Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Các tiêu chuẩn xác định chân lý
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Butchi" data-source="post: 6299" data-attributes="member: 7"><p><strong>9. Luật đa số (Majority rule)</strong></p><p></p><p>Lấy tiêu chuẩn số đông dựa trên nền tảng thống kê để quyết định những đề xuất cần được lựa chọn hay xác nhận. Trong các quốc gia và tổ chức dân chủ, luật đa số đầu phiếu được mọi thành viên nhìn nhận như một phương cách hiệu quả hướng đến những quyết định chung. Điều này đặc biệt đúng trong tiến trình ban hành hay thông qua những luật định có liên quan hệ đạo đức cá nhân hay cung cách ứng xử xã hội. Nói cho cùng, một cộng đồng dân chủ, được cấu thành từ nhiều bộ phận đối lập với nhau, thường buộc phải hài lòng với những quyết định theo nguyên tắc đa số.</p><p></p><p>Mặc dù đa số đầu phiếu là một biện pháp dân chủ và khá hiệu quả, nó không thể được xem là một phương pháp thoả đáng nhất để xác minh chân lý. Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu một khoa học gia dựa vào luật phổ thông đầu phiếu để rút ra kết luận cho các công trình nghiên cứu của mình? Hoặc giả, một nhà thiên văn tuân thủ "nghị quyết" của công chúng về vấn đề nên ghi nhận hay loại bỏ một ngôi sao nào đó ra khỏi bản đồ thiên hà?</p><p></p><p><strong>10. Tri thức nhân loại (Concensus Gentium)</strong></p><p></p><p>Có một số người tin rằng những ý kiến thuộc về tri thức chung của nhân loại bao hàm một tiêu chuẩn chân lý thoả đáng. Tri thức nhân loại, những tư tưởng và nhận thức chung của loài người, được xem là có giá trị hơn hẳn nghị quyết đa số. Theo tiêu chuẩn này, sự kiện cả nhân loại có chung một niềm tin đủ chứng minh rằng niềm tin ấy tất đúng.</p><p></p><p>Mặc dù tri thức của nhân loại đã được xây dựng trên nền tảng khá vững chãi, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học; tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi nó chỉ là sự nhất trí chung đơn thuần, giá trị của nó cần được đặt thành nghi vấn. Nói cho cùng, sự nhất trí chung không chứng minh được chân lý. Thực tế, đã có một thời hầu như toàn bộ nhân loại đều tin rằng trái đất phẳng và mặt trời xoay quanh nó.</p><p></p><p><strong>11. Chủ nghĩa duy thực thuần phác</strong></p><p></p><p>Theo chủ nghĩa duy thực thuần phác (Naive Realism), sự vật chỉ thực hữu khi các cảm giác thể hiện và diễn tả chúng. Các giác quan của con người khẳng định sự chân xác hay sai lầm của các đối tượng sự vật và mọi kết luận, chỉ có những đối tượng được cảm nhận trực tiếp bằng giác quan mới là chứng cứ có giá trị. “Trừ phi nhìn tận mắt, bắt tận tay”, “tôi không tin vào bất kỳ điều gì”. Lời khẳng định này là thí dụ minh hoạ cụ thể cho tiêu chuẩn duy thực như thế.</p><p></p><p>Tuy nhiên, tiêu chuẩn duy thực thuần phác không phải là yếu tố kiểm chứng chân lý thoả đáng. Thực tế, các chân lý khoa học thường nằm ngoài phạm vi cảm nhận của các giác quan. Sóng ánh sáng, tia X, các phản ứng hóa học, v.v..., cũng như một số hiện tượng tự nhiên khác, vốn không cảm nhận được bằng giác quan, mặc dù chúng được kiểm chứng qua các cuộc thử nghiệm. Mặt khác, sóng âm thanh với tần số trên 20.000 chu kỳ/giây vượt ra khỏi khả năng nghe của con người, vẫn có thể được phát hiện một cách gián tiếp qua các thiết bị dò tìm.