Socrate

Bút Nghiên

ButNghien.com
Socrate​

Nếu chúng ta suy xét trong khi ngắm bức tượng bán thân của Socrate còn sót lại trải qua bao nhiêu điêu tàn hoang phế thì ta sẽ nhận thấy rằng Socrate có một diện mạo không đẹp đẽ gì. Một cái đầu hói, cái mặt lớn và tròn, một cặp mắt sâu và nhìn thẳng, lỗ mũi lớn ... Cái mặt đó làm ta liên tưởng đến một người gác cổng hơn là một triết gia danh tiếng vào bậc nhất. Nhưng nếu nhìn lại lần thứ hai ta sẽ thấy rằng, qua những nét khắc trong đá, một cái gì hoà nhã và bình dị thoát ra từ bộ mặt đó, những nét ấy đã làm cho Socrate được hầu hết các thanh niên thành Athènes kính mến. Ta biết rất ít về Socrate, nhưng đồng thời ta hiểu Socrate hơn triết gia có vẻ quý phái như Platon hoặc thông thái như Aristote. Sau hơn hai ngàn năm, ta còn mường tượng được hình dáng của Socrate với chiếc áo choàng thụng thịnh bước từng bước khoan thai trước các đền thờ, tâm tư hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi các biến cố chính trị. Ông tụ họp những thanh niên và những học giả xung quanh mình vào những nơi có bóng mát trước cửa các đền thờ để cùng nhau đàm đạo.

Những người đi theo Socrate thuộc rất nhiều thành phần khác nhau, chính những người này đã tạo nên nền triết lý tây phương. Có những người con nhà giàu như Platon và Alcibiade, họ thích lối chỉ trích chế độ dân chủ của Socrate, cũng có những kẻ về phe xã hội chủ nghĩa ưa thích nếp sống nghèo nàn của Socrate và cho đó là một dấu hiệu của sự thánh thiện, cũng có những kẻ chủ trương diệt trật tự như Aristippe, họ chủ trương một xã hội không có nô lệ cũng không có chủ nô lệ, tất cả đều sống tự do và không lo lắng như chính Socrate. Tất cả những vấn đề làm con người suy nghĩ và làm cho những thiếu niên bàn cãi suốt ngày đều được đem ra mổ xẻ trong cái nhóm nhỏ ấy, họ tin tưởng một cách thành thật rằng nếu cuộc đời mà không có bàn luận về triết lý thì đó là một cuộc đời không đáng sống. Trong nhóm nhỏ ấy hầu hết các nguồn tư tưởng của nhân loại đều được đại diện.

Socrate làm gì để sống ? Ít ai biết đến. Ông không bao giờ làm việc, không bao giờ nghĩ đến ngày mai. Ông ăn khi nào có người mời, có lẽ người ta rất thích mời ông vì xem ra ông cũng béo tốt phương phi như ai. Đối với vợ con thì ông ta không được hoan nghênh lắm. Theo Xanthippe, Socrate là một kẻ du thủ du thực chỉ đem về cho gia đình một ít tiếng tăm mà không bao giờ đem về tiền bạc hoặc lương thực. Xanthippe cũng thích đàm đạo như Socrate, những cuộc đàm đạo này, rũi thay, không được lưu truyền. Nhưng chúng ta biết rằng bà ta yêu Socrate và rất đau buồn trước cái chết của người bạn tinh thần.

Tại sao những môn đệ kính mến Socrate đến thế ? Có lẽ tại rằng Socrate là một người trước khi là một triết gia: ông đã khinh thường gian nguy để cứu Alcibiade trong vòng tên đạn khói lửa, ông có tửu lượng rất khá, không từ chối mà cũng không đi đến chỗ say sưa. Nhưng điều làm người ta yêu thích Socrate nhất có lẽ là sự khiêm nhượng của ông ta: ông không tự cho rằng mình hiểu triết lý, ông chỉ đi tìm triết lý, ông là người thích triết lý, không phải là triết gia nhà nghề. Một câu sấm tại đền Delphe cho biết rằng Socrate là người thông minh nhất của xứ Hy lạp. Socrate cho rằng câu sấm này ám chỉ đến thuyết bất tri của ông ta: "Tôi chỉ biết một điều, đó là tôi không biết gì hết". Triết lý bắt đầu khi người ta biết hoài nghi, nhất là hoài nghi những niềm tin của chính chúng ta. Biết đâu rằng chính những niềm hy vọng ao ước thầm kín, những khao khát đã trở thành những niềm tin đối với chúng ta ? Biết đâu rằng những tư tưởng có vẻ khách quan chỉ là những niềm ước vọng trá hình. Sẽ không có triết lý nếu chúng ta không chịu khó đi một vòng quanh và quan sát lại chính chúng ta: "Hãy tự biết mình !" Socrate nói thế.


