Trang Dimple
Moderator
- Xu
- 428
Sang thế kỉ XIX tình hình Châu Á và khu vực Đông Nam Á có nhiều biến động, trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây.Trong bối cảnh đó Lịch sử Việt Nam sẽ chịu tác động và diễn ra theo chiều hướng nào? Nhà nước Phong kiến có đối sách như thế nào và nhân dân ta có thái dộ và hành động ra sao để đương đầu với những thử thách to lớn của lịch sử ? Bài học Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Xâm Lược từ năm 1858- đến năm 1884 sẽ giúp các bạn học sinh lớp 8 trả lời các câu hỏi trên. Quá Trình Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam ( 1858-1884) và nguyên nhân, một số nội dung chính trong các đề nghị cải cách của các quan lại, sĩ phu yêu nước là gì
BÀI 17 : CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1884
1. Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp từ năm 1858 đến năm 1874.
* Nguyên nhân dẫn đến Pháp Xâm lược Việt Nam:
Sang thế kỉ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước phương Tây phát triển mạnh, nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nhân lực khiến các nước này đẩy mạnh xâm chiếm các nước phương Đông. Trong bối cảnh đó, do Việt Nam có vị trí chiến lược, giàu tài nguyên và nhân công nên cũng trở thành đối tượng xâm lược của thực dân phương Tây.
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX nhà Nguyễn suy vong thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại bảo thủ đặc biệt là chính sách đối ngoại ở đầu thế kỉ XX, Pháp đang có âm mưu xâm lược nước ta thì nhà Nguyễn lại thi hành chính sách “bế quan toả cảng”, “cấm đạo giết đạo” tạo điều kiện cho Pháp lấy cớ để xâm lược. Từ khi Anh gạt Pháp khỏi Ấn Độ (1822) và thời kì đế chế II (1852) khi Na-pô-nê-ông III lên ngôi. Để thực hiện ý đồ xâm lược của mình Pháp sử dụng các phần tử công giáo phản động đi trước 1 bước.
- Sau nhiều lần khiêu khích lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô Pháp đem quân xâm lược VN.
a.Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng và Nam Kì (1858-1862).
- Chiến sự ở Đà Nẵng (tháng 9/1858 - tháng 2/1862):
+ Chiều ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban mở cuộc tấn công Đà Nẵng.
+ Quân dân Đà Nẵng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương kháng cự quyết liệt, bước đầu làm thất bại âm mưu: “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp.
- Chiến sự ở Đông Nam Kì (tháng 2/1859 - tháng 6/1862):
+ Ngày 17/2/1859, quân Pháp tấn công và nhanh chóng chiếm được thành Gia Định và đánh rộng ra.
+ Quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã. Trong khi đó nhân dân địa phương đã tự động nổi lên đánh giặc.
+ Thực dân Pháp để lại khoảng 1000 quân làm nhiệm vụ canh giữ phòng tuyến dài khoảng 10km ở Gia Định.
+ Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân dân xây dựng đại đồn Chí Hoà và tổ chức phòng thủ.
+ Ngày 24/02/1861 đại quân Pháp tập trung mở cuộc tấn công đại đồn Chí Hoà và mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền đông Nam Kì.
+ Quân triều đình kháng cự quyết liệt, nhưng không cản được giặc. Đại đồn Chí Hoà thất thủ.
+ Phong trào kháng chiến của nhân dân vẫn tiếp diễn sôi nổi,nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy tàu Ét pê răng ( Hi Vọng) của quân Pháp trên sông Nhật Tảo( 12/1861)
+ Cuối tháng 3 đại quân Pháp tiếp tục chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, Vĩnh Long. +Triều đình nhà Nguyễn Kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất (Tháng 6/1862)
- Hậu quả của Hiệp ước Nhâm Tuất:
+ Nền độc lập, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng, do nhà Nguyễn thừa nhận quyền cai trị của thực dân Pháp ở 3 tỉnh Đông Nam Á và đảo Côn Lôn.
+ Kinh tế đất nước suy kiệt do nhà Nguyễn chấp nhận bồi thường 280 vạn lạng bạc cho thực dân Pháp.
+ Thực dân Pháp có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện các bước xâm lược tiếp theo.