</p><p></p><p>Hơn nữa, kinh nghiệm cảm giác của con người cũng có thể bị đánh lừa và tạo nên ảo tưởng. Thí dụ: Tiêu chuẩn duy thực thuần phác sẽ dẫn chúng ta đến kết luận rằng chiếc đũa thẳng sẽ hoá cong khi đặt vào trong ly nước, bởi lẽ nó thực sự bị uốn cong dưới cái nhìn của chúng ta. Hay cho sáu đầu bút chì chạm đồng thời vào một khu vực nhỏ trên lưng người sẽ tạo ra ảo giác rằng chỉ có một đầu bút chì chạm vào mà thôi. Trong trường hợp ấy, quan niệm duy thực thuần phác sẽ dẫn chúng ta đến 1 kết luận sai lầm.</p><p></p><p><strong>12. Sự tương hợp</strong></p><p></p><p>Tiêu chuẩn này cho rằng một ý tưởng tương thích với đối tượng của nó thì tất đúng. Qua đó, “Nhà Trắng toạ lạc tại thủ đô Washington, D.C của Hoa Kỳ” là lời nhận định đúng nếu đối tượng được nói đến (Nhà Trắng) có vị trí thực tế phù hợp với ý kiến mà nhận định ấy nêu ra.</p><p></p><p>Có vẻ như sự tương hợp (correspondence) là tiêu chuẩn thoả đáng nhất so với các tiêu chuẩn liệt kê ở trên - nhiều triết gia nhìn nhận nó là yếu tố kiểm chứng chân lý hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phản bác. Đành rằng một ý tưởng tương thích với đối tượng của nó là chân xác, nhưng làm thế nào có thể xác định được một ý tưởng thực sự tương thích với đối tượng bởi thực tại, chúng ta vẫn cần phải đến một yếu tố kiểm chứng khác, yếu tố ấy phải có khả năng phát hiện ra mức độ chính xác của sự tương hợp ấy ở những tình huống cụ thể.</p><p></p><p><strong>13. Thẩm quyền (Authority)</strong></p><p></p><p>Thông thường, ý kiến của các chuyên gia, những người có học vị cao, hoặc đạt được một mức độ thành công nhất định trong một số lãnh vực chuyên môn, được nhìn nhận như dạng bằng chứng xác thực. Các chuyên gia ấy, hay giới có thẩm quyền (the authority), với khả năng nắm bắt và sự hiểu biết uyên thâm về một số vấn đề cụ thể, là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy. Họ được xem là những người có đủ năng lực lý giải chính xác những vấn đề thuộc lãnh vực chuyên môn của mình. Vì thế, ý kiến đề xuất của họ nhận được sự tôn trọng, những nhận định của họ được chấp nhận như yếu tố kiểm chứng chân lý. Tuy nhiên, thực ra không ai (kể cả họ) có thể đưa ra một lời phán quyết, chính xác và tối hậu, theo cung cách “chính tôi khẳng định như thế”. Xét cho cùng, mọi nhận định đều cần được đánh giá đúng mức.</p><p></p><p>Mặc dù yếu tố thẩm quyền thường được công nhận là tiêu chuẩn kiểm chứng có giá trị và hiệu lực sử dụng khá rộng (thí dụ chân lý tối hậu). Trong nhiều trường hợp, các nguồn thông tin có thẩm quyền và đáng tin cậy đưa ra nhiều chứng cứ cũng như nhận định mâu thuẫn với nhau.</p><p></p><p><strong>14. Tiêu chuẩn thực dụng (The Pragmatic Criterion of Truth)</strong></p><p></p><p>Đối với những người có chủ trương thực dụng, một ý tưởng hiệu dụng phải được nhìn nhận là ý tưởng đúng. Nói cách khác, hiệu quả thực hiện của một ý tưởng quyết định sự đúng đắn của nó. Ý tưởng phải gắn liền với thực t ế và cho ra kết quả thực tế, từ đó quá trình kiểm tra kết quả sẽ xác nhận hoặc phủ nhận chính ý tưởng ấy. Giá trị trọn vẹn của một ý tưởng có thể được phát hiện thông qua chuỗi hiệu quả phát sinh từ quá trình ứng dụng ý tưởng ấy trong thực tế.