Từ Nhâm Tuất Đến Pa-tơ-nốt: Những Hiệp Ước Định Đoạt Vận Mệnh

Lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỉ XIX là những trang sử thấm đẫm nước mắt và lòng yêu nước. Sau tiếng súng xâm lược vang lên tại Đà Nẵng năm 1858, thực dân Pháp từng bước mở rộng chiến tranh, đặt triều đình nhà Nguyễn trước những lựa chọn đầy khó khăn. Trong bối cảnh ấy, hàng loạt hiệp ước đã được kí kết, mở đầu bằng Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và kết thúc bằng Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884).

Từ Nhâm Tuất đến Pa-tơ-nốt không chỉ là quãng thời gian hơn hai mươi năm đầy biến động, mà còn là hành trình từng bước đánh mất chủ quyền dân tộc. Mỗi văn bản được đặt bút kí không đơn thuần là một thỏa thuận ngoại giao, mà là một dấu mốc ghi lại sự nhượng bộ, sự giằng co giữa chiến đấu và cầu hòa, giữa ý chí nhân dân và sự do dự của triều đình.

Tìm hiểu những hiệp ước ấy giúp chúng ta hiểu rõ vì sao đất nước rơi vào ách đô hộ, đồng thời nhận ra giá trị thiêng liêng của độc lập – điều mà bao thế hệ người Việt đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt.


Ngày 5/6/1862, triều đình kí hiệp Huế kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng cho Pháp nhiều quyền lợi, cắt một phần lãnh thổ cho Pháp (3 tỉnh miền Đông Nam Kì: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà + đảo Côn Lôn).
2Bài 17 .lịch sử 8 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Xâm Lược.png222.png

Ngày 21/12/1873 Khi Pháp đánh ra Cầu Giấy, quân dân HN phối hợp với quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích, chặn đánh địch tại Cầu Giấy, Gac-ni-ê bị giết-> quân Pháp vô cùng hoang mang dao động.

- Năm 1874 triều đình Huế kí với Pháp bản hiệp ước Giáp Tuất, thừa nhận chủ quyền của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kì và nhiều điều khoản bất lợi khác.
Nội dung Hiệp ước Giáp Tuất 1874 bao gồm 22 điều với nội dung chính là Triều đình Huế công nhận công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát và điều tra tình hình ở Việt Nam của Pháp. Cụ thể hơn nội dung bản hiệp ước này bao gồm:

+ Điều 1: Pháp và An Nam hợp tác hòa bình, hữu nghị, bền vững.

+ Điều 2: Pháp thừa nhận quyền độc lập An Nam.

+ Điều 3: Chính sách ngoại giao của An Nam cần phù hợp với chính sách ngoại giao của nước Pháp.

+ Điều 4: Pháp tặng một số thiết bị quân sự, cố vấn quân sự cho An Nam.

+ Điều 5: Triều đình An Nam công nhận chủ quyền của Pháp đối với các tỉnh Nam Kỳ.

+ Điều 6: Pháp miễn An Nam không phải trả tiền chiến phí cũ còn thiếu.

+ Điều 7: An Nam cam kết trả nợ số tiền chiến phí còn thiếu nước Tây Ban Nha bằng thu nhập thuế quan.

+ Điều 8: Ban bố đại xá đối với tài sản của công dân Pháp và An Nam làm tay sai.

+ Điều 9: Cho phép truyền đạo Gia tô tại An Nam.

+ Điều 10: Triều đình An Nam có thể mở một trường cao đẳng ở Sài Gòn đặt dưới quyền giám sát của Pháp.

+ Điều 11: Triều đình An Nam mở các cảng biển theo yêu cầu của Pháp.

+ Điều 12: Người Pháp hay người An Nam sống tại Nam Kỳ được quyền tự do kinh doanh.

+ Điều 13: Pháp có quyền mở lãnh sự tại các thương khẩu mới mở của An Nam.

+ Điều 14: Nhân dân An Nam có thể tự do buôn bán đi lại tại khu vực Nam Kỳ đã thuộc sở hữu của Pháp.

Điều 15: Người dân An Nam dân Pháp hay công dân nước ngoài cần đăng ký cơ quan Trú Sứ Pháp nếu muốn sinh sống, du lịch tại An Nam.

Điều 16: Các tranh chấp giữa công dân Pháp và ngoại quốc đều do Pháp xử lý.

