Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Xã hội công dân và xã hội dân sự: từ Arixtot đến Hêghen
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Butchi" data-source="post: 2862" data-attributes="member: 7"><p>Cộng đồng chính trị hay polis, không những bao gồm các hoạt động chính trị của công dân, mà còn là một chỉnh thể hữu cơ bao trùm lên mọi khía cạnh khác của cuộc sống của công dân Hy Lạp cổ. Như Heidegger đã nhận xét, polis bao gồm cả “các vị thần và đền miếu, các lễ hội và trò diễn, các vị lãnh đạo chính trị và hội đồng các trưởng lão, hội đồng công dân và quân đội, các tướng lĩnh bộ binh và hải quân, các nhà thơ và nhà tư tưởng…”. Vì vậy, “chúng ta không thể quy polis là một nhà nước dân sự như thường thấy ở thế kỷ XIX được” (4). Như Andrew Lookyer đã giải thích rằng, từ gốc từ polis, người Hy Lạp còn có politeia (hiến pháp), polites (công dân), politeuma (cơ quan điều hành) và politicos (chính trị gia). Hiến pháp chính là “linh hồn của polis” (5), vì nó quy định các tổ chức của polis, chỉ ra đường lối cụ thể để đạt đến cuộc sống toàn thiện, đồng thời định đoạt ai là công dân của polis và quy định quyền lợi cũng như nghĩa vụ của họ. Các nhà lãnh đạo chính trị cũng theo hiến pháp mà điều hành polis, giúp mọi người hoàn thiện và đạt đến cuộc sống phúc lành. Như vậy, có thể hiểu polis là một xã hội được tổ chức theo hiến pháp (hay một cách chính trị, có sự tham gia tích cực của các công dân). Ở đây, dường như khái niệm nhà nước và xã hội hiện đại không tách rời nhau.</p><p></p><p>Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong xã hội Hy Lạp cổ đại không phải tất cả mọi người đều là công dân, mà công dân chỉ bao gồm những người đàn ông trưởng thành, có giáo dục và thường là người chủ trong gia đình. Phụ nữ, trẻ em, nô lệ và người nước ngoài không phải là công dân của thành -bang. Họ bị giới hạn trong lĩnh vực kinh tế (gia đình), lĩnh vực tư và chịu sự cai quản của người đàn ông chứ không có quyền được tham gia vào đời sống chính trị, lĩnh vực công của cộng đồng. Đây cũng chính là những nét hạn chế của quan niệm cộng đồng chính trị Hy Lạp cổ bị các nhà triết học nữ quyền phê phán mạnh mẽ. </p><p></p><p><strong>2. Tư tưởng về xã hội dân sự thời cận đại</strong></p><p></p><p>Nếu như trong đời sống của Hy Lạp cổ đại kinh tế chỉ được coi là lĩnh vực tư, bó hẹp trong gia đình thì cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh tế đã vượt ra khỏi lĩnh vực tư trong gia đình và thâm nhập vào lĩnh vực công của đời sống xã hội. Từ chỗ kinh tế là nghệ thuật điều hành gia đình và chỉ nhằm mục đích đảm bảo cung cấp và thỏa mãn các nhu cầu thiết của con người hoạt động kinh tế đã hướng tới sản xuất hàng hóa để trao đổi và làm giàu. Kinh tế đã dần dần trở thành “kinh tế xã hội” và “kinh tế chính trị”, một nghệ thuật quản lý đời sống kinh tế của một quốc gia. Đặc biệt, sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa ở phương Tây đã dẫn đến sự thay đổi quan niệm về quan hệ gia đình, xã hội và nhà nước: cái tư đã dần dần lấn át cái công. Các khía cạnh chính trị, tôn giáo, văn hóa và kinh tế được tách biệt ra. “Cộng đồng chính trị” được thay thế bằng các lĩnh vực đời sống văn hóa, chính trị, tôn giáo và kinh tế khá tách bạch trong xã hội trung và cận đại ở phương Tây. Trong bối cảnh đó, khái niệm dân sự được hình thành. Theo cách nhìn thuần túy về mặt kinh tế thì xã hội dân sự là một hình thức “khế ước xã hội”, được lập ra để bảo vệ quyền tư hữu và lợi ích tư của các cá thể theo đuổi các lợi ích tư của mình.</p><p></p><p>Trong quan niệm của J.Locke, xã hội dân sự (civil society), hầu như đồng nghĩa với xã hội chính trị (political society), là hình thức tổ chức xã hội văn minh và đối lập với trạng thái tự nhiên dã man. Trong Lá thư bàn về khoan dung, J.Locke đã nói rằng xã hội (dân sự) không chỉ là lĩnh vực theo đuổi các lợi ích kinh tế mang tính cá nhân một cách hòa bình và có pháp luật, mà còn là lĩnh vực bao gồm nhà thờ và dư luận mà nhà nước chỉ có thể điều hành hay can thiệp vì mục đích “lợi ích công”. Những ý tưởng về xã hội dân sự của Locke đã được A.Smith và A.Ferguson phát triển và lý giải theo 2 cách khác nhau.</p><p></p><p>Phát triển tiếp khái niệm về xã hội như một lĩnh vực tự chủ của các hoạt động kinh tế và hợp tác dân sự của J.Locke, trong Của cải của các dân tộc, A.Smith đã đưa ra luận thuyết về liên kết xã hội thông qua các hoạt động kinh tế của các cá nhân. Theo A.Smith, trong một xã hội định hướng theo thị trường có sự phân công lao động hợp lý các hoạt động kinh tế theo đuổi các mục đích tư lợi sẽ dẫn đến sự hợp tác xã hội và làm tăng của cải xã hội, các hoạt động kinh tế tư lợi này dường như được điều khiển bởi một ‘bàn tay vô hình”. Ở đây, A.Smith muốn nhấn mạnh đến tính độc lập của lĩnh vực kinh tế so với các lĩnh vực chính trị, tôn giáo và văn hóa. Tư tưởng của A.Smith về xã hội dân sự nhấn mạnh đến tính độc lập của hoạt động kinh tế và giảm thiểu vai trò của nhà nước là cơ sở cho học thuyết tự do và tân tự do về xã hội dân sự. Theo quan điểm này thì vai trò của nhà nước và cộng đồng, các yếu tố văn hóa và chính trị trở thành thứ yếu. Quan điểm này khẳng định thị trường có đặc tính điều tiết tự nhiên (bàn tay vô hình) nên các lĩnh vực khác của xã hội, trước tiên là chính trị, phải tôn trọng, phục tùng quy luật của thị trường tự do. Cũng cần phải thấy rằng, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa là sự ra đời của tầng lớp tư sản và xuất hiện nhu cầu bảo vệ tài sản của tầng lớp đó. Các quyền lợi kinh tế cá nhân được đề cao dẫn đến việc đời sống cá nhân được coi trọng hơn đời sống công dân. Cộng đồng chính trị, nơi mà trước kia trong xã hội Hy Lạp cổ đại các hoạt động chính trị và văn hóa đóng vai trò chủ đạo, con người chỉ quan tâm đến lợi ích công của cả cộng đồng, đã bị xã hội dân sự tư sản, vốn chỉ coi trọng lợi ích, quyền lợi và tài sản cá nhân (tư sản), lấn lướt. Quan điểm về xã hội dân sự mang nặng tính kinh tế này chính là cơ sở để nhiều người đồng nhất xã hội dân sự (civil society) với xã hội tư sản (bourgeois) hơn là “xã hội dân chính” hay “xã hội công dân” (civic or civilis). </p><p></p><p>Tuy nhiên, quan điểm của A.Smith đã bị A.Ferguson phản đối. Trong Luận về lịch sử xã hội dân sự viết năm 1767, A.Ferguson nêu rõ rằng xã hội dân sự, với tư cách là một xã hội văn minh của các công dân, không thể thịnh vượng được nếu như các nhu cầu và lợi ích thuần túy về thương mại và kinh tế lấn át đức hạnh cá nhân và “tinh thần công” (public spirit). Theo A.Ferguson, xã hội là một lĩnh vực văn hóa đạo đức nơi mà công dân quyết định vận mệnh của cộng đồng chính trị của họ, đó cũng là nơi những đức hạnh thiết yếu cho tự do được phát triển. Quan điểm này được Montesquieu chia sẻ trong Tinh thần pháp luật viết năm 1748. Theo Montesquieu, xã hội dân sự là lĩnh vực trung giới giữa quyền lực chính trị (nhà nước) và công dân. Nhà nước và luật pháp ra đời không phải chỉ để bảo vệ các lợi ích tư và tài sản của cá nhân, mà là nhằm tạo điều kiện cho công dân hoàn thiện và phát triển. Công bằng xã hội không phải là kết quả do sự phát triển tự do của phát triển kinh tế (thị trường) đem lại, mà nó được thiết lập bởi các yếu tố và yêu cầu đạo đức cũng như những mục tiêu chính trị của cả cộng đồng trong sự phát triển lịch sử của mình. Chỉ khi công dân ý thức được rằng điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của mình, quyền lợi của mình được quy định bởi bối cảnh tự nhiên, văn hóa và xã hội của cộng đồng nơi họ sinh ra thì công dân mới sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân (private interests) của mình vì phúc lợi công của cộng đồng (the public good). Trong nhà nước cộng hòa như vậy, luật pháp không phải là ý muốn tùy tiện của nhà cầm quyền, mà nó phải dựa vào tập quán (moeurs), môi trường xã hội, tôn giáo, thương mại… cụ thể của đất nước (6).</p><p></p><p><strong>3. Hêghen và xã hội dân sự</strong></p><p></p><p>Có thể thấy, một bước tiến rất đáng ghi nhận về khái niệm xã hội dân sự trong hệ thống triết học chính trị của Hêghen. Trong Triết học pháp quyền, Hêghen coi xã hội dân sự như một mắt xích trong cấu trúc hữu cơ của đời sống đạo đức (ethical life). Đời sống đạo đức bao gồm 3 yếu tố là gia đình, xã hội dân sự và nhà nước. Đây cũng là 3 giai đoạn thiết yếu trong sự phát triển của tự do. Khái niệm đời sống đạo đức của Hêghen chính là sự kế thừa khái niệm Ethos của Arixtốt nhưng được phát triển và mở rộng hơn với việc thừa nhận vai trò của kinh tế trong đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của con người. </p><p></p><p>Trong tư tưởng của Arixtốt, kinh tế thuộc về lĩnh vực tư, trong phạm vi gia đình và bị chi phối bởi các nhu cầu thiết yếu cũng như các lợi ích cá nhân (đồng nghĩa với lợi ích kinh tế), còn đời sống chính trị của cộng đồng (polis) là lĩnh vực công, lĩnh vực của các công dân tự do. Khi tham gia vào đời sống chính trị (lĩnh vực công), các công dân của cộng đồng (polis) vừa “tự do” trước những nhu cầu thiết yếu của lĩnh vực tư, vừa nhận được cơ hội để “tự do” hoàn thiện nhân cách của mình và cùng nhau vươn tới một cuộc sống phúc lành (good life). Tuy nhiên, Hêghen nhận thấy những hạn chế mang tính lịch sử(7) của mô hình cộng đồng chính trị của các triết gia Hy Lạp cổ đại trong việc loại trừ vai trò của hoạt động kinh tế trong đời sống chính trị của cộng đồng(8). Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa - nền kinh tế có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, lợi ích cá nhân đóng vai trò động lực cho sự phát triển này.</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Butchi, post: 2862, member: 7"] Cộng đồng chính trị hay polis, không những bao gồm các hoạt động chính trị của công dân, mà còn là một chỉnh thể hữu cơ bao trùm lên mọi khía cạnh khác của cuộc sống của công dân Hy Lạp cổ. Như Heidegger đã nhận xét, polis bao gồm cả “các vị thần và đền miếu, các lễ hội và trò diễn, các vị lãnh đạo chính trị và hội đồng các trưởng lão, hội đồng công dân và quân đội, các tướng lĩnh bộ binh và hải quân, các nhà thơ và nhà tư tưởng…”. Vì vậy, “chúng ta không thể quy polis là một nhà nước dân sự như thường thấy ở thế kỷ XIX được” (4). Như Andrew Lookyer đã giải thích rằng, từ gốc từ polis, người Hy Lạp còn có politeia (hiến pháp), polites (công dân), politeuma (cơ quan điều hành) và politicos (chính trị gia). Hiến pháp chính là “linh hồn của polis” (5), vì nó quy định các tổ chức của polis, chỉ ra đường lối cụ thể để đạt đến cuộc sống toàn thiện, đồng thời định đoạt ai là công dân của polis và quy định quyền lợi cũng như nghĩa vụ của họ. Các nhà lãnh đạo chính trị cũng theo hiến pháp mà điều hành polis, giúp mọi người hoàn thiện và đạt đến cuộc sống phúc lành. Như vậy, có thể hiểu polis là một xã hội được tổ chức theo hiến pháp (hay một cách chính trị, có sự tham gia tích cực của các công dân). Ở đây, dường như khái niệm nhà nước và xã hội hiện đại không tách rời nhau. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong xã hội Hy Lạp cổ đại không phải tất cả mọi người đều là công dân, mà công dân chỉ bao gồm những người đàn ông trưởng thành, có giáo dục và thường là người chủ trong gia đình. Phụ nữ, trẻ em, nô lệ và người nước ngoài không phải là công dân của thành -bang. Họ bị giới hạn trong lĩnh vực kinh tế (gia đình), lĩnh vực tư và chịu sự cai quản của người đàn ông chứ không có quyền được tham gia vào đời sống chính trị, lĩnh vực công của cộng đồng. Đây cũng chính là những nét hạn chế của quan niệm cộng đồng chính trị Hy Lạp cổ bị các nhà triết học nữ quyền phê phán mạnh mẽ. [B]2. Tư tưởng về xã hội dân sự thời cận đại[/B] Nếu như trong đời sống của Hy Lạp cổ đại kinh tế chỉ được coi là lĩnh vực tư, bó hẹp trong gia đình thì cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh tế đã vượt ra khỏi lĩnh vực tư trong gia đình và thâm nhập vào lĩnh vực công của đời sống xã hội. Từ chỗ kinh tế là nghệ thuật điều hành gia đình và chỉ nhằm mục đích đảm bảo cung cấp và thỏa mãn các nhu cầu thiết của con người hoạt động kinh tế đã hướng tới sản xuất hàng hóa để trao đổi và làm giàu. Kinh tế đã dần dần trở thành “kinh tế xã hội” và “kinh tế chính trị”, một nghệ thuật quản lý đời sống kinh tế của một quốc gia. Đặc biệt, sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa ở phương Tây đã dẫn đến sự thay đổi quan niệm về quan hệ gia đình, xã hội và nhà nước: cái tư đã dần dần lấn át cái công. Các khía cạnh chính trị, tôn giáo, văn hóa và kinh tế được tách biệt ra. “Cộng đồng chính trị” được thay thế bằng các lĩnh vực đời sống văn hóa, chính trị, tôn giáo và kinh tế khá tách bạch trong xã hội trung và cận đại ở phương Tây. Trong bối cảnh đó, khái niệm dân sự được hình thành. Theo cách nhìn thuần túy về mặt kinh tế thì xã hội dân sự là một hình thức “khế ước xã hội”, được lập ra để bảo vệ quyền tư hữu và lợi ích tư của các cá thể theo đuổi các lợi ích tư của mình. Trong quan niệm của J.Locke, xã hội dân sự (civil society), hầu như đồng nghĩa với xã hội chính trị (political society), là hình thức tổ chức xã hội văn minh và đối lập với trạng thái tự nhiên dã man. Trong Lá thư bàn về khoan dung, J.Locke đã nói rằng xã hội (dân sự) không chỉ là lĩnh vực theo đuổi các lợi ích kinh tế mang tính cá nhân một cách hòa bình và có pháp luật, mà còn là lĩnh vực bao gồm nhà thờ và dư luận mà nhà nước chỉ có thể điều hành hay can thiệp vì mục đích “lợi ích công”. Những ý tưởng về xã hội dân sự của Locke đã được A.Smith và A.Ferguson phát triển và lý giải theo 2 cách khác nhau. Phát triển tiếp khái niệm về xã hội như một lĩnh vực tự chủ của các hoạt động kinh tế và hợp tác dân sự của J.Locke, trong Của cải của các dân tộc, A.Smith đã đưa ra luận thuyết về liên kết xã hội thông qua các hoạt động kinh tế của các cá nhân. Theo A.Smith, trong một xã hội định hướng theo thị trường có sự phân công lao động hợp lý các hoạt động kinh tế theo đuổi các mục đích tư lợi sẽ dẫn đến sự hợp tác xã hội và làm tăng của cải xã hội, các hoạt động kinh tế tư lợi này dường như được điều khiển bởi một ‘bàn tay vô hình”. Ở đây, A.Smith muốn nhấn mạnh đến tính độc lập của lĩnh vực kinh tế so với các lĩnh vực chính trị, tôn giáo và văn hóa. Tư tưởng của A.Smith về xã hội dân sự nhấn mạnh đến tính độc lập của hoạt động kinh tế và giảm thiểu vai trò của nhà nước là cơ sở cho học thuyết tự do và tân tự do về xã hội dân sự. Theo quan điểm này thì vai trò của nhà nước và cộng đồng, các yếu tố văn hóa và chính trị trở thành thứ yếu. Quan điểm này khẳng định thị trường có đặc tính điều tiết tự nhiên (bàn tay vô hình) nên các lĩnh vực khác của xã hội, trước tiên là chính trị, phải tôn trọng, phục tùng quy luật của thị trường tự do. Cũng cần phải thấy rằng, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa là sự ra đời của tầng lớp tư sản và xuất hiện nhu cầu bảo vệ tài sản của tầng lớp đó. Các quyền lợi kinh tế cá nhân được đề cao dẫn đến việc đời sống cá nhân được coi trọng hơn đời sống công dân. Cộng đồng chính trị, nơi mà trước kia trong xã hội Hy Lạp cổ đại các hoạt động chính trị và văn hóa đóng vai trò chủ đạo, con người chỉ quan tâm đến lợi ích công của cả cộng đồng, đã bị xã hội dân sự tư sản, vốn chỉ coi trọng lợi ích, quyền lợi và tài sản cá nhân (tư sản), lấn lướt. Quan điểm về xã hội dân sự mang nặng tính kinh tế này chính là cơ sở để nhiều người đồng nhất xã hội dân sự (civil society) với xã hội tư sản (bourgeois) hơn là “xã hội dân chính” hay “xã hội công dân” (civic or civilis). Tuy nhiên, quan điểm của A.Smith đã bị A.Ferguson phản đối. Trong Luận về lịch sử xã hội dân sự viết năm 1767, A.Ferguson nêu rõ rằng xã hội dân sự, với tư cách là một xã hội văn minh của các công dân, không thể thịnh vượng được nếu như các nhu cầu và lợi ích thuần túy về thương mại và kinh tế lấn át đức hạnh cá nhân và “tinh thần công” (public spirit). Theo A.Ferguson, xã hội là một lĩnh vực văn hóa đạo đức nơi mà công dân quyết định vận mệnh của cộng đồng chính trị của họ, đó cũng là nơi những đức hạnh thiết yếu cho tự do được phát triển. Quan điểm này được Montesquieu chia sẻ trong Tinh thần pháp luật viết năm 1748. Theo Montesquieu, xã hội dân sự là lĩnh vực trung giới giữa quyền lực chính trị (nhà nước) và công dân. Nhà nước và luật pháp ra đời không phải chỉ để bảo vệ các lợi ích tư và tài sản của cá nhân, mà là nhằm tạo điều kiện cho công dân hoàn thiện và phát triển. Công bằng xã hội không phải là kết quả do sự phát triển tự do của phát triển kinh tế (thị trường) đem lại, mà nó được thiết lập bởi các yếu tố và yêu cầu đạo đức cũng như những mục tiêu chính trị của cả cộng đồng trong sự phát triển lịch sử của mình. Chỉ khi công dân ý thức được rằng điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của mình, quyền lợi của mình được quy định bởi bối cảnh tự nhiên, văn hóa và xã hội của cộng đồng nơi họ sinh ra thì công dân mới sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân (private interests) của mình vì phúc lợi công của cộng đồng (the public good). Trong nhà nước cộng hòa như vậy, luật pháp không phải là ý muốn tùy tiện của nhà cầm quyền, mà nó phải dựa vào tập quán (moeurs), môi trường xã hội, tôn giáo, thương mại… cụ thể của đất nước (6). [B]3. Hêghen và xã hội dân sự[/B] Có thể thấy, một bước tiến rất đáng ghi nhận về khái niệm xã hội dân sự trong hệ thống triết học chính trị của Hêghen. Trong Triết học pháp quyền, Hêghen coi xã hội dân sự như một mắt xích trong cấu trúc hữu cơ của đời sống đạo đức (ethical life). Đời sống đạo đức bao gồm 3 yếu tố là gia đình, xã hội dân sự và nhà nước. Đây cũng là 3 giai đoạn thiết yếu trong sự phát triển của tự do. Khái niệm đời sống đạo đức của Hêghen chính là sự kế thừa khái niệm Ethos của Arixtốt nhưng được phát triển và mở rộng hơn với việc thừa nhận vai trò của kinh tế trong đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của con người. Trong tư tưởng của Arixtốt, kinh tế thuộc về lĩnh vực tư, trong phạm vi gia đình và bị chi phối bởi các nhu cầu thiết yếu cũng như các lợi ích cá nhân (đồng nghĩa với lợi ích kinh tế), còn đời sống chính trị của cộng đồng (polis) là lĩnh vực công, lĩnh vực của các công dân tự do. Khi tham gia vào đời sống chính trị (lĩnh vực công), các công dân của cộng đồng (polis) vừa “tự do” trước những nhu cầu thiết yếu của lĩnh vực tư, vừa nhận được cơ hội để “tự do” hoàn thiện nhân cách của mình và cùng nhau vươn tới một cuộc sống phúc lành (good life). Tuy nhiên, Hêghen nhận thấy những hạn chế mang tính lịch sử(7) của mô hình cộng đồng chính trị của các triết gia Hy Lạp cổ đại trong việc loại trừ vai trò của hoạt động kinh tế trong đời sống chính trị của cộng đồng(8). Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa - nền kinh tế có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, lợi ích cá nhân đóng vai trò động lực cho sự phát triển này. [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Xã hội công dân và xã hội dân sự: từ Arixtot đến Hêghen
Top