</p><p></p><p>Thí dụ: Đối với lời nhận định về tầm quan trọng và hiệu lực của chất kháng sinh penicillin trong dược liệu pháp, các kết quả ứng dụng chất kháng sinh ấy trong quá trình chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn chính là bằng chứng hiệu quả và có giá trị nhất.</p><p></p><p>Mặc dù chủ nghĩa thực dụng đưa ra được một tiêu chuẩn chân lý có giá trị nhất, tiêu chuẩn này cũng cần được xem xét và vận dụng với thái độ dè dặt đúng mức. Không phải mọi ý tưởng có vẻ hiệu dụng bề ngoài đều đúng cả.</p><p></p><p>Thí dụ: Một y sĩ chữa khỏi cho bệnh nhân mắc chứng rối loạn thần kinh chức năng (neurosis) bằng cách sử dụng một phương thuốc đặc trị. Về sau, ông ta khám phá ra rằng việc sử dụng một loại thuốc trấn yên cũng mang đến kết quả tương tự. Có lẽ vị y sĩ ấy buộc lòng phải thừa nhận rằng phương thuốc đặc trị lúc trước không phải là tác nhân chủ yếu chữa lành bệnh, rằng kết quả chẩn đoán và quyết định ban đầu của mình là thiếu chính xác. (Cũng có thể do lòng tin hay một dạng ảnh hưởng nào đó về mặt tâm lý đã giúp bệnh nhân của ông ta hồi phục).</p><p></p><p>Những trường hợp như thế cho thấy rằng đôi khi ý tưởng sai lầm cũng có thể xuất hiện như một tác nhân mang đến hiệu quả thực tế.</p><p></p><p>Tuy nhiên, tiêu chuẩn thực dụng vẫn có hiệu lực và giá trị nhất định; chí ít là dạng hiệu lực đã được William Ernest Hocking giới thiệu với cái tên “Nguyên lý thực dụng tiêu cực” (Negative Pragmatism). Đại thể, nguyên lý ấy nhấn mạnh một ý tưởng vô hiệu chẳng thể nào là chân lý, bởi lẽ chân lý thì luôn hiệu dụng (mặc dù đôi khi những gì có vẻ hiệu dụng vô sản thể không phải chân lý)</p><p></p><p><strong>15. Nhất quán cục bộ (Loose Consistency)</strong></p><p></p><p>Chính xác, nhưng không nhất thiết phải có liên quan với nhau, những nhận định được gọi là nhất quán cục bộ nếu chúng không mâu thuẫn với nhau. (Tương tự, một người có tính nhất quán thì không tự mâu thuẫn với chính mình). Theo lý lẽ trên, những nhận định dưới đây được xem là nhất quán cục bộ, bởi vì chúng không đối kháng nhau:</p><p></p><p>- “Tuyết trắng.”</p><p>- “Chì là kim loại nặng.”</p><p>- “Hôm qua, nhiệt độ hạ xuống mức 200C.”</p><p>- “George Washington* là vị tổng thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”</p><p></p><p>Sự bất xứng của tiêu chuẩn nhất quán cục bộ được thể hiện qua thí dụ trên. Những lời nhận định như thế không thể không liên quan gì với nhau, thiếu mạch lạc và không cấu thành một tổng thể. Xét cho cùng, giá trị của chứng cứ phải thể hiện ở các mối quan hệ có khả năng nối kết các dữ kiện riêng lẻ thành một khối thống nhất</p><p></p><p><strong>16. Nhất quán tổng thể (hay Nhất quán nghiêm ngặt - Rigorous Consistency)</strong></p><p></p><p>Tiêu chuẩn này phản ánh mối liên kết giữa các nhận định, trong đó những dữ kiện được đưa ra kết thành một chuỗi mắt xích gắn bó mật thiết với nhau. Phương pháp luận toán học và cơ sở luận lý học thể hiện rõ tiêu chuẩn này. Thí dụ:</p><p></p><p>• Nếu mọi thành viên trong ban giám hiệu nhà trường được xem là giáo viên, và nếu thầy Hưng là một thành viên trong ban giám hiệu nhà trường, chắc chắn thầy Hưng cũng phải được xem là một giáo viên.