=> Như vậy, việc kí kết Hiệp ước Nhâm Tuất đã mở đầu cho quá trình hòa hoãn, đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước thực dân Pháp xâm lược; đồng thời, gây nên sự bất bình sâu sắc trong nhân dân Việt Nam.
b.Nhân dân Nam Kì tiếp tục kháng chiến ( 1862-1874).
+ Sau hiệp ước Nhâm Tuất, triều đình Huế tập trung lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Bắc kì và Trung kì, ngăn cản phong trào kháng chiến của Nhân dân ở Nam kì.
+ Lợi dụng sự bạc nhược đó năm 1867,thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kì.
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp diễn ngày càng mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Trung Trực,Trương Định…
2. Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lan rộng ra cả nước ( 1873-1884)
a.Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ nhất ( 1873-1874)
* Âm mưu của Pháp đánh ra Bắc Kì.
- Xâm chiếm cả nước ta, khai thác vơ vét tài nguyên… phục vụ cho sự phát triển kinh tế TBCN Pháp.
- Làm bàn đạp tấn công xâm lược vào Trung Quốc.
- Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-puy, Pháp cử Gác-ni-ê đem 200 quân ra Bắc.
* Diễn biến:
- Tháng 11/1873, thực dân Pháp cử Ph.Gác-ni-ê đưa quân ra bắc chiếm thành Hà Nội.
-Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy binh sĩ anh dũng chống cự.
- Ph.Gác-ni-ê cho quân đánh chiếm nhiều tỉnh thành vùng đồng bằng Sông Hồng.
- Quân dân ta ở khắp nơi đã nổi lên kháng chiến như: ở cửa ô Thanh Hà (Hà Nội), các đội nghĩa binh dưới sự lãnh đạo của cha con Nguyễn Mậu Kiến( Thái Bình) , Phạm Văn Nghị (Nam Định)…
- Ngày 21/12/1873 Khi Pháp đánh ra Cầu Giấy, quân dân HN phối hợp với quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích, chặn đánh địch tại Cầu Giấy, Gac-ni-ê bị giết-> quân Pháp vô cùng hoang mang dao động.
- Năm 1874 triều đình Huế kí với Pháp bản hiệp ước Giáp Tuất, thừa nhận chủ quyền của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kì và nhiều điều khoản bất lợi khác.
*Nhận xét về Hiệp ước Giáp Tuất:
+ Hiệp ước Giáp Tuất đánh dấu bước trượt dài tiếp theo (sau Hiệp ước Nhâm Tuất) của nhà Nguyễn trên con đường thỏa hiệp, đầu hàng trước thực dân Pháp xâm lược.
+ Các điều khoản trong Hiệp ước Giáp Tuất, đặc biệt là điều khoản: nhà Nguyễn công nhận quyền cai quản của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kì,… đã tiếp tục xâm phạm nghiêm trọng đến lãnh thổ, chủ quyền và quyền lợi của dân tộc Việt Nam.
+ Với Hiệp ước Giáp Tuất, thực dân Pháp tuy phải rút quân khỏi Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì, song, Pháp vẫn có điều kiện tiếp tục xây dựng cơ sở để thực hiện các bước xâm lược về sau.
+ Việc triều đình ngày Nguyễn kí bản Hiệp ước Giáp Tuất, cắt thêm đất dâng cho Pháp và công nhận thêm nhiều đặc quyền đặc lợi của chúng ở Việt Nam đã gây nên sự bất bình sâu sắc trong nhân dân Việt Nam. Nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình kết hợp với chống thực dân Pháp đã bùng nổ, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Tuấn và Đặng Như Mai với khẩu hiệu “Dập dìu trống đánh cờ xiêu/ Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”,...
b. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai ( 1882-1884)
**Nguyên nhân quân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai:
* Tình hình nước ta:
+ Nhà nước phong kiến khủng hoảng mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội…
+ Nhiều cuộc đấu tranh nhân dân nổ ra phản đối triều đình.
* Pháp:
+ CNTB Pháp trên đà phát triển mạnh, cần nguyên liệu, nhiên liệu…
+ Lấy cớ triều Nguyễn vi phạm hiệp ước 1874, quân Pháp do Rivie chỉ huy tiến đánh Bắc Kì.
*Diễn biến:
- 3/4/1882 quân Pháp chiếm thành Hà Nội.
- Quân ta anh dũng chống trả nhưng thất bại.Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết.
- Quân Pháp đánh chiếm nhiều tỉnh thành khác.