Trước Socrate cũng đã có nhiều triết gia. Những người với lý luận đanh thép như Thalès và Héraclite, tế nhị như Parménide và Zénon, sâu sắc như Pythagore và Empedocle. Nhưng phần nhiều những người ấy là những triết gia hướng về vật lý, họ tìm bản thể của sự vật định lý và yếu tố của thế giới bên ngoài. Những nỗ lực ấy rất đáng khen, Socrate nói, nhưng có một điều vô cùng quý giá hơn những cây cỏ, sông núi, trăng sao, đó là con người. Con người là gì, và con người sẽ đi đến đâu ?

Rồi từ đó ông chuyên chú vào tâm hồn con người, tìm hiểu những định lý, hoài nghi những tư tưởng sẵn có. Người ta thường nói đến hai chữ công bằng, Socrate liền hỏi công bằng là gì ? Anh hiểu gì về hai chữ ấy, tại sao anh dám đem hai chữ ấy để giải quyết vấn đề sống chết của đồng loại ? Danh dự là gì ? Đạo đức là gì ? Bản ngã của anh là gì ? Đó là những vấn đề đạo đức và tâm lý mà Socrate thường tự hỏi. Có những người lấy làm khó chịu về phương pháp của Socrate, một phương pháp đòi hỏi những định nghĩa chính xác, những tư tưởng minh bạch, những phân tích xác đáng. Họ cho rằng Socrate hỏi nhiều hơn trả lời và làm rối trí con người nhiều hơn sau khi đã thụ huấn với ông. Tuy nhiên Socrate đã để lại cho triết học hai câu trả lời minh bạch cho hai bài toán khó khăn nhất của chúng ta: Đạo đức là gì? Quốc gia tốt đẹp nhất là gì ?

Không một vấn đề nào thiết yếu hơn những vấn đề trên. Những nguỵ luận gia đã làm tan rã sự tin tưởng của đám thanh niên thành Athènes đối với các vị thần thánh và những điều khoản luân lý căn cứ vào sự thưởng phạt của các vị thần thánh, bây giờ không có lý do nào kềm giữ họ trong các hành vi của họ nếu không bị pháp luật ràng buộc. Một chủ nghĩa cá nhân lan tràn và làm suy yếu đức tính của người Athènes khiến cho nước này trở nên một món mồi ngon của liên bang Sparte. Về phương diện chính trị, thuyết dân chủ cực đoan đã làm say mê dân Athènes cũng đem đến nhiều điều bất tiện. Quá nhiều quyền hành đã được giao cho quốc hội, các cuộc bầu cử được tổ chức quá vội vàng, người có trách nhiệm như các tướng lãnh đã được tấn phong và cách chức một cách quá dễ dàng, sự chỉ định những nông phu, thương gia làm thẩm phán trong tối cao pháp viện theo thứ tự ABC là những yếu tố làm tan rã một nền hành chính và chính trị vững mạnh. Làm thế nào để thiết lập một nền đạo đức mới, làm thế nào để cứu vãn tình trạng suy đồi của quốc gia do các định chế dân chủ cực đoan gây nên ?

Chính vì trả lời cho các câu hỏi trên mà Socrate đã nhận lấy cái chết và đồng thời trở nên bất tử. Phái thủ cựu có lẽ sẽ thương tiếc ông ta nếu ông lên tiếng bênh vực lối thờ phượng đa thần của ngày xưa, nếu ông xúi giục các môn đệ của ông đến các nơi thờ phượng và dâng lễ cúng cho những đấng thần linh ngày trước. Trái lại, Socrate cho rằng làm như vậy tức là đi ngược với nền tiến triển của nhân loại, đó là một sự tiến tới diệt vong. Ông chủ trương rằng chỉ có một đấng tối cao mà thôi, nhưng ông lại cho rằng một nền đạo đức thực tiễn không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, ta có thể tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần học, hoàn toàn thích hợp với người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo thì xã hội có thể được ổn định mà không cần đến thần học.