</p><p>• Nếu mọi cá thể A đều thuộc nhóm B và mọi nhóm B đều thuộc tập hợp C, dứt khoát mọi cá thể A phải thuộc tập hợp C.</p><p></p><p>Giá trị của tiêu chuẩn nhất quán tổng thể là không thể bàn cãi. Tuy nhiên, khả năng áp dụng tiêu chuẩn này bị giới hạn ở một số lãnh vực nhất định. Thực tế, những tiền đề của nó vốn có sẵn. Điều đó có nghĩa là để phân định sự chính xác của chúng, ta cần sử dụng đến một hay nhiều tiêu chuẩn kiểm chứng chân lý khác. Hơn nữa, một ý kiến phản bác khác còn nhấn mạnh rằng một tập hợp kết luận mang tính triết học, mặc dù thoả mãn tính nhất quán tổng thể, vẫn có thể bộc lộ sự thiếu chặt chẽ. Đôi khi, một hệ thống triết học chỉ có thể duy trì tính nhất quán tổng thể trong khuôn khổ những sự kiện được đưa ra để cân nhắc. Trong khi đó, một tiêu chuẩn hoàn hoả phải thoả mãn mọi sự kiện đề ra, kể cả các sự kiện mới phát sinh có tác động bất lợi đối với tính nhất quán tổng thể vốn có của nó.</p><p></p><p><strong>17. Kết cấu chặt chẽ</strong></p><p></p><p>Xét trên phương diện của một tiêu chuẩn chân lý, kết cấu chặt chẽ nói đến sự lý giả nhất quán và có tính hệ thống đối với toàn bộ sự kiện thuộc về kinh nghiệm và tri thức. Để đảm bảo tiêu chuẩn này, người ta phải sắp xếp tất cả các sự kiện vào đúng vị trí, sao cho chúng thể hiện được mối tương quan với nhau một cách nhất quán và chặt chẽ như những bộ phận hữu cơ của một tổng thể thống nhất. Bất kỳ sự kiện nào được đề cập đến phải được lý giải thoả đáng, được đặt vừa khớp trong hệ thống tổng thể ấy. Chỉ những cách lý giải nào thoả mãn tối đa các yêu cầu của kết cấu tổng thể mới có thể được xem là thoả đáng.</p><p></p><p>Trong số các tiêu chuẩn được đề cập đến ở trên, kết cấu chặt chẽ là yếu tố thoả mãn các yêu cầu kiểm chứng chân lý một cách đầy đủ nhất. Nó bao hàm các đặc tính cần thiết: lý lẽ, hệ thống, tổng thể, tương quan và nhất quán. Rõ ràng, giới hạn của tiêu chuẩn này, không thuộc về khiếm khuyết của nó, chính là giới hạn của con người (hay nói cách khác, sự bất lực của con người) trong việc thu thập toàn bộ kinh nghiệm về thế giới thực tại. Chỉ có trí tuệ “thông suốt mọi sự” mới sở hữu được khối tri thức khổng lồ ấy.</p><p></p><p>Do vậy, con người phải tự bằng lòng với vốn tri thức sẵn có ở thời điểm hiện tại, với những gì được chứng minh là chân xác theo chuẩn mực “có khả năng gắn kết chặt chẽ nhất” đối với kinh nghiệm tri thức trong điều kiện hiện tại.</p><p></p><p>Những ai muốn phản bác tiêu chuẩn này sẽ tự đặt mình vào tình thế bất lợi về mặt lý luận. Rõ ràng, phản bác trực tiếp bằng cách biện minh cho cái gì đó phi kết cấu hay thiếu chặt chẽ thì thật bất hợp lý. Hơn nữa, để đề xuất một tiêu chuẩn thoả đáng hơn, người ta không thể tránh được việc vận dụng tiến trình suy lý một cách có hệ thống (biện minh cho sự phi lý là một điều vô nghĩa), chính điều này buộc người lý giải phải vận dụng yếu tố “gắn kết chặt chẽ các sự kiện” - nói cách khác, thừa nhận yếu tố ấy như một tiêu chuẩn chân lý.