- Ngày 19/5/1883 quân Pháp do H.Rivie chỉ huy đánh ra cầu Giấy.
- Quân ta phục kích và tiêu diệt H.Rivie, giành thắng lợi trong trận Cầu Giấy lần thứ hai.
- Chiều 18/8/1883 Pháp mở cuộc tấn công vào cửa biển Thuận An.
- Triều đình Huế hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp.
- Ngày 6/6/1884 thực dân Pháp kí với triều đình nhà Nguyễn hiệp ước Pa tơ nôt, chính thức đặt quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam.
- Nhân dân vẫn tiếp tục nổi dậy kháng chiến ở khắp mọi nơi.
Nhận xét:
+ Việc kí kết hiệp ước Hác-măng và Pa-tơ-nốt đã cho thấy thái độ đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trước thực dân Pháp xâm lược.
+ Với Hiệp ước ước Hác-măng và Pa-tơ-nốt, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam; Việt Nam từ một quốc gia độc lập, có chủ quyền đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
3. Trào lưu cải cách nửa sau TK XIX
- Nguyên nhân đề xuất:
+ Ở nửa sau thế kỉ XIX, triều Nguyễn lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, đất nước suy yếu, lại phải lo đối phó với cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
+ Một số quan lại, sĩ phu thức thời đã nhận thức rõ sự bảo thủ của triều đình nên đã mạnh dạn đem kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân xây dựng các bản điều trần gửi lên triều đình Huế đề nghị thực hiện cải cách.
* Kết cục: Những cải cách không được nhà Nguyễn chấp nhận.
* Nguyên nhân:
+ Cải cách rời rạc, lẻ tẻ. Nhà Nguyễn bảo thủ.
+ Chưa xuất phát từ cơ sở trong nước.
* Ý nghĩa:
- Tấn công vào tư tưởng bảo thủ của triều đình
- Thể hiện trình độ nhận thức của người Việt Nam.
- Chuẩn bị cho trào lưu Duy Tân mới ra đời đầu thế kỉ XX.
BÀI 17 : CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1884
1. Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp từ năm 1858 đến năm 1874.
* Nguyên nhân dẫn đến Pháp Xâm lược Việt Nam:
Sang thế kỉ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước phương Tây phát triển mạnh, nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nhân lực khiến các nước này đẩy mạnh xâm chiếm các nước phương Đông. Trong bối cảnh đó, do Việt Nam có vị trí chiến lược, giàu tài nguyên và nhân công nên cũng trở thành đối tượng xâm lược của thực dân phương Tây.
Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX nhà Nguyễn suy vong thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại bảo thủ đặc biệt là chính sách đối ngoại ở đầu thế kỉ XX, Pháp đang có âm mưu xâm lược nước ta thì nhà Nguyễn lại thi hành chính sách “bế quan toả cảng”, “cấm đạo giết đạo” tạo điều kiện cho Pháp lấy cớ để xâm lược. Từ khi Anh gạt Pháp khỏi Ấn Độ (1822) và thời kì đế chế II (1852) khi Na-pô-nê-ông III lên ngôi. Để thực hiện ý đồ xâm lược của mình Pháp sử dụng các phần tử công giáo phản động đi trước 1 bước.
- Sau nhiều lần khiêu khích lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô Pháp đem quân xâm lược VN.
a.Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng và Nam Kì (1858-1862).
- Chiến sự ở Đà Nẵng (tháng 9/1858 - tháng 2/1862):
+ Chiều ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban mở cuộc tấn công Đà Nẵng.
+ Quân dân Đà Nẵng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương kháng cự quyết liệt, bước đầu làm thất bại âm mưu: “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp.
- Chiến sự ở Đông Nam Kì (tháng 2/1859 - tháng 6/1862):
+ Ngày 17/2/1859, quân Pháp tấn công và nhanh chóng chiếm được thành Gia Định và đánh rộng ra.
+ Quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã. Trong khi đó nhân dân địa phương đã tự động nổi lên đánh giặc.
+ Thực dân Pháp để lại khoảng 1000 quân làm nhiệm vụ canh giữ phòng tuyến dài khoảng 10km ở Gia Định.
+ Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân dân xây dựng đại đồn Chí Hoà và tổ chức phòng thủ.
