết:

- Con đã tính toán cả rồi, cha cứ yên tâm tin con để con lo liệu, rồi mọi chuyện đâu cũng vào đấy thôi.

Dù hơi phân vân lời cậu con trai nhưng tôi vẫn đem chuyện ra trình bày trước làng. Khi nghe xong câu chuyện, cả làng lấy làm ngờ vực, còn bắt hai cha con tôi viết giấy cam đoan với làng.

Sau mấy hôm, tôi cùng con trai lên đường đến kinh. Phí đi đường vừa hết cũng là lúc tới kinh đô. Thằng bé bảo tôi chờ ở ngoài. Còn nó thì khóc um sùm, nhà vua bực tức sai lính ra điệu hai cha con tôi vào và hỏi. Tôi đứng ngoài, lo lắng lắm. Nhưng đến khi nó trở ra lại không làm sao, lại còn được vua ban thưởng. Trên đường về, nghe thằng bé kể lại mới rõ sự tình. Khi thằng bé vào cung, nhà vua liền hỏi:

- Thằng bé kia, ngươi có việc gì oan ức, sao phải tới đây mà khóc làm ầm ĩ cả hoàng cũng vậy?

Khi nghe vua hỏi, con tôi bèn trả lời:

- Tâu đức vua, con vốn mất mẹ từ nhỏ, muốn có em bé để chơi với con nhưng cha không chịu đẻ cho con. Thỉnh cầu đức vua minh xét giúp con.

Vua nhìn con tôi, rồi bảo:

- Nhà ngươi muốn có em thì bảo cha lấy vợ mới. Chứ cha ngươi là đàn ông, làm sao để con được?

Nghe vua nói thế, thằng bé mới nhanh trí trả lời:

- Thế tại sao vua lại ra lệnh cho làng con phải nuôi trâu đực để đẻ thành chín con? Giống đực thì làm sao đẻ được ạ?

Đức vua bật cười bảo:

- Là ta thử thế thôi, dân làng không biết làm cỗ mà ăn hả?

Thằng bé hớn hở đáp:

- Thưa ngài, làng con biết đó là lộc của ngài cho nên đã mổ trâu, đúc xôi làm tiệc với nhau rồi ạ!

Khi đó ai ai cũng gật đầu, hớn hở ra mặt.

Cha con tôi sau đó được nhà vua mời ở lại nghỉ ngơi mấy hôm, đặng khi nào khoẻ lại rồi về. Trưa hôm sau, khi hai cha con tôi đang ăn cơm thì có một người đến, tự xưng là sứ giả của nhà vua. Ngài ấy mang tới một con chim sẻ và yêu cầu chúng tại phải dọn thành ba cỗ thức ăn, đó là lệnh vua ban. Nghe xong tôi hoảng hốt, con chim nhỏ thế kia làm một cỗ cũng không đủ, huống gì làm ba, thỉnh cầu ngài báo lại vừa về sự vụ. Chưa kịp lấy lại tinh thần, con tôi nhanh nhảu:

- Cha đưa cho con cái kim may ra đây. Rồi nó bảo:

- Ông về tâu với đức vua rằng hãy rèn chiếc kim này thành một con dao để xẻ thịt chim. Sứ nghe vậy liền về tâu lại với vua. Hôm sau, vua ban thưởng rất hậu hĩnh cho hai cha con tôi.

Chúng tôi trở về quê nhà, cuộc sống có phần sung túc hơn. Cũng năm ấy, nước láng giềng lăm le xâm chiếm bờ cõi. Nước ta vốn nổi tiếng có nhân tài, anh kiệt, chúng muốn xem nhân tài nước ta thế nào bèn bảo sứ giả đưa sang một một con ốc vặn dài, hai đầu bị rỗng, đố làm sao dùng một sợi chỉ xuyên qua ruột ốc. Khi đưa ra câu đố, các thần và nhà vua tìm mọi cách cũng không trả lời được câu hỏi đầy oái oăm. Cuối cùng, đành mời sứ thần ở lại để tìm hỏi ý kiến con trai tôi, xem có minh kiến gì giúp đất nước.

Lúc đó, tôi đang lúi húi với nồi cơm trong bếp, thằng bé chơi bi sau nhà cùng lũ trẻ con hàng xóm. Khi nghe quan trình bày câu đố của người sứ giả kia, con cất lên lời hát mà rằng:

“Tang tính tang, tính tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang
Tang tình tang…”


Nghe xong, viên quan tức tốc trở về hoàng cung. Mấy hôm sau, nhà vua cho người đến phong con trai tôi làm trạng nguyên, rồi đón hai cha cha con vào cung. Tôi rất lấy làm tự hào về con trai của mình
 

Đóng vai nhân vật công chúa kể lại Vua chích chòe

Vua cha chỉ có một cô con gái là tôi. Vốn xinh đẹp nhưng lại tính tình của tôi lại rất kiêu ngạo.

Lần nọ, vua cha đã cho mời các chàng trai ở khắp các nước xa gần tới dự tiệc để chọn phò mã. Các vị khách sẽ đứng theo thứ bậc, trên cùng là vua các nước rồi các công tước, các ông hoàng, các bá tước, các nam tước, cuối cùng là những người dòng dõi quý tộc.

Tôi đi xem một lượt, gặp ai cũng chê bai. Đặc biệt, tôi ấn tượng với một người có cằm hơi cong như mỏ chim chích chòe và nói rằng anh ta có cái cằm chẳng khác gì chim chích chòe có mỏ. Tôi nghe đồn, từ đó, anh ta có tên là Vua chích chòe.

Trước thái độ của tôi, vua cha tức giận lắm, ban truyền nếu có người ăn mày nào đi qua hoàng cung, sẽ gả tôi cho người đấy. Hôm sau, một người hát rong đi qua hoàng cung, đứng ngây dưới cửa sổ cất tiếng hát, mong sẽ được ban thưởng cho vài xu. Nghe thấy, vua cha liền cho gọi người hát rong vào:

- Hãy cho tên hát rong vào đây!

Người hát rong hát cho vua và tôi nghe, rồi đưa tay xin tiền thưởng. Vua cha bảo:

- Ta rất thích tiếng hát của ngươi, vì vậy ta gả con gái ta cho ngươi.

Tôi nghe xong thì sợ hãi lắm, liền cầu xin:

- Cha đã thề rằng sẽ gả con cho người ăn mày đầu tiên đi qua cung vua, cha muốn giữ lời thề đó.

Hôn lễ cử hành xong, vua cha nói với tôi:

- Theo tục lệ, vợ một người hát rong không được ở lâu lại trong cung vua, giờ thì con phải theo chồng ra khỏi cung.

Tôi đành phải đi theo người chồng của mình. Trên đường đi qua một cánh rừng, tôi hỏi:

- Rừng đẹp này là của ai?

Người hát rong trả lời:

- Rừng của Vua chích choè, nếu nàng lấy ông ta thì hẳn rừng đã là của nàng.

Tôi thốt lên:

- Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Khi tới một thảo nguyên, tôi lại hỏi:

- Thảo nguyên xanh tốt này của ai?

Người hát lại trả lời:

- Thảo nguyên của Vua chích choè.

Tôi lại than thở:

- Tôi là cô gái thật đáng thương, đáng ra tôi nên lấy Vua chích chòe.

Tới một thành phố lớn, tôi tiếp tục hỏi:

- Thành phố mỹ lệ này của ai?

Người hát rong đáp:

- Thành phố mỹ lệ của Vua chích choè.

Lần này, tôi bật khóc mà than rằng:

- Tôi thật đáng thương, đáng lẽ ra tôi nên đồng ý lấy Vua chích chòe.

Lúc này, người hát rong mới nói:

- Tôi cảm thấy không hài lòng chút nào. Sao nàng cứ mong có người chồng khác, chẳng lẽ tôi không xứng đáng với nàng sao?

Tôi không nói được gì nữa, mà chỉ lặng lẽ đi theo sau. Tới một túp lều, tôi hỏi chồng:

- Trời ơi, nhà ai mà nhỏ, thảm thương thế này?

Người hát rong nói:

- Nhà của chúng ta đó!

Tôi phải cúi người xuống mới bước vào trong được. Tôi hỏi:

- Người hầu của anh đâu?

Người hát rong trả lời:

- Người hầu nào? Muốn làm gì thì tự mình làm lấy. Giờ em hãy nhóm bếp nấu ăn đi, anh mệt lắm rồi.

Tôi không biết nhóm bếp, nấu ăn. Chồng tôi phải tự làm. Sau bữa ăn tôi ngủ thiếp đi, thức ăn dự trữ hết. Chồng tôi bảo:

- Mình ạ, thức ăn sắp hết, chúng ta không thể ngồi không được. Hay nàng đan sọt để bán?

Anh ta vào rừng lấy tre nứa về, tôi phải chẻ lạt đan sọt. Nhưng bàn tay của tôi bị cạnh sắc của tre nứa cửa rỉ máu.

Thấy vậy, chồng tôi liền bảo:

- Thế thì không được, có lẽ dệt vải hợp với em hơn.

Tôi lại ngồi tập quay sợi, nhưng rồi những ngón tay lại bị sợi cứa chảy máu. Lần này, chồng tôi lại than thở:

- Em chẳng thể làm được việc gì, sống với em thật khổ.

Lúc đầu, khách đến mua khá đông. Họ trả tiền mà không mặc cả. Có người trả tiền nhưng không lấy hàng. Cuộc sống của hai vợ chồng khá sung túc. Một hôm, tôi đang ngồi bán hàng như mọi ngày. Một chàng hiệp sĩ phi ngựa qua đã lao thẳng vào chợ làm cho đống hàng sành sứ đổ vỡ hết cả ra thành hàng nghìn mảnh lớn nhỏ ngổn ngang ở chợ.

Tôi vội vã về nhà kể cho chồng nghe. Chồng tôi than thở:

- Có ai bán sành sứ mà lại ngồi ngay đầu chợ chỗ người ta qua lại, khóc làm chi nữa. Anh thấy em chẳng làm gì cho đến đầu đến cuối. Lúc nãy anh có đến cung vua hỏi xem nhà bếp có cần người phụ không, họ hứa sẽ nhận em vào làm và nuôi cơm.

Tôi lại trở thành một chị phụ bếp. Hai bên tạp dề tôi buộc chặt hai chiếc nồi con, nàng bỏ phần cơm của mình vào đó và mang về nhà để hai vợ chồng cùng ăn. Một hôm, trong cung vua tổ chức hôn lễ cho nhà vua, tôi lén vào xem. Khi đèn lần lượt được thắp sáng, cảnh đẹp lộng lẫy trong cung vua mới hiện lên hết. Tôi thấy vậy mà buồn tủi thay cho số phận của mình. Bỗng nhiên, nhà vua bước vào, nhìn thấy công chúa bước tới tỏ ý muốn tôi nhảy cùng. Tôi nhận ra đó chính là Vua chích choè.

Tôi cố giật tay lại nhưng vẫn bị người kéo vào tới giữa phòng làm dây buộc nồi đứt, hai cái nồi rơi xuống đất, súp và bánh mì vung ra khắp nền nhà. Khách khứa và những người đứng đó thấy cảnh tượng ấy đều bật cười và chêm pha những lời nhạo báng. Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ, vội vàng bỏ chạy. Nhưng mới tới được cầu thang lại bị một người đàn ông kéo lội lại. Khi định thần được, tôi thấy người đó chính là Vua chích chòe. Chàng vui vẻ nói nhỏ vào tai tôi:

- Em đừng có sợ hãi, người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp xụp chính là anh. Chính anh cũng là kỵ sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hết hàng sành sứ của em. Tất cả những việc đó chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo của em.

Tôi bất ngờ lắm, nói:

- Em đã làm những điều sai trái, không xứng đáng là vợ của anh.

Vua chích chòe liền nói với tôi:

- Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm đám cưới.

Hôn lễ được cử hành. Mọi người có mặt đều chúc phúc cho tôi và Vua chích chòe.
 
Đóng vai Thạch Sanh kể lại chiến công giết chằn tinh.

Tên của tôi là Thạch Sanh, vốn là con trai của Ngọc Hoàng. Ở quận Cao Bình có hai vợ chồng đã lớn tuổi mà vẫn chưa có một mụn con. Ngọc Hoàng thấy họ tốt bụng, bèn sai tôi đầu thai xuống làm con của họ.

Tôi vừa sinh ra thì cha đã qua đời. Vài năm sau, mẹ tôi cũng mất. Kể từ đó, tôi sống một mình dưới gốc đa. Cả gia tài của tôi chỉ có lưỡi rìu mà cha để lại. Khi trưởng thành, tôi được thiên thần dạy cho đủ loại võ nghệ cao cường.

Một hôm, tôi đi kiếm củi trở về. Bỗng nhiên, một người lạ đến hỏi. Anh ta tự xưng là Lí Thông, làm nghề bán rượu và muốn kết nghĩa huynh đệ với tôi. Tôi đồng ý, rồi dọn đến ở cùng với Lí Thông. Hằng ngày, tôi lên rừng kiếm củi, còn Lí Thông đi bán rượu.

Lần nọ, tôi đi kiếm củi trở về thì thấy trong nhà đã bày sẵn rượu thịt. Tôi và Lí Thông vừa ăn, vừa trò chuyện. Anh ta bảo với tôi:

- Đêm nay, anh đến lượt đi canh miếu thờ, nhưng ngặt nỗi còn mẻ rượu chưa xong. Vậy em chịu khó đi thay cho anh một đêm, sáng mai lại về.