</p><p></p><p>Cuối cùng, vấn đề còn nằm trong vòng bàn cãi là liệu có khả năng nhiều hệ thống kết cấu, bao gồm toàn bộ kinh nghiệm tri thức của con người, tồn tại song song với nhau?</p><p></p><p>William S. Sahakan& Mabel. Sahakan- Thanh Chân dịch</p><p>Tư tưởng các triết gia vĩ đại - Nxb. Tp. Hồ Chí Minh</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Butchi, post: 6299, member: 7"] [B]9. Luật đa số (Majority rule)[/B] Lấy tiêu chuẩn số đông dựa trên nền tảng thống kê để quyết định những đề xuất cần được lựa chọn hay xác nhận. Trong các quốc gia và tổ chức dân chủ, luật đa số đầu phiếu được mọi thành viên nhìn nhận như một phương cách hiệu quả hướng đến những quyết định chung. Điều này đặc biệt đúng trong tiến trình ban hành hay thông qua những luật định có liên quan hệ đạo đức cá nhân hay cung cách ứng xử xã hội. Nói cho cùng, một cộng đồng dân chủ, được cấu thành từ nhiều bộ phận đối lập với nhau, thường buộc phải hài lòng với những quyết định theo nguyên tắc đa số. Mặc dù đa số đầu phiếu là một biện pháp dân chủ và khá hiệu quả, nó không thể được xem là một phương pháp thoả đáng nhất để xác minh chân lý. Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu một khoa học gia dựa vào luật phổ thông đầu phiếu để rút ra kết luận cho các công trình nghiên cứu của mình? Hoặc giả, một nhà thiên văn tuân thủ "nghị quyết" của công chúng về vấn đề nên ghi nhận hay loại bỏ một ngôi sao nào đó ra khỏi bản đồ thiên hà? [B]10. Tri thức nhân loại (Concensus Gentium)[/B] Có một số người tin rằng những ý kiến thuộc về tri thức chung của nhân loại bao hàm một tiêu chuẩn chân lý thoả đáng. Tri thức nhân loại, những tư tưởng và nhận thức chung của loài người, được xem là có giá trị hơn hẳn nghị quyết đa số. Theo tiêu chuẩn này, sự kiện cả nhân loại có chung một niềm tin đủ chứng minh rằng niềm tin ấy tất đúng. Mặc dù tri thức của nhân loại đã được xây dựng trên nền tảng khá vững chãi, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học; tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi nó chỉ là sự nhất trí chung đơn thuần, giá trị của nó cần được đặt thành nghi vấn. Nói cho cùng, sự nhất trí chung không chứng minh được chân lý. Thực tế, đã có một thời hầu như toàn bộ nhân loại đều tin rằng trái đất phẳng và mặt trời xoay quanh nó. [B]11. Chủ nghĩa duy thực thuần phác[/B] Theo chủ nghĩa duy thực thuần phác (Naive Realism), sự vật chỉ thực hữu khi các cảm giác thể hiện và diễn tả chúng. Các giác quan của con người khẳng định sự chân xác hay sai lầm của các đối tượng sự vật và mọi kết luận, chỉ có những đối tượng được cảm nhận trực tiếp bằng giác quan mới là chứng cứ có giá trị. “Trừ phi nhìn tận mắt, bắt tận tay”, “tôi không tin vào bất kỳ điều gì”. Lời khẳng định này là thí dụ minh hoạ cụ thể cho tiêu chuẩn duy thực như thế. Tuy nhiên, tiêu chuẩn duy thực thuần phác không phải là yếu tố kiểm chứng chân lý thoả đáng. Thực tế, các chân lý khoa học thường nằm ngoài phạm vi cảm nhận của các giác quan. Sóng ánh sáng, tia X, các phản ứng hóa học, v.v..., cũng như một số hiện tượng tự nhiên khác, vốn không cảm nhận được bằng giác quan, mặc dù chúng được kiểm