Điều 17: Các vi phạm pháp luật của người Pháp và người ngoại quốc sẽ được người Pháp giải quyết.

Điều 18: Khi có người vi phạm pháp luật ở Pháp trốn sang An Nam thì người An Nam cần truy lùng và giao cho Pháp và ngược lại.

Điều 19: Người Pháp và ngoại quốc qua đời trên lãnh thổ An Nam và ngược lại sẽ được trao trả tài sản cho người thừa kế.

Điều 20: Một năm sau hiệp ước Pháp sẽ bổ nhiệm một viên Trú Sứ tại An Nam.

Điều 21: Hiệp ước năm 1874 thay thế cho hiệp ước năm 1872.

Điều 22: Hiệp ước năm 1874 được thực hiện một cách vĩnh viễn.
*Nhận xét về Hiệp ước Giáp Tuất:

+
Hiệp ước Giáp Tuất đánh dấu bước trượt dài tiếp theo (sau Hiệp ước Nhâm Tuất) của nhà Nguyễn trên con đường thỏa hiệp, đầu hàng trước thực dân Pháp xâm lược.

+ Các điều khoản trong Hiệp ước Giáp Tuất, đặc biệt là điều khoản: nhà Nguyễn công nhận quyền cai quản của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kì,… đã tiếp tục xâm phạm nghiêm trọng đến lãnh thổ, chủ quyền và quyền lợi của dân tộc Việt Nam.

+ Với Hiệp ước Giáp Tuất, thực dân Pháp tuy phải rút quân khỏi Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì, song, Pháp vẫn có điều kiện tiếp tục xây dựng cơ sở để thực hiện các bước xâm lược về sau.

+ Việc triều đình ngày Nguyễn kí bản Hiệp ước Giáp Tuất, cắt thêm đất dâng cho Pháp và công nhận thêm nhiều đặc quyền đặc lợi của chúng ở Việt Nam đã gây nên sự bất bình sâu sắc trong nhân dân Việt Nam. Nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình kết hợp với chống thực dân Pháp đã bùng nổ, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Tuấn và Đặng Như Mai với khẩu hiệu “Dập dìu trống đánh cờ xiêu/ Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”,...

18/8/1883, Pháp tấn công Thuận An, đến 20/8/1883, Pháp đổ bộ lên khu vực này.
- 25/8/1883, triều đình Huế kí với Pháp hiệp ước Hác-măng.
2Bài 17 .lịch sử 8 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Xâm Lược.png222.png

Năm 1884, Pháp tiếp tục ép triều đình Huế phải ký hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884). Có nội dung cơ bản giống Hiệp ước Hác-măng, chỉ sửa đổi đôi chút về ranh giới khu vực trung kì nhằm xoa dịu dư luận và lấy lòng vua quan phong kiến bù nhìn -> Đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.
2Bài 17 .lịch sử 8 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Xâm Lược.png222.png
 

Vì sao khẳng định, từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng hoàn toàn trước sự xâm lược của thực dân Pháp.

* Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhà Nguyễn có tổ chức kháng chiến để bảo vệ lãnh thổ:

Năm 1858, khi Pháp nổ sung tấn công Đà Nẵng, triều đình đã cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam. Cùng với nhân dân, quân triều đình đắp thành lũy, thực hiện “Vườn không nhà trống”, bao vây, giam chân địch suốt 5 tháng, làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp.

Năm 1859, khi Pháp đánh Gia Định, Nguyễn Tri Phương được cử vào mặt trận Gia Định. Ông đã huy động lực lượng xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố.

Năm 1873 đến năm 1882, khi Pháp đánh Bắc Kì, triều đình đã cử Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu làm Tổng đốc bảo vệ thành Hà Nội.

Tuy nhiên, triều đỉnh nhà Nguyễn không có khả năng và ý muốn tập hợp, đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân kháng chiến mà ngược lại còn bỏ rơi, xa rời cuộc kháng chiến của nhân dân.

* Trình triều đình Huế đầu hàng từng bước đến đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp​

Trong quá trình kháng chiến, do triều đính “thủ hiểm”, thiếu đường lối, thiếu quyết tâm, tư tưởng thất bại của chủ nghĩa làm giảm ý chí đánh địch. Sự thất bại lien tiếp trong chiến đấu khiến quan quân triều đình nản chí, thiếu tin tưởng, lung túng rồi đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, cuối cùng là đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp.

