Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Phổ Thông
LỊCH SỬ THPT
Lịch sử 11
Từ Khởi Nghĩa Đến Giải Phóng: Hành Trình Giành Lại Độc Lập Của Dân Tộc Việt Nam
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Trang Dimple" data-source="post: 201886" data-attributes="member: 288054"><p><strong><em><u>Câu 14. a. Cách kết thúc độc đáo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được Đảng ta vận dụng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mĩ.</u></em></strong></p><p></p><p>Kháng chiến chống Pháp: Với chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Pháp đã chấp nhận kí Hiệp định Giơnevơ…</p><p>Kháng chiến chống Mĩ: Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 buộc Mĩ chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari. Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không buộc Mĩ kí Hiệp định Pari 1973…</p><p></p><h3><u>b. Phân tích sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn thế kỉ XV.</u></h3><p>Năm 1426, nghĩa quân giành được nhiều chiến thắng vang vội: Chiến thắng Ninh Kiều (9/1426), đặc biệt là chiến thắng Tốt Động – Chúc Động của Vương Thông và làm phá sản hoàn toàn âm mưu giành thế chủ động chiến lược của địch. Sau thất bại này, Vương Thông co về thành Đông Quan phòng ngự và mong chờ lực lượng cứu viện.</p><p> </p><p>Tháng 1/1427, triều đình nhà Minh điều 15 (10)vạn quân sang cứu nguy cho Vương Thông. Đạo thứ nhất khoảng 10 vạn do Liễu Thăng chỉ huy theo đường Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn. Đạo thứ hai khoảng 5 vạn do Mộc Thạnh chỉ huy theo hướng Vân Nam tiến vào nước ta.</p><p></p><p>Trong bối cảnh đó, bộ chỉ huy nghĩa quân đã chủ động tiến công địch kết hợp đấu tranh quân sự, binh vận và ngoại giao để kết thúc chiến tranh.</p><p></p><p>Trên mặt trận quân sự, ta đã chọn đạo quân Liễu Thăng làm đối tượng quyết chiến chủ yếu. Đồng thời ta tiếp tục vây hãm địch ở Đông Quan.</p><p></p><p>+ Ngày 8/10/1427, Liễu Thăng dẫn quân vào biên giới nước ta bị nghĩa quân mai phục và giết chết ở ải Chi Lăng (Lạng Sơn). Sau khi Liễu Thăng bị giết chết, lần lượt Lương Minh, Li Khánh, Thôi Tụ, lên thay và tiến quân xuống Xương Giang (Bắc Giang).</p><p></p><p>+ Ngày 3/11/1427, Nghĩa quân tiến công địch ở Xương Giang, toàn bộ quân giặc còn lại bị tiêu diệt hoặc bị bắt. Trong lúc đó đội quân của Mộc Thạch nghe tin Liễu Thăng bại trận đã tháo chạy về nước.</p><p></p><p>+ Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang là chiến thắng lớn nhất trong 10 năm kháng chiến chống Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Bằng thắng lợi này, ta đập tan ý chí xâm lược của quân Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao giành thắng lợi.</p><p></p><p>Bộ chỉ huy còn mợ cuộc chiến tranh binh vận và ngoại giao với địch, Nguyễn Trãi viết thư dụ Vương Thông từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược, tổ chức “Hội thề Đông Quan”, cùng với đại diện của nhà Minh bàn về việc kết thúc chiến tranh.</p><p></p><p>Thất bại trong trận Chi Lăng – Xương Giang, lực lượng cứu viện không còn nên Vương Thông phải chấp nhận Hội thề Đông Quan” với ta vào ngày 10/12/1427, nhận rút quân về nước. Vương Thông và một số quân còn lại rút ngày 3/1/1428. Đất nước ta hoàn toàn được giải phóng.</p><p></p><h3><u>c.Từ thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn bài học cho việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay:</u></h3><p><strong>+ </strong>Phải xây dựng khối đoàn kết nhân dân, toàn thể dân tộc, Đảng, nhà nước, các nhà lãnh đạo đến các tầng lớp nhân dân phảo đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết.</p><p></p><p>+ Xây dựng quân đội mạnh có quyết tâm chiến đấu quyết chiến, quyết thắng, mưu lược, dũng cảm và tài thao lược của các tướng lĩnh.</p><p></p><p>+ Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phải linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong thời kì xây dựng chiến đấu.