chứng qua các cuộc thử nghiệm. Mặt khác, sóng âm thanh với tần số trên 20.000 chu kỳ/giây vượt ra khỏi khả năng nghe của con người, vẫn có thể được phát hiện một cách gián tiếp qua các thiết bị dò tìm. Hơn nữa, kinh nghiệm cảm giác của con người cũng có thể bị đánh lừa và tạo nên ảo tưởng. Thí dụ: Tiêu chuẩn duy thực thuần phác sẽ dẫn chúng ta đến kết luận rằng chiếc đũa thẳng sẽ hoá cong khi đặt vào trong ly nước, bởi lẽ nó thực sự bị uốn cong dưới cái nhìn của chúng ta. Hay cho sáu đầu bút chì chạm đồng thời vào một khu vực nhỏ trên lưng người sẽ tạo ra ảo giác rằng chỉ có một đầu bút chì chạm vào mà thôi. Trong trường hợp ấy, quan niệm duy thực thuần phác sẽ dẫn chúng ta đến 1 kết luận sai lầm. [B]12. Sự tương hợp[/B] Tiêu chuẩn này cho rằng một ý tưởng tương thích với đối tượng của nó thì tất đúng. Qua đó, “Nhà Trắng toạ lạc tại thủ đô Washington, D.C của Hoa Kỳ” là lời nhận định đúng nếu đối tượng được nói đến (Nhà Trắng) có vị trí thực tế phù hợp với ý kiến mà nhận định ấy nêu ra. Có vẻ như sự tương hợp (correspondence) là tiêu chuẩn thoả đáng nhất so với các tiêu chuẩn liệt kê ở trên - nhiều triết gia nhìn nhận nó là yếu tố kiểm chứng chân lý hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phản bác. Đành rằng một ý tưởng tương thích với đối tượng của nó là chân xác, nhưng làm thế nào có thể xác định được một ý tưởng thực sự tương thích với đối tượng bởi thực tại, chúng ta vẫn cần phải đến một yếu tố kiểm chứng khác, yếu tố ấy phải có khả năng phát hiện ra mức độ chính xác của sự tương hợp ấy ở những tình huống cụ thể. [B]13. Thẩm quyền (Authority)[/B] Thông thường, ý kiến của các chuyên gia, những người có học vị cao, hoặc đạt được một mức độ thành công nhất định trong một số lãnh vực chuyên môn, được nhìn nhận như dạng bằng chứng xác thực. Các chuyên gia ấy, hay giới có thẩm quyền (the authority), với khả năng nắm bắt và sự hiểu biết uyên thâm về một số vấn đề cụ thể, là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy. Họ được xem là những người có đủ năng lực lý giải chính xác những vấn đề thuộc lãnh vực chuyên môn của mình. Vì thế, ý kiến đề xuất của họ nhận được sự tôn trọng, những nhận định của họ được chấp nhận như yếu tố kiểm chứng chân lý. Tuy nhiên, thực ra không ai (kể cả họ) có thể đưa ra một lời phán quyết, chính xác và tối hậu, theo cung cách “chính tôi khẳng định như thế”. Xét cho cùng, mọi nhận định đều cần được đánh giá đúng mức. Mặc dù yếu tố thẩm quyền thường được công nhận là tiêu chuẩn kiểm chứng có giá trị và hiệu lực sử dụng khá rộng (thí dụ chân lý tối hậu). Trong nhiều trường hợp, các nguồn thông tin có thẩm quyền và đáng tin cậy đưa ra nhiều chứng cứ cũng như nhận định mâu thuẫn với nhau. [B]14. Tiêu chuẩn thực dụng (The Pragmatic Criterion of Truth)[/B] Đối với những người có chủ trương thực dụng, một ý tưởng hiệu dụng phải được nhìn nhận là ý tưởng đúng. Nói cách khác, hiệu quả thực hiện của một ý tưởng quyết định sự đúng đắn của nó. Ý tưởng phải gắn liền với thực t ế và cho ra kết quả thực tế, từ đó quá trình kiểm tra kết quả sẽ xác nhận hoặc phủ nhận chính ý tưởng ấy. Giá trị trọn vẹn của một ý tưởng có thể