Nếu có ai nhận thức rằng con người tốt là con người thông minh, con người đức hạnh là con người khôn ngoan, nếu họ nhận thức được đâu là quyền lợi chính đáng, thấu triệt được luật nhân quả, kiểm soát được lòng ham muốn để khỏi cảnh hỗn độn tự diệt và đi đến một xã hội có kỷ cương, thì họ đã nắm được cái tinh hoa của nền luân lý, họ không cần dựa theo lời răn dạy của thần học hay những điều ngăn cấm khác.

Tất cả tội lỗi đều do vô minh mà ra. Người trí huệ cũng bị cám dỗ bởi tham sân si như người vô minh nhưng họ biết dùng trí huệ để chế ngự sự cám dỗ và không rơi vào vòng tội lỗi. Một xã hội sáng suốt là một xã hội trong đó người dân cảm thấy được hưởng quyền lợi thì nhiều, mà bị hạn chế tự do thí ít. Trong xã hội ấy, ăn ở ngay thẳng là giữ đúng quyền lợi mình và an ninh trật tự cũng như thiện chí trong xã hội đều phát xuất từ sự nhận định sáng suốt của cá nhân.

Nhưng nếu chính phủ là một sự hỗn độn và phi lý, nếu chính phủ cai trị mà không giúp đỡ, chỉ huy mà không lãnh đạo thì làm sao có thể thuyết phục người dân đồng hoá quyền lợi cá nhân với quyền lợi xã hội ? Alcibiade nổi loạn chính vì để chống một chính phủ lung lạc nhân tài và mị dân. Không suy nghĩ sáng suốt tất nhiên đi đến cảnh hỗn độn, đám đông quyết định trong hấp tấp và vô ý thức tất nhiên có ngày phải hối hận vì sai lầm. Ai có thể tin rằng đám đông có lẽ phải ? Sự thật thì đám đông luôn luôn ngông cuồng hơn, độc ác hơn những cá nhân hành động đơn độc. Để cho kẻ miệng lưỡi lung lạc quần chúng là một điều sỉ nhục, họ chỉ là những cái máy nói, mỗi khi vặn lên là thao thao bất tuyệt. Việc trị nước an dân là một việc tối quan trọng đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và suy xét. Xã hội chỉ có thể được cứu vãn và trở nên hùng mạnh nếu được lãnh đạo bởi những người khôn ngoan và sáng suốt nhất.

Các bạn thử tưởng tượng phản ứng của nhà cầm quyền Athènes khi nghe những lời trên đúng vào lúc phải giải quyết chiến tranh, đúng vào lúc một thiểu số trí thức và quí tộc đang âm mưu một cuộc đảo chánh. Các bạn hãy đặt mình vào địa vị của Anytus nhà lãnh đạo thành Athènes bị cậu con trai về nhà đổ lư hương vì cậu này là một môn đệ của Socrate.

Rồi cuộc nội chiến bùng nổ, phe trí thức và quý tộc choảng nhau hết mình với phe nhân dân. Cuối cùng phe nhân dân thắng. Biến cố này quyết định luôn cả số phận của Socrate : ông là nhà lãnh đạo tinh thần của phe nổi loạn, dù ông có yêu chuộng hoà bình đến mấy cũng mặc, chính ông đã chủ trương thuyết quý tộc cầm quyền, chính ông đã xúi giục đám thanh niên hội thảo. Anytus kết luận: Socrate cần phải chết.

Cái chết của Socrate được Platon kể lại trong một quyển sách bất hủ. Với những lời lẽ cảm động Platon suy tôn bậc Thầy đã hy sinh vì chân lý, vì tự do tư tưởng, thà chết chứ không chịu xin đám đông tha tội vì xưa nay Socrate vẫn khinh thường phán quyết của đám đông.

Socrate bị xử phải uống thuốc độc. Môn đệ của ông tìm cách cứu ông một lần chót: những kẻ giữ ngục đồng ý nhận một món tiền hối lộ và làm ngơ cho Socrate trốn đi. Socrate từ chối. Ông đã bảy mươi tuổi, có lẽ ông nghĩ rằng có chết cũng vừa, vả lại đây cũng là một cơ hội tốt để mà chết. Với các môn đệ đến ngục thất để tiễn đưa Socrate về cõi chết, Socrate nói: Hãy cứ vui đi, các con chỉ chôn cái thể phách của thầy.