</p><p></p><p>+ Phải biết trọng dụng, sử dụng những người có đức, có tài, tạo điều kiện cho họ phát hu tài năng, năng lực của mình không chỉ trong thời bình mà còn trong thời chiến.</p><p></p><p><strong><em><u>Câu 15. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong các thế kỉ X-XV đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu cho cuộc đấu tranh ở giai đoạn sau này” Bằng những kiến thức lịch sử đã học em hay làm sang tỏ nhận định trên.</u></em></strong></p><h3>Trả lời</h3><p>Từ thế kỉ X-XV, cùng với việc xây dựng, hoàn chỉnh bộ máy nhà nước phong kiến, phát triển kinh tế văn hoá…nhân dân ta còn phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm: chống Tống thời Lý, ba lần chống Mông - Nguyên xâm lược thời Trần, khởi nghĩa Lam Sơn. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đó đã ghi them những chiến công chói lọi vào lịch sử chóng ngoại xâm của dân tộc mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các cuộc đấu tranh ở giai đoạn sau nay.</p><p></p><p>Bài học về đường lối và phương pháp đấu tranh: toàn dân, toàn diện, trường kì: để chiến thắng giặc ngoại xâm có tiềm lực kinh tế và quân sự hơn nhiều lần, nhân dân ta phải đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân, thực hiện kháng chiến toàn diện, trường kì, tạo sức mạnh to lớn của cả dân tộc để chiến thắng kẻ thù xâm lược.</p><p></p><p>+ Toàn dân: Kháng chiến chống Tống thời Lý (Lý Thường Kiệt đoàn két mọi lực lượng miền xuôi với miền ngược, đoàn kết quân với dân…). Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên: “vua tôi đồng long, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, “khởi nghĩa Lam Sơn: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”.</p><p></p><p>+ Toàn diện: Trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý: Chính trị kết hợp với quân sự, ngoại giao, thơ văn…</p><p></p><p>+ Trường kì: Thể hiện trong khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh trãi qua 0 năm gian khổ quyết tâm đi đến thắng lợi cuối cùng.</p><p></p><ul> <li data-xf-list-type="ul">Bài học về thắng lợi quân sự: Trong cuộc kháng chiến, ngoài tinh thần chiến đấu dung cảm, không ngại hi sinh, dân tộc ta còn chiến đấu với <em>chiến lược, chiến thuật đúng đứn, sáng tạo.</em></li> </ul><p>+ Bài học về chớp thời cơ ở hầu hết các cuộc đấu tranh.</p><p></p><p>+ Chủ động tấn công giặc: Kế sách “Tiên phát chế nhân” trong kháng chiến chống Tống thời Lý… nhằm phá kế hoạch của địch, làm chậm bước tiến quân của địch.</p><p></p><p>+ Lấy chỗ mạnh đánh vào chỗ yếu, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, linh hoạt (Kháng chiến chống Mông – Nguyên. Lê Lợi, Nguyễn Trãi chống Minh…)</p><p></p><p>+ Thực hiện chiến tranh du kích (Kháng chiến chống Mông – Nguyên; khởi nghịa Lam Sơn)</p><p></p><p>+ Thực hiện “ Vườn không nhà trống” (Kháng chiến chống Mông – Nguyên)</p><p></p><p>+ Kết hợp chiến đấu dũng cảm với “tâm lí chiến” trong những thời điểm quyết định chúng ta luôn có những văn kiện khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sĩ, làm nản lòng quân địch: bài thơ “thần” của Lý Thương Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…</p><p></p><h3>- Bài học về nêu cao ý chí quyết thắng, đấu tranh anh dũng bất khuất</h3><p>+ Trần Thủ Độ: “ Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo”</p><p></p><p>+ Trần Hưng Đạo “Nếu bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước”</p><p></p><p>+ Trần Bình Trọng trả lời khẳng khái trước quân thù: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”…</p><p></p><h3>- Bài học về sự chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn</h3><p>+ Khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh khó khăn, thử thách, nhờ sự lạc quan, đồng lòng, đoàn kết, biết dựa vào dân đã giúp nghĩa quân Lam Sơn vượt qua mọi khó khăn. …</p><p></p><p>+ Những bài học học kinh nghiệm quí báo này tiếp tục được phát huy cao độ trong kháng chiến chống quân Xiêm (1785) và quân Thanh (1789) của phong trào Tây Sơn. Đặc biệt được phát huy cao độ trong hai cuộc kháng chiến thần kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược trong thế kỉ XX…</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Trang Dimple, post: 201886, member: 288054"] [B][I][U]Câu 14. a. Cách kết thúc độc đáo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được Đảng ta vận dụng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mĩ.