+ Ngày 24/02/1861 đại quân Pháp tập trung mở cuộc tấn công đại đồn Chí Hoà và mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền đông Nam Kì.
+ Quân triều đình kháng cự quyết liệt, nhưng không cản được giặc. Đại đồn Chí Hoà thất thủ.
+ Phong trào kháng chiến của nhân dân vẫn tiếp diễn sôi nổi,nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy tàu Ét pê răng ( Hi Vọng) của quân Pháp trên sông Nhật Tảo( 12/1861)
+ Cuối tháng 3 đại quân Pháp tiếp tục chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, Vĩnh Long. +Triều đình nhà Nguyễn Kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất (Tháng 6/1862)
- Hậu quả của Hiệp ước Nhâm Tuất:
+ Nền độc lập, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng, do nhà Nguyễn thừa nhận quyền cai trị của thực dân Pháp ở 3 tỉnh Đông Nam Á và đảo Côn Lôn.
+ Kinh tế đất nước suy kiệt do nhà Nguyễn chấp nhận bồi thường 280 vạn lạng bạc cho thực dân Pháp.
+ Thực dân Pháp có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện các bước xâm lược tiếp theo.
=> Như vậy, việc kí kết Hiệp ước Nhâm Tuất đã mở đầu cho quá trình hòa hoãn, đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước thực dân Pháp xâm lược; đồng thời, gây nên sự bất bình sâu sắc trong nhân dân Việt Nam.
b.Nhân dân Nam Kì tiếp tục kháng chiến ( 1862-1874).
+ Sau hiệp ước Nhâm Tuất, triều đình Huế tập trung lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Bắc kì và Trung kì, ngăn cản phong trào kháng chiến của Nhân dân ở Nam kì.
+ Lợi dụng sự bạc nhược đó năm 1867,thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kì.
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp diễn ngày càng mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Trung Trực,Trương Định…
2. Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lan rộng ra cả nước ( 1873-1884)
a.Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ nhất ( 1873-1874)
* Âm mưu của Pháp đánh ra Bắc Kì.
- Xâm chiếm cả nước ta, khai thác vơ vét tài nguyên… phục vụ cho sự phát triển kinh tế TBCN Pháp.
- Làm bàn đạp tấn công xâm lược vào Trung Quốc.
- Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-puy, Pháp cử Gác-ni-ê đem 200 quân ra Bắc.
* Diễn biến:
- Tháng 11/1873, thực dân Pháp cử Ph.Gác-ni-ê đưa quân ra bắc chiếm thành Hà Nội.
-Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy binh sĩ anh dũng chống cự.
- Ph.Gác-ni-ê cho quân đánh chiếm nhiều tỉnh thành vùng đồng bằng Sông Hồng.
- Quân dân ta ở khắp nơi đã nổi lên kháng chiến như: ở cửa ô Thanh Hà (Hà Nội), các đội nghĩa binh dưới sự lãnh đạo của cha con Nguyễn Mậu Kiến( Thái Bình) , Phạm Văn Nghị (Nam Định)…
- Ngày 21/12/1873 Khi Pháp đánh ra Cầu Giấy, quân dân HN phối hợp với quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và Hoàng Tá Viêm phục kích, chặn đánh địch tại Cầu Giấy, Gac-ni-ê bị giết-> quân Pháp vô cùng hoang mang dao động.
- Năm 1874 triều đình Huế kí với Pháp bản hiệp ước Giáp Tuất, thừa nhận chủ quyền của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kì và nhiều điều khoản bất lợi khác.
*Nhận xét về Hiệp ước Giáp Tuất:
+ Hiệp ước Giáp Tuất đánh dấu bước trượt dài tiếp theo (sau Hiệp ước Nhâm Tuất) của nhà Nguyễn trên con đường thỏa hiệp, đầu hàng trước thực dân Pháp xâm lược.
+ Các điều khoản trong Hiệp ước Giáp Tuất, đặc biệt là điều khoản: nhà Nguyễn công nhận quyền cai quản của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kì,… đã tiếp tục xâm phạm nghiêm trọng đến lãnh thổ, chủ quyền và quyền lợi của dân tộc Việt Nam.
+ Với Hiệp ước Giáp Tuất, thực dân Pháp tuy phải rút quân khỏi Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì, song, Pháp vẫn có điều kiện tiếp tục xây dựng cơ sở để thực hiện các bước xâm lược về sau.