Nói xong ông đứng dậy và đi vào phòng tắm với Criton. Chúng tôi (theo Platon kể lại) ngồi đợi ở ngoài, lòng buồn vô hạn. Ông cũng như cha, bây giờ ông chết, chúng tôi không khác gì những kẻ mồ côi. Giờ mặt trời lặn đã gần kề. Khi ông trở ra, ông lại ngồi với chúng tôi, chuyện trò rất ít. Chằng bao lâu người giữ ngục đi vào, đến gần ông và nói như sau: - Ông thật là người cao quý nhất, hiền lành nhất trong đời. Chắc rằng ông không có ý nghĩ giận tôi giống như những kẻ thường chửi bới mắng nhiếc tôi khi tôi tuân lệnh trên, đem chén thuốc độc vào đây cho họ uống. Xin ông thông cảm, tôi với ông không thù hằn gì. Chúc ông can đảm chịu đựng. Nói xong người giữ ngục oà khóc và ôm mặt đi ra ngoài. Socrate trả lời như sau: - Tôi sẽ làm như lời ông nói và chúc ông mọi sự tốt lành. Quay về phía chúng tôi Socrate nói như sau: - Người đó rất tốt với thầy từ lúc thầy vào đây, y đến thăm hỏi luôn, bây giờ y thực tình mến tiếc, nhưng Criton ơi, hãy đem chén thuốc vào đây nếu thuốc đã chế xong. Nếu thuốc chưa chế xong, hãy nói người ta chế. Criton nói:

- Thưa sư phụ, mặt trời còn trên đỉnh đồi. Nhiều kẻ đợi trời tối mới uống và trước khi uống họ được quyền ăn uống no say thoả thích. Xin sư phụ chớ gấp gáp, hãy còn thì giờ.

Socrate nói:

- Những kẻ ấy làm rất phải, vì họ có lợi trong sự chần chờ, nhưng ta thì không thấy có lợi gì khi uống chén thuốc độc chậm hơn một chút, đời của ta kể như đã hết. Hãy làm như ta đã nói và xin đừng từ chối.

Criton ra dấu cho người giúp việc, người này đi ra một lúc rồi trở lại với người giữ ngục, tay cầm chén thuốc.

Socrate nói: - Ông bạn là người thông thạo về vấn đề này, xin ông cho biết tôi phải làm thế nào? Người giữ ngục trả lời:

- Uống xong ông nên đi dạo một lúc, khi nào cảm thấy nặng ở hai chân thì nằm xuống, thuốc sẽ ngấm dần lên đến tim.

Nói xong hắn đưa chén thuốc cho Socrate. Socrate nhận lấy một cách vô cùng nhã nhặn, không chút sợ sệt hoặc thay đổi sắc mặt.

- Trước khi uống, tôi cần dành một phần chén thuốc để dâng cúng thần linh không ?

- Chúng tôi chế thuốc vừa đủ.

- Tôi hiểu rồi, nhưng dù sao tôi cũng cầu nguyện thần linh phù hộ cho tôi trong cuộc hành trình sang thế giới bên kia.

Nói xong Socrate cầm chén thuốc đưa lên môi và uống một cách vui vẻ.

Từ trước đến giờ chúng tôi cố nén sự đau buồn thương tiếc, nhưng khi thấy ông uống cạn chén thuốc, chúng tôi không còn cầm lòng được nữa. Nước mắt tôi tuôn trào, tôi ôm mặt khóc. Không phải tôi khóc ông, mà chính là tôi khóc tôi từ nay vĩnh biệt tôn sư. Criton khóc trước tôi, y ôm mặt đi lãng xa vì không thể chứng kiến nổi cảnh ấy. Tôi cũng ôm mặt theo Criton. Trong lúc ấy thì Apollodorus đang khóc bỗng thét lên một tiếng làm tất cả chúng tôi đều giật mình. Socrate vẫn bình tĩnh, ông nói:

- Cái gì lạ vậy ? Không cho phụ nữ vào đây là để tránh cái cảnh này. Người ta cần phải chết trong thanh tịnh. Các con hãy bình tĩnh và nhẫn nại.

Nghe những lời nói ấy chúng tôi hổ thẹn và thôi không khóc. Ông đi dạo một hồi cho đến khi cảm thấy nặng ở chân, rồi nằm xuống đúng theo lời dặn. Người giữ ngục quan sát tay chân ông, đè mạnh xuống hai bàn chân và hỏi:
- Ông cảm thấy gì không ?

- Không.

Người ấy đi lần lên phía trên, vừa đè vừa hỏi.

Chúng tôi thấy hai chân ông đã cứng và lạnh, Socrate cũng lấy tay ấn thử và nói:

- Khi nào thuốc ngấm đến tim là xong. Khi lạnh đến thắt lưng, ông bỏ miếng vải che mặt và nói:

- Criton, thầy nợ Asclepius một con gà, con nhớ trả món nợ ấy.