được phát hiện thông qua chuỗi hiệu quả phát sinh từ quá trình ứng dụng ý tưởng ấy trong thực tế. Thí dụ: Đối với lời nhận định về tầm quan trọng và hiệu lực của chất kháng sinh penicillin trong dược liệu pháp, các kết quả ứng dụng chất kháng sinh ấy trong quá trình chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn chính là bằng chứng hiệu quả và có giá trị nhất. Mặc dù chủ nghĩa thực dụng đưa ra được một tiêu chuẩn chân lý có giá trị nhất, tiêu chuẩn này cũng cần được xem xét và vận dụng với thái độ dè dặt đúng mức. Không phải mọi ý tưởng có vẻ hiệu dụng bề ngoài đều đúng cả. Thí dụ: Một y sĩ chữa khỏi cho bệnh nhân mắc chứng rối loạn thần kinh chức năng (neurosis) bằng cách sử dụng một phương thuốc đặc trị. Về sau, ông ta khám phá ra rằng việc sử dụng một loại thuốc trấn yên cũng mang đến kết quả tương tự. Có lẽ vị y sĩ ấy buộc lòng phải thừa nhận rằng phương thuốc đặc trị lúc trước không phải là tác nhân chủ yếu chữa lành bệnh, rằng kết quả chẩn đoán và quyết định ban đầu của mình là thiếu chính xác. (Cũng có thể do lòng tin hay một dạng ảnh hưởng nào đó về mặt tâm lý đã giúp bệnh nhân của ông ta hồi phục). Những trường hợp như thế cho thấy rằng đôi khi ý tưởng sai lầm cũng có thể xuất hiện như một tác nhân mang đến hiệu quả thực tế. Tuy nhiên, tiêu chuẩn thực dụng vẫn có hiệu lực và giá trị nhất định; chí ít là dạng hiệu lực đã được William Ernest Hocking giới thiệu với cái tên “Nguyên lý thực dụng tiêu cực” (Negative Pragmatism). Đại thể, nguyên lý ấy nhấn mạnh một ý tưởng vô hiệu chẳng thể nào là chân lý, bởi lẽ chân lý thì luôn hiệu dụng (mặc dù đôi khi những gì có vẻ hiệu dụng vô sản thể không phải chân lý) [B]15. Nhất quán cục bộ (Loose Consistency)[/B] Chính xác, nhưng không nhất thiết phải có liên quan với nhau, những nhận định được gọi là nhất quán cục bộ nếu chúng không mâu thuẫn với nhau. (Tương tự, một người có tính nhất quán thì không tự mâu thuẫn với chính mình). Theo lý lẽ trên, những nhận định dưới đây được xem là nhất quán cục bộ, bởi vì chúng không đối kháng nhau: - “Tuyết trắng.” - “Chì là kim loại nặng.” - “Hôm qua, nhiệt độ hạ xuống mức 200C.” - “George Washington* là vị tổng thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.” Sự bất xứng của tiêu chuẩn nhất quán cục bộ được thể hiện qua thí dụ trên. Những lời nhận định như thế không thể không liên quan gì với nhau, thiếu mạch lạc và không cấu thành một tổng thể. Xét cho cùng, giá trị của chứng cứ phải thể hiện ở các mối quan hệ có khả năng nối kết các dữ kiện riêng lẻ thành một khối thống nhất [B]16. Nhất quán tổng thể (hay Nhất quán nghiêm ngặt - Rigorous Consistency)[/B] Tiêu chuẩn này phản ánh mối liên kết giữa các nhận định, trong đó những dữ kiện được đưa ra kết thành một chuỗi mắt xích gắn bó mật thiết với nhau. Phương pháp luận toán học và cơ sở luận lý học thể hiện rõ tiêu chuẩn này. Thí dụ: • Nếu mọi thành viên trong ban giám hiệu nhà trường được xem là giáo viên, và nếu thầy Hưng là một thành viên trong ban giám hiệu nhà trường, chắc chắn thầy Hưng cũng phải được xem là một giáo viên. • Nếu mọi cá thể A đều thuộc nhóm B và mọi nhóm B đều thuộc tập hợp C, dứt khoát mọi cá thể A phải thuộc tập hợp C. Giá trị của tiêu chuẩn nhất quán tổng thể là không thể bàn cãi. Tuy nhiên, khả năng áp dụng tiêu chuẩn này bị giới hạn ở một số lãnh vực nhất định. Thực tế, những tiền đề của nó vốn có sẵn. Điều đó có nghĩa là để phân định sự chính xác của chúng, ta cần sử dụng đến một hay nhiều tiêu chuẩn kiểm chứng chân lý khác. Hơn nữa, một ý kiến phản bác khác còn nhấn mạnh rằng một tập hợp kết luận mang tính triết học, mặc dù thoả mãn tính nhất quán tổng thể, vẫn có thể bộc lộ sự thiếu chặt chẽ. Đôi khi, một hệ thống triết học chỉ có thể duy trì tính nhất quán tổng thể trong khuôn khổ những sự kiện được đưa ra để cân nhắc. Trong khi đó, một tiêu chuẩn hoàn hoả phải thoả mãn mọi sự kiện đề ra, kể cả các sự kiện mới phát sinh có tác động bất lợi đối với tính nhất quán tổng thể vốn có của nó. [B]17. Kết cấu chặt chẽ[/B] Xét trên phương diện của một tiêu chuẩn chân lý, kết cấu chặt chẽ nói đến sự lý giả nhất quán và có tính hệ thống đối với toàn bộ sự kiện thuộc về kinh nghiệm và tri thức. Để đảm bảo tiêu chuẩn này, người ta phải sắp xếp tất cả các sự kiện vào đúng vị trí, sao cho chúng thể hiện được mối tương quan với nhau một cách nhất quán và chặt chẽ như những bộ phận hữu cơ của một tổng thể thống nhất. Bất kỳ sự kiện nào được đề cập đến phải được lý giải thoả đáng, được đặt vừa khớp trong hệ thống tổng thể ấy. Chỉ những cách lý giải nào thoả mãn tối đa các yêu cầu của kết cấu tổng thể mới có thể được xem là thoả đáng. Trong số các tiêu chuẩn được đề cập đến ở trên, kết cấu chặt chẽ là yếu tố thoả mãn các yêu cầu kiểm chứng chân lý một cách đầy đủ nhất. Nó bao hàm các đặc tính cần thiết: lý lẽ, hệ thống, tổng thể, tương quan và nhất quán. Rõ ràng, giới hạn của tiêu chuẩn này, không thuộc về khiếm khuyết của nó, chính là giới hạn của con người (hay nói cách khác, sự bất lực của con người) trong việc thu thập toàn bộ kinh nghiệm về thế giới thực tại. Chỉ có trí tuệ “thông suốt mọi sự” mới sở hữu được khối tri thức khổng lồ ấy. Do vậy, con người phải tự bằng lòng với vốn tri thức sẵn có ở thời điểm hiện tại, với những gì được chứng minh là chân xác theo chuẩn mực “có khả năng gắn kết chặt chẽ nhất” đối với kinh nghiệm tri thức trong điều kiện hiện tại. Những ai muốn phản bác tiêu chuẩn này sẽ tự đặt mình vào tình thế bất lợi về mặt lý luận. Rõ ràng, phản bác trực tiếp bằng cách biện minh cho cái gì đó phi kết cấu hay thiếu chặt chẽ thì thật bất hợp lý. Hơn nữa, để đề xuất một tiêu chuẩn thoả đáng hơn, người ta không thể tránh được việc vận dụng tiến trình suy lý một cách có hệ thống (biện minh cho sự phi lý là một điều vô nghĩa), chính điều này buộc người lý giải phải vận dụng yếu tố “gắn kết chặt chẽ các sự kiện” - nói cách khác, thừa nhận yếu tố ấy như một tiêu chuẩn chân lý. Cuối cùng, vấn đề còn nằm trong vòng bàn cãi là liệu có khả năng nhiều hệ thống kết cấu, bao gồm toàn bộ kinh nghiệm tri thức của con người, tồn tại song song với nhau? William S. Sahakan& Mabel. Sahakan- Thanh Chân dịch Tư tưởng các triết gia vĩ đại - Nxb. Tp. Hồ Chí Minh [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Các tiêu chuẩn xác định chân lý
Top