Năm 1862, sau khi để mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kì và Vĩnh Long, triều đình nhà Nguyễn không tấn công để giành lại đất mà kí Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) với các điều khoản nặng nề: Nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn; mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho Pháp

vào buôn bán; bồi thường chiến phí cho Pháp… Với Hiệp ước này, chủ quyền dân tộc bị xâm phạm. Tạo điều kiện cho Pháp có cơ hội thực hiện dã tâm xâm lược toàn bộ nước ta.

Sau đó triều đình nhà Nguyễn càng đi sâu vào con đường đối lập với nhân dân: một mặt đàn áp phong trào của nhân dân ở Bắc Kì và Trung Kì, mặt khác ngăn cảng phong trào đâu tranh ở Nam Kì, chủ trương thương lượng với Pháp nhằm đòi lại 3 tỉnh miền Đông nhưng thất bại. Chính sự nhu nhược của triều đình đã để Pháp chiếm được ba tỉnh miền Tây Nam Kì chỉ trong 5 ngày mà không tốn một viên đạn.

Sau khi mất 6 tỉnh Nam Kì, nhà Nguyễn vẫn không tỉnh ngộ trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, vẫn tin vào thương thuyết nên để cho Pháp ra Bắc Kì để giải quyết vụ Đuy-puy, việc này đã tạo nên điều kiện cho Pháp đánh Bắc Kì.

Năm 1873, Pháp đánh Bắc Kì lần I, Bất chấp thái độ của triều đình, nhân dân các tỉnh Bắc Kì tự kháng chiến và làm nên chiến thắng Cầu Giấy Lần I, giết chết Gác-ni-e làm cho Pháp hoang mang, lo sợ. Nhà Nguyễn không nhầm cơ hội này để đánh Pháp mà còn kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất (1874): thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kì; mở các cửa biển Thị Nại (Quảng Nam), Ninh Hải (Hải Phòng), tỉnh lỵ Hà Nội và sông Hồng cho Pháp vào buôn bán . Ở những nơi đó, Pháp có quyền đặt lãnh sự có quân lính bảo vệ… Với Hiệp ước này, Việt Nam đã mất một phần quan trọng độc lập chủ quyền, xác lập đặt quyền về kinh tế của tư bản Pháp trên đất nước ta.

Năm 1882, Pháp đánh Bắc Kì lần II. Nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng chiến làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần II, giết chết Ri-vi-e. Lúc đó vua Tự Đức qua đời, triều đình rối ren, Pháp chớp thời cơ đánh chiếm cửa Thuận An, uy hiếp nhà Nguyễn, triều đình hoảng sợ kí Hiệp ước Hắc-măng (1883), sau đó là Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) với nội dung: Thừa nhận quyền “bảo hộ” của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì; mọi việc giao thiệp với nước ngoài do Pháp Nắm… Với hai Hiệp ước này, sự “bảo hộ” của Pháp được thiết lập trên toàn bộ nước ta, chấm dứt sự tồn tại của nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách là một nước độc lập.

Như vậy, qua những Hiệp ước trên, ta thấy triều đình Huế từ chỗ cắt từng bộ phận lãnh thổ cho Pháp rồi đi đến thừa nhận sự thống trị của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ nước ta.

Cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình nhà Nguyễn trong những năm 1858-1884 có điểm khác biệt về kẻ thù, tiềm lực đất nước, đường lối kháng chiến, so với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thời nhà Lý, nhà Trần ở thế kỉ XI-XIII?​

- Về kẻ thù:

+ Cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỉ XIX đã phải chống lại một kẻ thù mạnh và lạ là thực dân Pháp từ phương Tây, hơn ta một phương thức sản xuất (Pháp - tư bản chủ nghĩa, ta – chế độ phong kiến).

+ Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhà Lý, nhà Trần ở thế kỉ XI-XIII cũng phải chống lại kẻ thù mạnh như Tống, Mông – Nguyên song cùng trình độ phát triển (đều là chế độ phong kiến)

Về tiềm lực đất nước:

+ Trước nguy cơ xâm lược, triều đình nhà Nguyễn đã không đề ra được các chính sách phù hợp để củng cố sức nước, sức dân, cố kết nhân tâm…, hệ quả là đặt Việt Nam vào thế bất lợi trước cuộc xâm lược vũ trang của thực dân Pháp và rồi để mất nước.