- Con sẽ trả, còn gì nữa không ?

Không có tiếng trả lời, vài phút sau Socrate cử động, người giữ ngục bỏ miếng vải che mặt ra, Criton vuốt mắt và miệng cho người chết. Đó là giây phút cuối cùng của tôn sư chúng tôi, ông là người minh triết nhất, công bằng nhất và tốt nhất.

( Theo Will Durant - Câu chuyện Triết học)​
 
Socrate và phiên tòa xét xử ông

Socrate và phiên tòa xét xử ông

Nguyễn Văn Dũng​


Socrate (470 - 399 trước công nguyên) là nhà triết học cổ đại Hy Lạp, một trong những ông tổ của phép biện chứng được triết học phương Tây đánh giá rất cao, Hêgen đã coi triết học của ông là bước ngoặt vĩ đại trong triết học cổ đại Hy Lạp. Socrate không để lại cho hậu thế một tác phẩm thành văn nào. Người đời sau biết đến ông như một nhà triết học chủ yếu qua các học trò của ông. Một trong những số đó là Platôn. Phương pháp của Socrate là phát hiện chân lý thông qua việc đặt ra nhiều câu hỏi. Ông thường truyền bá học thuyết của mình bằng cách nói chuyện với mọi người, đặc biệt là thích nói chuyện với tầng lớp thanh niên. Triết học của ông quan tâm nhiều đến con người, dạy đạo đức cho con người. Ông cho rằng sự hiểu biết mình là nguồn gốc của đức hạnh mà muốn tự biết mình thì phải bắt đầu từ nghi ngờ.

Ông là một trong những người theo phái quý tộc chống lại chính thể dân chủ Athenai. Sau thất bại của Athenai trong cuộc chiến tranh Peloponnes chống lại Sparta (431 - 404 trước công nguyên). Chính quyền của Athenai đã tổ chức phiên tòa xét sử Socrate (năm 399 trước công nguyên). Ông bị buộc tội là kẻ thù của chính thể dân chủ, là kẻ theo tà đạo và làm hư hỏng thanh niên. Những câu trả lời, những lời tự bào chữa của ông tại phiên tòa đã thể hiện những tư tưởng triết học sâu sắc của ông.

Phiên tòa xử Socrate được tổ chức tại thành Athenai với sự tham gia của 500 thẩm phán. Vậy là một phiên tòa đặc biệt hiếm có. Tội danh của bị cáo không phải là trộm cắp hay lừa đảo, cũng không phải là phản quốc. Họ buộc tội ông là đã làm hư hỏng đạo đức của thanh niên và thờ thần tà đạo.

Nhìn dáng vẻ Socrate – một ông già 70 tuổi, không cao lớn nhưng không khỏe mạnh, ăn mặc tồi tàn, đầu hói, trán dô, mũi hếch, môi dày – một ông thầy tướng số uyên bác của thành Athenai được người ta đưa đến phiên tòa đã phán: “ Đây là con người tham lam, truỵ lạc, nóng nảy và không biết kiềm chế đến mức điên dại”. Khi đám đông nhao lên la ó phản đối ông thầy tướng số và tỏ ý bênh vực Socrate thì ông bình thản nói với mọi người: “Thưa các ông, các bà, ông ta đã nói với các ông, các bà một điều rất đúng. Tôi thực sự cảm thấy mình tham lam và nóng nảy, nhưng tôi đã biết tự chủ, đã tự giáo dục được mình và trở thành con người như hôm nay các ông, các bà thấy !”

Socrate ngồi bình tĩnh lắng nghe các vị quan tòa phán xét. Ba công tố viên là Melet, Anit và Likon đã buộc tội Socrate rằng, trong năm năm kể từ sau khi kết thúc cuộc chiến với Sarpta ông đã làm cho Athenai từ một quốc gia hùng mạnh trở thành hỗn loạn và dẫn đến sụp đổ. Đám đông lại sôi lên bày tỏ chính kiến của mình.

Một số người cho rằng Socrate là kẻ thù của dân tộc. Theo họ, chính thể dân chủ Athenai đã làm cho mọi người trở nên bình đẳng, ai cũng có thể làm lãnh đạo. Chỗ nào họ cũng có thể lựa chọn cho mình người lãnh đạo mà không phải bầu, chỉ cần bốc thăm. Còn Socrate thì lại cho đó là chuyện nực cười như chuyện con thuyền trưởng trên tàu bằng cách bốc thăm chứ không phải dựa vào kiến thức và kinh nghiệm. Họ cho rằng những người có thời gian nhàn rỗi, đem kiến thức và kinh nghiệm vào hoạt động xã hội là những người giàu có quyền quý. Những kẻ này thường vây quanh Socrate, nghe các bài giảng của ông rồi sau đó trở thành những kẻ phá hoại Nhà nước. Thuyền trưởng hiếu danh Alkivial và bạo chúa Kritia đều đã từng là học trò của Socrate.

Một số người khác lại nói Socrate là bạn của nhân dân. Cả Alkiviad lẫn Kritia khi còn nghe Socrate giảng dạy họ đều là những người tốt. Họ chỉ trở nên những kẻ nguy hiểm khi đã rời bỏ ông. Những điều ông giảng không có gì bí mật, ông sống công khai, thích nói chuyện một cách tự nhiên với mọi người kể cả nô lệ nếu ông cảm thấy những điều ông nói làm họ thích thú. Socrate thường nói “Để quản lý Nhà nước chỉ cần tới những người tốt”. Nhưng không bao giờ ông nói thêm những điều mà những người quyền quý thích nói: “Để trở thành người tốt chỉ có thể do bẩm sinh chứ không thể do học tập”. Ông thường dạy mọi người rằng muốn trở thành người tốt, không phân biệt giàu hay nghèo, điều cơ bản là bản htân người đó tự muốn học, còn việc học là khó thì đâu phải là lỗi của ông.

Số người thứ ba thì nói: Socrate là nhà thông thái. Chính nhà tiên tri của thành Delfư đã từng nói: “Socrate thông minh hơn tất cả mọi người Hy Lạp”. Ông không triết lý xuông về cấu trúc vũ trụ như những người khác. Ông nói: “Nhận xét về người thợ mộc không phải là nghe xem anh ta bàn luận như thế nào, mà là xem anh ta làm ra cái đó như thế nào. Tôi có thể bàn luận rất hay về mặt trời và các vì sao, nhưng phải chăng tôi có thể chứng minh được tôi đã làm ra dù chỉ là một ngôi sao nhỏ ? Khi tôi bàn về những hành vi tốt và xấu thì chính bản thân tôi đang cố gắng làm điều tốt và không làm điều xấu. Đây là cách chứng minh tốt nhất những lời bàn luận của tôi”. Ông chỉ bàn về những hành động của con người và bàn một cách tinh tế hơn ai hết. Ăn cắp có tốt không? Không tốt! bao giờ cũng thế chứ? Bao giờ cũng thế! Thế còn ăn cắp vũ khí của kẻ thù trước trận đánh? Đúng, cần phải xác định rõ thêm “ăn cắp của bạn là không tốt”. Thế còn ăn cắp kiếm của người bạn bị ốm để làm sao trong lúc tuyệt vọng cái kiếm đó không đâm vào anh ta? Đúng, cần xác định rõ thêm… Nhưng rõ như thế nào? Bằng những câu hỏi như thế ông dạy cho mọi người hiểu sự vật ngày càng sâu sắc hơn.

Nhóm người cuối cùng nói: Socrate là kẻ dở hơi. Ông luôn đặt câu hỏi nhưng không đưa ra câu trả lời: dù có trả lời bao nhiêu đi nữa, tất cả đều cảm thấy mình trong tình trạng bế tắc. Ông ít khi chỉ thực hiện một cách giản đơn các đạo luật của Nhà nước, mà luôn cố tìm ra thế nào cho sự công bằng thực sự. Nhưng điều này đâu có làm cho ông sống khấm khá hơn. Ông sống nghèo khổ hơn những người nghèo khổ nhất. Khi đi ngoài chợ mồm ông luôn lẩm bẩm: ‘thú vị thật, có những chừng này thứ. Nhưng đối với ta không có những thứ đó cũng xong!” Vợ ông trách móc: “Mọi người sẽ nói gì về sự nghèo khổ của chính mình” ? Ông trả lời: “Nếu họ là những người khôn thì điều đó đối với họ không có gì là đáng quan tâm, còn nếu họ là người dở hơi thì điều đó đối với chúng ta cũng không có gì đáng quan tâm”. Bà vợ bực quá hét lên còn ông lại mỉm cười. Bà điên tiết hắt nước vào ông, ông bình thản phủi sạch nước nói: “Ksantippa của tôi vẫn thế: lúc đầu là sấm, sau đó là mưa”. Ông cầu trời “ hãy mang đến cho tôi điều tốt, tuy tôi không cầu xin nó và đừng mang đến cho tôi điều xấu mặc cho tôi cầu xin nó”.

