Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VNK X
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
BhnongFood X
-
Bhnong groups
-
Đặt mua Bánh Bhnong
KHOA HỌC XÃ HỘI
TÂM LÍ HỌC
Tâm lý học Tổng quát
Vấn đề chân lý
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Butlatre" data-source="post: 7729" data-attributes="member: 1050"><p>Chân lý chủ quan - chân lý khách quan</p><p></p><p>Ngay từ thời Socrates(4), người ta đã tranh luận với nhau về vấn đề liệu rằng chân lý là tương đối và chủ quan hay chân lý là tuyệt đối và khách quan. Một trường phái tư tưởng Hy Lạp thời cổ đại, đại diện là Gorgias xứ Leontium (483-375 trước CN), tiến xa hơn khi “hoài nghi” khả năng tồn tại của chân lý trong thực tế.</p><p></p><p>Có người đã từng nói rằng không hề có chân lý mới, chỉ có chân lý xưa cũ. Thực tế, những cuộc tranh luận triết học thời hiện đại, liên quan đến các thuộc tính của chân lý, cũng không mang đến điều gì mới mẻ hơn so với những gì mà các triết gia cổ đại đã từng đề cập đến.</p><p></p><p>1. Chân lý tương đối</p><p></p><p>Người cổ xuý có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất quan niệm “chân lý tương đối” là Protagoras xứ Abdera (481-411 trước CN). Protagoras đề xuất quan niệm ấy dựa trên sự kiện rằng tri thức của con người về hiện tượng giới (thế giới mà con người cảm nhận được) là chưa hoàn hảo của các giác quan. Không chỉ sự bất toàn về thị lực, thính lực, v.v... ảnh hưởng đến nhận thức của con người; ngay cả các thiết bị hỗ trợ cũng chẳng tạo được một cơ sở hoàn hảo hơn cho một nhận thức chính xác về thế giới thực tại.</p><p></p><p>Những thí dụ như kính phóng đại hay kính hiển vi nâng cao tầm hoạt động của nhãn thức lên nhiều lần; các thiết bị trợ thính có thể ghi nhận được những âm thanh vượt khỏi năng lực của các cơ quan thính giác. Rõ ràng, các giác quan của con người là bất toàn, hạn chế và không thích đáng để khảo cứu chân lý. Vì thế, cứ giả định rằng con người chỉ có thể thu nhập được mẩu tri thức vụn vặt dựa trên kinh nghiệm giác quan manh mún của mình, tri thức của mỗi người sẽ sai khác nhau. Tri thức, xét trên khía cạnh lý tưởng nhất, là ý kiến cá nhân, là dạng chân lý có tính chủ quan. Và bởi vì chân lý là ý kiến chủ quan, theo lý giải của Protagoras, cái gì đúng với tôi chỉ là chân lý của tôi, cái gì đúng với bạn là chân lý của bạn.</p><p></p><p>Chủ nghĩa hoài nghi (Skepticism)</p><p></p><p>Gorgias xứ Leontium phát triển quan điểm của Protagoras và hình thành nên một học thuyết mang tính hư vô (khẳng định rằng chân lý không tồn tại) và hoài nghi (khẳng định rằng không thể biết chắc được điều gì cả). Ông đưa ra tam đoạn luận như sau:</p><p>1. Không có gì thực hữu.</p><p>2. Nếu có sự thực hữu, chúng ta không thể nào biết chắc về nó.</p><p>3. Và nếu có ai đó tình cờ nhận thức được sự thực hữu, anh ta cũng không có khả năng truyền đạt lại điểu ấy cho người khác.</p><p></p><p></p><p>Chủ nghĩa hư vô (Nihilism) và Chủ nghĩa hoài nghi (Skepticism) là hai học thuyết triết lý mâu thuẫn và tự vong. Nếu như chân lý không tồn tại (hư vô chủ nghĩa), tính chân xác của chính câu nói ấy cũng không tồn tại. Nếu tri thức là bất khả đắc và bất khả thuyết (hoài nghi chủ nghĩa), làm thế nào chúng ta có thể nhận thức và chấp nhận quan niệm như thế? Rõ ràng, phải có tri thức khả đắc.</p><p></p><p>Xét cái nhìn tiêu cực của Gorgias, rõ ràng lập luận của chủ nghĩa hoài nghi và hư vô có thể được sử dụng để huỷ diệt chính nó.</p><p></p><p>2. Chân lý khách quan</p><p></p><p>Ngay cả quan điểm “ôn hoà hơn” của Protagoras cũng là triết lý tự vong. Nhận định trên được chứng minh qua phần lập luận đầy sức thuyết phục của Socrates (thông qua ngòi bút của Plato) trong mẩu đối thoại dưới đây:</p><p></p><p>PROTAGORAS: Chân lý là tương đối, nó chỉ là vấn đề ý kiến cá nhân mà thôi.</p><p>SOCRATES: Ngài muốn nói rằng chân lý chỉ là ý kiến chủ quan mà thôi?</p><p>PROTAGORAS: Chính xác là thế. Cái gì đúng với ngài là chân lý của ngài; cái gì đúng với tôi là chân lý của tôi.</p><p>SOCRATES: Ý của ngài thực sự là thế ư? Rằng ý kiến của tôi là đúng, xét vì nó là ý kiến của tôi?</p><p>PROTAGORAS: Thực sự là thế.</p><p>SOCRATES: Thế thì, ý kiến của tôi là: “Chân lý là tuyệt đối, không phải là ý kiến; và ngài, quý ông Protagoras, tuyệt đối sai lầm.” Bởi vì tất cả điều đó là ý kiến của tôi, ngài phải chấp nhận nó là đúng- xét theo triết lý của ngài.</p><p>PROTAGORAS: Ngài đúng đấy, Socartes.</p><p></p><p>Rõ ràng, bất kỳ cuộc thảo luận nào có liên quan đến chân lý, nếu cần được khởi sự, phải bắt đầu từ một sự khẳng định. Khi cho rằng “chân lý tương đối”, người khẳng định đã đưa ra một chân lý tuyệt đối, bởi vì ông ta thành tâm tin tưởng rằng chân lý thực sự (cho dù nó có phải là ý kiến hay không) là tương đối và chủ quan. Tất nhiên, bằng cách đó, ông ta tự mâu thuẫn với chính mình, không tránh khỏi việc thừa nhận rằng chân lý là khách quan, không phải là tương đối.</p><p></p><p>(1) Baruch de Spinoza (1632 - 1677): Triết gia Do Thái, sống tại Hà Lan, Tìm kiếm chân lý vượt khỏi khuôn khổ Kinh Thánh, chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Descartes, ông bị trục xuất ra khỏi cộng đồng giáo hữu Do Thái của mình. Spinoza quan niệm rằng Thượng Đế đồng nhất với toàn thể vũ trụ, chứ không phải cai quản vũ trụ, một quan niệm được xem là phiếm thần luận. Năm 1661, ông viết tác phẩm nổi tiếng "Đạo đức học" (Ethies), tác phẩm bị cấm lưu hành trong suốt thời gian ông còn sống. Ngoài ra, ông cũng là tác giả của quyển “Khái luận thuần học - chính trị”. Ông mất vào tuổi 44 vì bệnh lao. Triết học của ông có ảnh hưởng rất lớn đối với các triết gia Đức như Leibnitz, Fiche, Schelling và nhất là Hegel, thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa vô thần, tự do tôn giáo và khoa học sau đó. (Theo “Sổ tay danh nhân thế giới” của nhà xuất bản Thanh niên, năm 1999) (ND)</p><p></p><p>Đối với Spinoza, thực tại tối hậu (Chân tính hay Thượng Đế) là một hệ thống lý tính, trong đó mỗi khía cạnh liên kết chặt chẽ với những khía cạnh còn lại.</p><p></p><p>Đối với Hegel, “chân lý toàn bích”, một hệ lý tính tổng thể, trong khi “sai lầm là sự phân mảng”, những phần bị phân cách khỏi hệ thống tổng thể, rời rã và manh mún. Vì thế, chân lý là thành quả nhận thức viên mãn.</p><p></p><p>Theo các triết gia thời đại mới của trường phái Hegel tại Anh như Blanshare, Bradley và Brightman, “chân lý là tuyệt đối”, xuyên suốt và bao trùm tất cả; trong khi sai lầm là những mảnh vụn phân cách khỏi tổng thể ấy,</p><p></p><p>Cuối cùng, Rudoft Carnap tạo nên đôi chút khác biệt khi cho rằng một nhận định là đúng nếu nó có thể gắn kết tư sản với một học thuyết (hay hệ biểu tượng) đã được nhìn nhận</p><p></p><p>(2)Meta-language: Ngôn ngữ hay tập hợp các biểu tượng được sử dụng khi nói về, hay mô tả một ngôn ngữ khác. (ND)</p><p></p><p>(3)Trích từ tác phẩm "Về bản chất của chân lý" (On the Essence of Truth) của Martin Heidegger (bản dịch Anh ngữ của R. F. C. Hull và Alan Crick.) (TG)</p><p></p><p>(4)Socrates (469-399): Triết gia Hy Lạp cổ đại. Mặc dù đôi lúc người ta vẫn xem ông là người sáng lập ra ngành triết học, ông không thể để lại một tác phẩm nào. Chúng ta biết được tư tưởng của ông thông qua các bài thoại của Plato, học trò của ông. Ông bị vu tội làm băng hoại giới trẻ bằng các bài giảng của mình và bị xử chết bằng thuộc độc. (ND)</p><p></p><p></p><p>Tài liệu sưu tầm.</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Butlatre, post: 7729, member: 1050"] Chân lý chủ quan - chân lý khách quan Ngay từ thời Socrates(4), người ta đã tranh luận với nhau về vấn đề liệu rằng chân lý là tương đối và chủ quan hay chân lý là tuyệt đối và khách quan. Một trường phái tư tưởng Hy Lạp thời cổ đại, đại diện là Gorgias xứ Leontium (483-375 trước CN), tiến xa hơn khi “hoài nghi” khả năng tồn tại của chân lý trong thực tế. Có người đã từng nói rằng không hề có chân lý mới, chỉ có chân lý xưa cũ. Thực tế, những cuộc tranh luận triết học thời hiện đại, liên quan đến các thuộc tính của chân lý, cũng không mang đến điều gì mới mẻ hơn so với những gì mà các triết gia cổ đại đã từng đề cập đến. 1. Chân lý tương đối Người cổ xuý có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất quan niệm “chân lý tương đối” là Protagoras xứ Abdera (481-411 trước CN). Protagoras đề xuất quan niệm ấy dựa trên sự kiện rằng tri thức của con người về hiện tượng giới (thế giới mà con người cảm nhận được) là chưa hoàn hảo của các giác quan. Không chỉ sự bất toàn về thị lực, thính lực, v.v... ảnh hưởng đến nhận thức của con người; ngay cả các thiết bị hỗ trợ cũng chẳng tạo được một cơ sở hoàn hảo hơn cho một nhận thức chính xác về thế giới thực tại. Những thí dụ như kính phóng đại hay kính hiển vi nâng cao tầm hoạt động của nhãn thức lên nhiều lần; các thiết bị trợ thính có thể ghi nhận được những âm thanh vượt khỏi năng lực của các cơ quan thính giác. Rõ ràng, các giác quan của con người là bất toàn, hạn chế và không thích đáng để khảo cứu chân lý. Vì thế, cứ giả định rằng con người chỉ có thể thu nhập được mẩu tri thức vụn vặt dựa trên kinh nghiệm giác quan manh mún của mình, tri thức của mỗi người sẽ sai khác nhau. Tri thức, xét trên khía cạnh lý tưởng nhất, là ý kiến cá nhân, là dạng chân lý có tính chủ quan. Và bởi vì chân lý là ý kiến chủ quan, theo lý giải của Protagoras, cái gì đúng với tôi chỉ là chân lý của tôi, cái gì đúng với bạn là chân lý của bạn. Chủ nghĩa hoài nghi (Skepticism) Gorgias xứ Leontium phát triển quan điểm của Protagoras và hình thành nên một học thuyết mang tính hư vô (khẳng định rằng chân lý không tồn tại) và hoài nghi (khẳng định rằng không thể biết chắc được điều gì cả). Ông đưa ra tam đoạn luận như sau: 1. Không có gì thực hữu. 2. Nếu có sự thực hữu, chúng ta không thể nào biết chắc về nó. 3. Và nếu có ai đó tình cờ nhận thức được sự thực hữu, anh ta cũng không có khả năng truyền đạt lại điểu ấy cho người khác. Chủ nghĩa hư vô (Nihilism) và Chủ nghĩa hoài nghi (Skepticism) là hai học thuyết triết lý mâu thuẫn và tự vong. Nếu như chân lý không tồn tại (hư vô chủ nghĩa), tính chân xác của chính câu nói ấy cũng không tồn tại. Nếu tri thức là bất khả đắc và bất khả thuyết (hoài nghi chủ nghĩa), làm thế nào chúng ta có thể nhận thức và chấp nhận quan niệm như thế? Rõ ràng, phải có tri thức khả đắc. Xét cái nhìn tiêu cực của Gorgias, rõ ràng lập luận của chủ nghĩa hoài nghi và hư vô có thể được sử dụng để huỷ diệt chính nó. 2. Chân lý khách quan Ngay cả quan điểm “ôn hoà hơn” của Protagoras cũng là triết lý tự vong. Nhận định trên được chứng minh qua phần lập luận đầy sức thuyết phục của Socrates (thông qua ngòi bút của Plato) trong mẩu đối thoại dưới đây: PROTAGORAS: Chân lý là tương đối, nó chỉ là vấn đề ý kiến cá nhân mà thôi. SOCRATES: Ngài muốn nói rằng chân lý chỉ là ý kiến chủ quan mà thôi? PROTAGORAS: Chính xác là thế. Cái gì đúng với ngài là chân lý của ngài; cái gì đúng với tôi là chân lý của tôi. SOCRATES: Ý của ngài thực sự là thế ư? Rằng ý kiến của tôi là đúng, xét vì nó là ý kiến của tôi? PROTAGORAS: Thực sự là thế. SOCRATES: Thế thì, ý kiến của tôi là: “Chân lý là tuyệt đối, không phải là ý kiến; và ngài, quý ông Protagoras, tuyệt đối sai lầm.” Bởi vì tất cả điều đó là ý kiến của tôi, ngài phải chấp nhận nó là đúng- xét theo triết lý của ngài. PROTAGORAS: Ngài đúng đấy, Socartes. Rõ ràng, bất kỳ cuộc thảo luận nào có liên quan đến chân lý, nếu cần được khởi sự, phải bắt đầu từ một sự khẳng định. Khi cho rằng “chân lý tương đối”, người khẳng định đã đưa ra một chân lý tuyệt đối, bởi vì ông ta thành tâm tin tưởng rằng chân lý thực sự (cho dù nó có phải là ý kiến hay không) là tương đối và chủ quan. Tất nhiên, bằng cách đó, ông ta tự mâu thuẫn với chính mình, không tránh khỏi việc thừa nhận rằng chân lý là khách quan, không phải là tương đối. (1) Baruch de Spinoza (1632 - 1677): Triết gia Do Thái, sống tại Hà Lan, Tìm kiếm chân lý vượt khỏi khuôn khổ Kinh Thánh, chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Descartes, ông bị trục xuất ra khỏi cộng đồng giáo hữu Do Thái của mình. Spinoza quan niệm rằng Thượng Đế đồng nhất với toàn thể vũ trụ, chứ không phải cai quản vũ trụ, một quan niệm được xem là phiếm thần luận. Năm 1661, ông viết tác phẩm nổi tiếng "Đạo đức học" (Ethies), tác phẩm bị cấm lưu hành trong suốt thời gian ông còn sống. Ngoài ra, ông cũng là tác giả của quyển “Khái luận thuần học - chính trị”. Ông mất vào tuổi 44 vì bệnh lao. Triết học của ông có ảnh hưởng rất lớn đối với các triết gia Đức như Leibnitz, Fiche, Schelling và nhất là Hegel, thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa vô thần, tự do tôn giáo và khoa học sau đó. (Theo “Sổ tay danh nhân thế giới” của nhà xuất bản Thanh niên, năm 1999) (ND) Đối với Spinoza, thực tại tối hậu (Chân tính hay Thượng Đế) là một hệ thống lý tính, trong đó mỗi khía cạnh liên kết chặt chẽ với những khía cạnh còn lại. Đối với Hegel, “chân lý toàn bích”, một hệ lý tính tổng thể, trong khi “sai lầm là sự phân mảng”, những phần bị phân cách khỏi hệ thống tổng thể, rời rã và manh mún. Vì thế, chân lý là thành quả nhận thức viên mãn. Theo các triết gia thời đại mới của trường phái Hegel tại Anh như Blanshare, Bradley và Brightman, “chân lý là tuyệt đối”, xuyên suốt và bao trùm tất cả; trong khi sai lầm là những mảnh vụn phân cách khỏi tổng thể ấy, Cuối cùng, Rudoft Carnap tạo nên đôi chút khác biệt khi cho rằng một nhận định là đúng nếu nó có thể gắn kết tư sản với một học thuyết (hay hệ biểu tượng) đã được nhìn nhận (2)Meta-language: Ngôn ngữ hay tập hợp các biểu tượng được sử dụng khi nói về, hay mô tả một ngôn ngữ khác. (ND) (3)Trích từ tác phẩm "Về bản chất của chân lý" (On the Essence of Truth) của Martin Heidegger (bản dịch Anh ngữ của R. F. C. Hull và Alan Crick.) (TG) (4)Socrates (469-399): Triết gia Hy Lạp cổ đại. Mặc dù đôi lúc người ta vẫn xem ông là người sáng lập ra ngành triết học, ông không thể để lại một tác phẩm nào. Chúng ta biết được tư tưởng của ông thông qua các bài thoại của Plato, học trò của ông. Ông bị vu tội làm băng hoại giới trẻ bằng các bài giảng của mình và bị xử chết bằng thuộc độc. (ND) Tài liệu sưu tầm. [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TÂM LÍ HỌC
Tâm lý học Tổng quát
Vấn đề chân lý
Top