+ Trước nguy cơ xâm lược, các vua nhà Lý, nhà Trần đã có chính sách để đoàn kết nhân dân, đoàn kết nội bộ triều đình… nên đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Về đường lối kháng chiến:

+ Khi Pháp xâm lược triều đình nhà Nguyễn đã không đề ra được một đường kháng chiến đúng đắn, ngày càng xa rời đường lối đấu tranh vũ trang truyền thống của dân tộc, không quy động được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân để tạo ra sức mạnh tổng hợp mà ngày càng xa rời phong trào của quần chúng, rồi chống lại nhân dân.

+ Trước các thế lực ngoại xâm triểu Lý, triều Trần đã chủ động đề ra đường lối kháng chiến, phát huy truyền thống đâu tranh vũ trang của dân tộc, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, biết dựa vào dâb để kháng chiến.
 

Hãy đánh giá những đóng góp và trách nhiệm của Vương triều nhà Nguyễn đối với tiến trình lịch sử dân

Đóng góp:

Khẳng định chủ quyền biên giới lãnh thổ, chủ quyền biển đảo: Đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn chính thức xác lập chủ quyền lãnh thổ như hiện nay. Đặc biệt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay, việc tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa các quốc gia căng thẳng: Trung Quốc, Phi-lip-pin, Việt Nam. Tuy nhiên mọi cơ sở tư liệu đều khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

Vai trò nhất định trong việc phát triển kinh tế đất nước: khai hoang đất nông nghiệp, chính sách khuyến khích nhân dân khẩn hoang.

Cải cách hành chính của vua Minh Mạng 1831, ông chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Sự phân chia này được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và khoa học (dựa trên cơ sở điều kiện địa lí, điều kiện dân cư, điều kiện kinh tế- xã hội), là cơ sở cho phân phân chia đơn vị hành chính ngày nay của Việt Nam.

Chính trị: Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước trung ương tập quyền. Các vua nhà Nguyễn vẫn tập trung được quyền lực trong phạm vi cả nước. Hơn nữa, nhà Nguyễn là triều đại duy nhất ở Việt Nam thiết lập được chính sách quản lí nhân khẩu từ trung ương đến địa phương.

Văn hoá: Để lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại một hệ thống di sản được đánh giá là đặc trưng của phong kiến Việt Nam: Quần thể Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình, Bản mộc kho tư liệu cổ,… Để lại hậu thế kho tàn văn học, khoa học có giá trị đặc biệt là sử học, văn học (Đại nam thực lục, Khâm định Việt sử thong giám cương mục). Chữ viết: chữ Quốc ngữ, chú trọng chữ Nôm.

Trách nhiệm:​

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các nước tư bản phương Tây chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc có nhu câu tìm kiếm thị trường, nguyên liệu, nhân công… Trước tình hình đó, các nước phương Đông trở thành đối tượng xâm lược của phương Tây và bị biến thành thuộc địa và phụ thuộc, Việt Nam không ngoại lệ.

Trên thực tế nhà Nguyễn không đầu hàng Pháp ngay từ đầu mà đã kiên quyết tổ chức chống Pháp. Nhưng bước đi vào sai lầm từ kiên quyết đến thoả hiệp, từng bước kí các hiệp ước bất bình đẳng với Pháp và đầu hang Pháp. Thực dân Pháp phải mất 30 năm để chinh phục Việt Nam.

Cũng vào thời điểm này, một số nước đã thi hành những chính sách tiến bộ, tiêu biểu là Nhật Bản với Cải cách Minh Trị làm cho đất nước phát triển và giữ được độc lập. Trong khi đó nhà Nguyễn lại thi hành những chính sách lạc hậu, làm cho khả năng phòng thủ đất nước bị suy yếu, không đủ sức chống đỡ trước sự tấn công của Pháp.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhà Nguyễn không đoàn kết, tổ chức nhân dân kháng chiến, không đưa ra lời hiệu triệu kêu gọi nhân dân kháng chiến, nhân dân đã tự phát đứng lên. Nhà Nguyễn không đặt quyền lợi dân tộc trên hết, mà đặt quyền lợi của giai cấp dòng họ lên trên dân tộc, đi ngược lại với đường lối kháng chiến của ông cha ta. Nhà Nguyễn đã bỏ lỡ nhiều cơ hội trong việc đánh Pháp.
 

Chủ đề mới

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top