Cả bốn loại người trên đều cho rằng Socrate là con người hay giễu cợt. Họ nói rằng trong khi những nhà triết học khác nói: “Hãy suy nghĩ đúng thế !” thì Socrate lại nói: “ Hãy suy nghĩ như thế !”. Khi người ta nghĩ ra được điều gì đó và nói với Socrate thì ông lại hỏi vặn người ta và lập tức họ thấy rằng cần phải tiếp tục suy nghĩ. Họ cho rằng chơi với ông thật thú vị nhưng không yên tâm. Làm như ông không ổn định được cả gia đình, cũng không chấn chỉnh được Nhà nước. Các công tố viên đã kết án tử hình Socrate. Họ biết rằng làm như thế là quá đáng, nhưng họ muốn dạy cho ông bài học là muốn sống thì đừng quấy nhiễu.

Socrate được tòa cho nói bào chữa. Ông cho rằng tất cả những lời buộc tội ông là bịa đặt và không nghiêm túc. Khi họ cho rằng ông không thừa nhận thần chính đạo thì ông lại chứng minh rằng ông đã cùng với mọi người tham gia vào nghi lễ và các lễ hiếu sinh. Khi họ cho rằng hình như ông thờ thần tà đạo thì ông lại khẳng định rằng trong người ông có tồn tại tiếng nói nội tâm và ông nghe được điều đó. Nếu như mọi người thừa nhận rằng nhà tiên tri thành Delfư nghe được tiếng nói của thần qua những dấu hiệu của con chim bay của ngọn lửa tế lễ, thì tại sao họ không tin rằng các thần có thể nói điều gì đó với Socrate qua tiếng nói nội tâm của ông.

Về bản án thứ hai ông nói: “ Họ nói rằng hình như tôi làm hư hỏng đạo đức thanh niên? Nhưng làm hỏng như thế nào? Tôi dạy họ tính mềm yếu, lòng tham lam hay tính hiếu danh? Nhưng chính bản thân tôi không mềm yếu, không hiếu danh, không tham lam. Tôi dạy họ không phục tùng chính quyền? Không, tôi nói “Nếu các anh không thích những đạo luật này, thì hãy đưa ra các đạo luật mới. Còn trong lúc chưa đưa ra được những đạo luật mới thì hãy cứ phục tùng những đạo luật này”. Tôi dạy họ không phục tùng các bậc cha mẹ? Không, tôi nói với các bậc cha mẹ rằng: “Nếu như các ngài tin tưởng người có kiến thức cơ bản tốt hơn dạy cho con cái các ngài thì tại sao các ngài lại không giao phó chúng cho người biết tốt hơn thế nào là đức hạnh“ ? Socrate đã vạch ra nguyên nhân làm cho một số người Athenai không thích ông và đưa ông ra tòa. Ông nói: “Các ngài có nhớ rằng có một lúc nào đó nhà tiên tri thành Delfư đã nói một điều kỳ quặc: “Socrate thông minh hơn cả mọi người HyLạp?” Tôi rất ngạc nhiên, tôi biết rằng không thể có điều đó được bởi vì tôi không biết gì cả. Nhưng cần phải nghe lời nhà tiên tri và vì vậy tôi đã đến với mọi người để học điều hơn lẽ thiệt. Họ là những nhà chính trị, nhà thơ, thợ gốm, thợ mộ. Vã vỡ lẽ ra được điều gì? Mỗi người trong nghề nghiệp của mình tất nhiên họ biết nhiều hơn tôi. Nhưng về những cái như đức hạnh, sự công bằng, sắc đẹp, sự khôn ngoan, tình bạn… thì họ biết không hơn tôi chút nào. Nhưng mỗi người đều tự cho mình là người hiểu biết trong mọi lĩnh vực và họ rất tức giận khi những câu hỏi vặn của tôi đã dồn họ vào thế bí. Ngay lúc đó tôi hiểu được điều mà nhà tiên tri muốn nói: “Tôi biết được dù chỉ là một điều rằng tôi không biết gì cả - còn họ thì ngay điều đó cũng không biết, chính vì thế mà tôi thông minh hơn họ”.