[/U][/I][/B] Kháng chiến chống Pháp: Với chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Pháp đã chấp nhận kí Hiệp định Giơnevơ… Kháng chiến chống Mĩ: Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 buộc Mĩ chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari. Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không buộc Mĩ kí Hiệp định Pari 1973… [HEADING=2][U]b. Phân tích sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn thế kỉ XV.[/U][/HEADING] Năm 1426, nghĩa quân giành được nhiều chiến thắng vang vội: Chiến thắng Ninh Kiều (9/1426), đặc biệt là chiến thắng Tốt Động – Chúc Động của Vương Thông và làm phá sản hoàn toàn âm mưu giành thế chủ động chiến lược của địch. Sau thất bại này, Vương Thông co về thành Đông Quan phòng ngự và mong chờ lực lượng cứu viện. Tháng 1/1427, triều đình nhà Minh điều 15 (10)vạn quân sang cứu nguy cho Vương Thông. Đạo thứ nhất khoảng 10 vạn do Liễu Thăng chỉ huy theo đường Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn. Đạo thứ hai khoảng 5 vạn do Mộc Thạnh chỉ huy theo hướng Vân Nam tiến vào nước ta. Trong bối cảnh đó, bộ chỉ huy nghĩa quân đã chủ động tiến công địch kết hợp đấu tranh quân sự, binh vận và ngoại giao để kết thúc chiến tranh. Trên mặt trận quân sự, ta đã chọn đạo quân Liễu Thăng làm đối tượng quyết chiến chủ yếu. Đồng thời ta tiếp tục vây hãm địch ở Đông Quan. + Ngày 8/10/1427, Liễu Thăng dẫn quân vào biên giới nước ta bị nghĩa quân mai phục và giết chết ở ải Chi Lăng (Lạng Sơn). Sau khi Liễu Thăng bị giết chết, lần lượt Lương Minh, Li Khánh, Thôi Tụ, lên thay và tiến quân xuống Xương Giang (Bắc Giang). + Ngày 3/11/1427, Nghĩa quân tiến công địch ở Xương Giang, toàn bộ quân giặc còn lại bị tiêu diệt hoặc bị bắt. Trong lúc đó đội quân của Mộc Thạch nghe tin Liễu Thăng bại trận đã tháo chạy về nước. + Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang là chiến thắng lớn nhất trong 10 năm kháng chiến chống Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Bằng thắng lợi này, ta đập tan ý chí xâm lược của quân Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao giành thắng lợi. Bộ chỉ huy còn mợ cuộc chiến tranh binh vận và ngoại giao với địch, Nguyễn Trãi viết thư dụ Vương Thông từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược, tổ chức “Hội thề Đông Quan”, cùng với đại diện của nhà Minh bàn về việc kết thúc chiến tranh. Thất bại trong trận Chi Lăng – Xương Giang, lực lượng cứu viện không còn nên Vương Thông phải chấp nhận Hội thề Đông Quan” với ta vào ngày 10/12/1427, nhận rút quân về nước. Vương Thông và một số quân còn lại rút ngày 3/1/1428. Đất nước ta hoàn toàn được giải phóng. [HEADING=2][U]c.Từ thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn bài học cho việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay:[/U][/HEADING] [B]+ [/B]Phải xây dựng khối đoàn kết nhân dân, toàn thể dân tộc, Đảng, nhà nước, các nhà lãnh đạo đến các tầng lớp nhân dân phảo đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết. + Xây dựng quân đội mạnh có quyết tâm chiến đấu quyết chiến, quyết thắng, mưu lược, dũng cảm và tài thao lược của các tướng lĩnh. + Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phải linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong thời kì xây dựng chiến đấu. + Phải biết trọng dụng, sử dụng những người có đức, có tài, tạo điều kiện cho họ phát hu tài năng, năng lực của mình không chỉ trong thời bình mà còn trong thời chiến. [B][I][U]Câu 15. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong các thế kỉ X-XV đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu cho cuộc đấu tranh ở giai đoạn sau này” Bằng những kiến thức lịch sử đã học em hay làm sang tỏ nhận định trên.[/U][/I][/B] [HEADING=2]Trả lời[/HEADING] Từ thế kỉ X-XV, cùng với việc xây dựng, hoàn chỉnh bộ máy nhà nước phong kiến, phát triển kinh tế văn hoá…nhân dân ta còn phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm: chống Tống thời Lý, ba lần chống Mông - Nguyên xâm lược thời Trần, khởi nghĩa Lam Sơn. Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đó đã ghi them những chiến công chói lọi vào lịch sử chóng ngoại xâm của dân tộc mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các cuộc đấu tranh ở giai đoạn sau nay. Bài học về đường lối và phương pháp đấu tranh: toàn dân, toàn diện, trường kì: để chiến thắng giặc ngoại xâm có tiềm lực kinh tế và quân sự hơn nhiều lần, nhân dân ta phải đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân, thực hiện kháng chiến toàn diện, trường kì, tạo sức mạnh to lớn của cả dân tộc để chiến thắng kẻ thù xâm lược. + Toàn dân: Kháng chiến chống Tống thời Lý (Lý Thường Kiệt đoàn két mọi lực lượng miền xuôi với miền ngược, đoàn kết quân với dân…). Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên: “vua tôi đồng long, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, “khởi nghĩa Lam Sơn: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”. + Toàn diện: Trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý: Chính trị kết hợp với quân sự, ngoại giao, thơ văn… + Trường kì: Thể hiện trong khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh trãi qua 0 năm gian khổ quyết tâm đi đến thắng lợi cuối cùng. [LIST] [*]Bài học về thắng lợi quân sự: Trong cuộc kháng chiến, ngoài tinh thần chiến đấu dung cảm, không ngại hi sinh, dân tộc ta còn chiến đấu với [I]chiến lược, chiến thuật đúng đứn, sáng tạo.[/I] [/LIST] + Bài học về chớp thời cơ ở hầu hết các cuộc đấu tranh. + Chủ động tấn công giặc: Kế sách “Tiên phát chế nhân” trong kháng chiến chống Tống thời Lý… nhằm phá kế hoạch của địch, làm chậm bước tiến quân của địch. + Lấy chỗ mạnh đánh vào chỗ yếu, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, linh hoạt (Kháng chiến chống Mông – Nguyên. Lê Lợi, Nguyễn Trãi chống Minh…) + Thực hiện chiến tranh du kích (Kháng chiến chống Mông – Nguyên; khởi nghịa Lam Sơn) + Thực hiện “ Vườn không nhà trống” (Kháng chiến chống Mông – Nguyên) + Kết hợp chiến đấu dũng cảm với “tâm lí chiến” trong những thời điểm quyết định chúng ta luôn có những văn kiện khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sĩ, làm nản lòng quân địch: bài thơ “thần” của Lý Thương Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi… [HEADING=2]- Bài học về nêu cao ý chí quyết thắng, đấu tranh anh dũng bất khuất[/HEADING] + Trần Thủ Độ: “ Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo” + Trần Hưng Đạo “Nếu bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước” + Trần Bình Trọng trả lời khẳng khái trước quân thù: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”… [HEADING=2]- Bài học về sự chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn[/HEADING] + Khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh khó khăn, thử thách, nhờ sự lạc quan, đồng lòng, đoàn kết, biết dựa vào dân đã giúp nghĩa quân Lam Sơn vượt qua mọi khó khăn. … + Những bài học học kinh nghiệm quí báo này tiếp tục được phát huy cao độ trong kháng chiến chống quân Xiêm (1785) và quân Thanh (1789) của phong trào Tây Sơn. Đặc biệt được phát huy cao độ trong hai cuộc kháng chiến thần kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược trong thế kỉ XX… [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Phổ Thông
LỊCH SỬ THPT
Lịch sử 11
Từ Khởi Nghĩa Đến Giải Phóng: Hành Trình Giành Lại Độc Lập Của Dân Tộc Việt Nam
Top