Tôi chẳng nghi ngờ mà nhận lời ngay. Đêm hôm đó, tôi đang nằm lim dim ngủ thì thấy một con quái vật lao đến định ăn thịt mình. Tôi đánh nhau với con quái vật. Lưỡi rìu của tôi đã xé xác con chằn tinh làm đôi. Con quái vật hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ. Tôi chặt đầu của nó đem về.

Đến nhà, tôi gọi anh Lí Thông ra mở cửa nhưng đợi mãi chẳng thấy ai. Tôi chỉ nghe thấy tiếng mẹ con anh ta van xin tha mạng. Tôi lấy làm lạ, liền nói:

- Anh Lí Thông ơi, em là Thạch Sanh đây. Mau mở cửa cho em!

Đợi một lúc, anh Lí Thông mới ra mở cửa. Tôi vào nhà, kể lại rõ mọi sự tình. Anh ta liền bảo với tôi:

- Đó là con vật nuôi của vua, giết nó là mang tội. Nhân lúc trời còn chưa sáng, em hãy trốn đi. Mọi việc để anh giải quyết.

Tôi liền từ biệt mẹ con Lí Thông, trở về sống ở gốc đa xưa.
 

Đóng vai người em kể lại truyện Cây khế​

Cha mẹ mất sớm, tôi và anh trai sống cùng nhau. Hai anh em chăm chỉ làm lụng cũng đủ ăn. Nhưng từ khi có vợ, anh tôi đâm ra lười biếng. Vợ chồng tôi phải làm lụng vất vả mới có của ăn, của để.

Một hôm, anh trai gọi tôi đến để bàn bạc chuyện chia gia tài. Là phận em, tôi nghe theo sự sắp đặt của anh. Tôi nhận được một căn nhà nhỏ, ở trước cửa có một cây khế. Quanh năm, vợ chồng tôi vẫn chăm chút cho nên khế xanh mơn mởn. Đến mùa, những chùm quả chín lúc lỉu trên cây. Một hôm, tôi ra hái khế đi bán thì thấy trên cây có tiếng rung mạnh như có người. Tôi liền bảo với vợ ra xem, thì ra có một con chim lớn đang ăn khế chín. Hai vợ chồng đợi cho chim ăn xong mới ra hái. Nhưng suốt một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm.

Vợ tôi liền nói:

- Ông chim ơi, ông ăn như thế thì nhà cháu còn khế đâu mà bán!

Chim nói:

- Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Vợ chồng tôi nghe vậy thì làm theo lời chim. Sáng sớm hôm sau, chim bay đến thật. Khi tôi xách túi ra, chim còn nằm rạp xuống đất cho tôi trèo lên. Chim bay qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả. Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đã ngũ sắc. Chim bay vòng quanh đảo, rồi hạ xuống một cái hang.

Tôi nghe theo lời chim ra hiệu, bước vào hang. Ngay từ cửa đã có rất nhiều thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ thứ màu. Tôi thấy hang sâu nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra ngoài. Tôi bảo chim bay về. Chim lại cất cánh đưa tôi về nhà. Từ đó, cuộc sống của gia đình tôi trở nên khá giả hơn trước.

Một hôm, anh tôi tới chơi. Nghe anh hỏi chuyện, tôi liền kể cho anh nghe. Anh liền thương lượng để đổi tài sản lấy túp lều và cây khế. Là phận em nên tôi cũng đồng ý. Mãi sau này, tôi mới nghe dân làng kể lại chuyện về vợ chồng anh trai của tôi.

Họ dọn đến ở trong túp lều. Nhưng hằng ngày chỉ ngồi ăn rồi chờ chim đến. Một buổi sáng nọ, họ thấy luồng gió mạnh nổi lên, và ngọn cây khế rung chuyển. Họ vội tru tréo lên:

- Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn thì tôi lấy gì mà sống?

Chim thần cũng nói:

- Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng!

Họ bàn nhau may cái túi to gấp ba lần, như một cái tay nải lớn. Sáng hôm sau, chim thần đến đưa anh tôi ra hòn đảo. Vì lòng tham, anh tôi lấy đầy tay nải. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Anh tôi bị ngọn sóng cuốn đi với tay nải vàng và châu báu đầy người, còn chim thì lại vùng lên bay về núi rừng. Có người đánh cá ngang qua, cứu được anh tôi. Khi trở về, anh tôi vô cùng ân hận.
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top