Socrate luôn đặt ra những câu hỏi vặn trong lúc nói chuyện với mọi người, còn những người bị ông hỏi vặn thì không thích bị phơi bày những điều mình không biết, nhất là đó lại là những điều rất quan trọng. Vì vậy họ bịa ra tội là hình như ông đã dạy thanh niên điều gì đó không tốt. Socrate khẳng định rằng ông không dạy họ điều gì vì chính ông cũng không biết gì và không khẳng định điều gì, ông chỉ đặt ra những câu hỏi cho mình và những người khác cùng suy ngẫm và không bao giờ ông chịu để mình trở thành kẻ ngu ngốc. Vì vậy ông khẳng định mình vô tội. Khi tòa cho phép ông chọn hình phạt cho mình, ông nói: “Thưa quý tòa, làm sao tôi có thể đưa ra cho mình một hình phạt nếu tôi cho rằng tôi hoàn toàn không có tội? Thậm chí tôi còn nghĩ rằng có ích cho Nhà nước, bởi vì những cuộc đàm đạo của tôi không làm cho trí tuệ của các ngài bị mê mệt và quấy nhiều chúng con mòng quấy nhiều con ngựa béo mập. Vì vậy, tôi không dành cho mình hình phạt mà dành cho mình phần thưởng – thí dụ như một bữa cơm trưa bằng tiền của Nhà nước, bởi vì tôi là người nghèo khổ. Tôi có thể trả được hình phạt nào nếu như toàn bộ tài sản của tôi không đáng giá 5 mina? (1mina = 437 g bạc – N.V.D). Nếu như chỉ 1 mina thì bằng cách nào đó tôi cũng sẽ trả được và có thể bạn bè tôi sẽ giúp thêm vào”.

Các quan tòa cho rằng Socrate đã nhạo báng họ nên đã biểu quyết và nhất trí dành cho ông bản án tử hình. Khi được nói lời cuối cùng, ông nói: “Thưa các ngài, tôi là một người già, cái chết đối với tôi không có gì đáng sợ. Cái chết sẽ đem đến cho mọi người điều gì tôi không biết. Nếu như không có thế giới bên kia thì cái chết sẽ giải thoát tôi khỏi tuổi già vất vả. Điều đó tốt. Nhưng nếu có thì thì sang thế giới bên kia tôi sẽ có thể gặp được những bậc trượng phu thời cổ và hỏi họ những câu hỏi vận dụng của mình và điều đó sẽ còn tốt hơn. Vì vậy chúng ta hãy từ biệt nhau: Tôi – để chết, các ngài – để sống, còn cái gì tốt hơn, chúng ta không biết”.

Họ đã không giết ông ngay vì lúc đó là tháng lễ hội, mọi án tử hình đều phải hoãn lại bạn bè muốn ông vượt ngục, nhưng ông nói: “Chạy đi đâu? Phải chăng có một nơi nào đó mà ở đó con người không chết?”. Khi bạn bè hỏi: “Sẽ chôn cất ông như thế nào?” ông trả lời: “Các bạn nghe tôi kém thế, nếu như các bạn nói như thế này. Các bạn sẽ chôn cất không phải là tôi mà là thi thể đã chết của tôi”.

Người ta đã giết ông bằng một bát thuộc độc. Khi ông uống cạn bắt thuốc độc, bạn bè vây quanh, khóc ồ lên, ông nói: “Hãy im lặng, hay im lặng: cần phải chết một cách thanh thản”. Khi cái chết đã nhập vào tim, ông nói: “Xin các bạn hãy mang kẻ hiếu sinh này tới cho thần sức khỏe”. Đó là lời cuối cùng của ông.

Nguồn: Tạp chí Triết học​
 
Từ trước đến giờ chúng tôi cố nén sự đau buồn thương tiếc, nhưng khi thấy ông uống cạn chén thuốc, chúng tôi không còn cầm lòng được nữa. Nước mắt tôi tuôn trào, tôi ôm mặt khóc. Không phải tôi khóc ông, mà chính là tôi khóc tôi từ nay vĩnh biệt tôn sư. Criton khóc trước tôi, y ôm mặt đi lãng xa vì không thể chứng kiến nổi cảnh ấy. Tôi cũng ôm mặt theo Criton. Trong lúc ấy thì Apollodorus đang khóc bỗng thét lên một tiếng làm tất cả chúng tôi đều giật mình. Socrate vẫn bình tĩnh, ông nói:

- Cái gì lạ vậy ? Không cho phụ nữ vào đây là để tránh cái cảnh này. Người ta cần phải chết trong thanh tịnh. Các con hãy bình tĩnh và nhẫn nại.
Người nắm triết học là người vượt lên vạn người.
 

Dành cho học sinh

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top