+ Việc triều đình ngày Nguyễn kí bản Hiệp ước Giáp Tuất, cắt thêm đất dâng cho Pháp và công nhận thêm nhiều đặc quyền đặc lợi của chúng ở Việt Nam đã gây nên sự bất bình sâu sắc trong nhân dân Việt Nam. Nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình kết hợp với chống thực dân Pháp đã bùng nổ, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Tuấn và Đặng Như Mai với khẩu hiệu “Dập dìu trống đánh cờ xiêu/ Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”,...
b. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai ( 1882-1884)
**Nguyên nhân quân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai:
* Tình hình nước ta:
+ Nhà nước phong kiến khủng hoảng mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội…
+ Nhiều cuộc đấu tranh nhân dân nổ ra phản đối triều đình.
* Pháp:
+ CNTB Pháp trên đà phát triển mạnh, cần nguyên liệu, nhiên liệu…
+ Lấy cớ triều Nguyễn vi phạm hiệp ước 1874, quân Pháp do Rivie chỉ huy tiến đánh Bắc Kì.
*Diễn biến:
- 3/4/1882 quân Pháp chiếm thành Hà Nội.
- Quân ta anh dũng chống trả nhưng thất bại.Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết.
- Quân Pháp đánh chiếm nhiều tỉnh thành khác.
- Ngày 19/5/1883 quân Pháp do H.Rivie chỉ huy đánh ra cầu Giấy.
- Quân ta phục kích và tiêu diệt H.Rivie, giành thắng lợi trong trận Cầu Giấy lần thứ hai.
- Chiều 18/8/1883 Pháp mở cuộc tấn công vào cửa biển Thuận An.
- Triều đình Huế hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp.
- Ngày 6/6/1884 thực dân Pháp kí với triều đình nhà Nguyễn hiệp ước Pa tơ nôt, chính thức đặt quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam.
- Nhân dân vẫn tiếp tục nổi dậy kháng chiến ở khắp mọi nơi.
Nhận xét:
+ Việc kí kết hiệp ước Hác-măng và Pa-tơ-nốt đã cho thấy thái độ đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trước thực dân Pháp xâm lược.
+ Với Hiệp ước ước Hác-măng và Pa-tơ-nốt, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam; Việt Nam từ một quốc gia độc lập, có chủ quyền đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
3. Trào lưu cải cách nửa sau TK XIX
- Nguyên nhân đề xuất:
+ Ở nửa sau thế kỉ XIX, triều Nguyễn lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, đất nước suy yếu, lại phải lo đối phó với cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
+ Một số quan lại, sĩ phu thức thời đã nhận thức rõ sự bảo thủ của triều đình nên đã mạnh dạn đem kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân xây dựng các bản điều trần gửi lên triều đình Huế đề nghị thực hiện cải cách.
Thời gian | Người đề xuất | Nội dung đề nghị |
Từ năm 1863 đến năm 1871 | Nguyễn Trường Tộ | đề nghị chấn chỉnh bộ máy quan lại, phát triển công thương, tài chính, chỉnh đốn võ bị, ngoại giao, cải tổ giáo dục. |
Năm 1868 | Trần Đình Túc, Phạm Huy Tế, Đinh Văn Điền | đề nghị triều đình mở cửa biển Trà Lý (Nam Định), đẩy mạnh khai hoang, khai mỏ, mở mang thương nghiệp, củng cố quốc phòng. |
Năm 1873 | Viện Thương Bạc | đề nghị mở ba cửa biển ở miền Bắc và miền Trung để phát triển ngoại thương. |
Vào các năm 1877 và 1882, | Nguyễn Lộ Trạch | gửi các bản "Thời vụ sách" lên vua Tự Đức, đề nghị chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, bảo vệ đất nước. |
* Kết cục: Những cải cách không được nhà Nguyễn chấp nhận.
* Nguyên nhân:
+ Cải cách rời rạc, lẻ tẻ. Nhà Nguyễn bảo thủ.
+ Chưa xuất phát từ cơ sở trong nước.
* Ý nghĩa:
- Tấn công vào tư tưởng bảo thủ của triều đình
- Thể hiện trình độ nhận thức của người Việt Nam.
- Chuẩn bị cho trào lưu Duy Tân mới ra đời đầu thế kỉ XX.
Sửa lần cuối: