Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Bút Nghiên" data-source="post: 17432" data-attributes="member: 699"><p><strong>2.3. Rơnê Đêcáctơ (1596-1654)</strong></p><p>Rơnê Đêcáctơ (Rene Descartes) là nhà triết học, nhà bách khoa toàn thư vĩ đại người Pháp. Có thể nói, cùng với Ph.Bêcơn, "Đêcáctơ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học" Tây Âu cận đại.</p><p>Rơnê Đêcáctơ sinh trong một gia đình quý tộc miền Nam nước Pháp. Mồ côi mẹ từ nhỏ, ông được bố cho học ở một trường phổ thông nổi tiếng ở Liaflet. Bất mãn với chương trình học thời đó, ông tuyên bố rằng, kết quả duy nhất trong thời gian học phổ thông là làm cho ông dốt thêm! Ông đặc biệt say mê nghiên cứu về triết học và khoa học tự nhiên. Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như Các quy tắc chỉ đạo lý tính (1630), Thế giới (1633), Các nguyên lý của triết học (1644), Suy diễn về phương pháp (1637-1638).</p><p></p><p>R.Đêcactơ là nhà triết học nhị nguyên, chủ yếu bàn về nhận thức luận và phương pháp luận và là người sáng lập chủ nghĩa duy lý.</p><p></p><p><strong>a. Quan niệm của R.Đêcactơ về bản chất và vai trò của triết học</strong> </p><p>Cũng như Ph.Bêcơn, R.Đêcactơ đặc biệt đề cao vai trò của triết học đối với đời sống của con người. Theo ông, trình độ phát triển của tư duy triết học là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá mức độ văn minh của con người và sự ưu việt của dân tộc này so với dân tộc khác. Bởi vì, "chỉ có triết học là phân biệt chúng ta khác với bọn thổ dân và bọn mọi rợ, và dân tộc nào văn minh hơn, có học thức hơn thì dân tộc đó có triết lí tốt hơn". "Triết học là sự thể hiện cơ bản nhất sự thông thái của con người không chỉ trong lĩnh vực nhận thức mà cả trong các công việc khác."</p><p></p><p>Trong quan niệm của R.Đêcactơ, triết học theo nghĩa rộng là tổng thể tri thức của con người về nhiều lĩnh vực; theo nghĩa hẹp là siêu hình học, được coi như nền tảng của hệ thống thế giới quan. R.Đêcactơ cho rằng có sự thống nhất hữu cơ giữa các khoa học vì đối tượng chung của chúng là Thượng đế, giới hiện thực và con người như một chỉnh thể thống nhất. Mục đích chung của chúng là khám phá ra chân lý. Toàn bộ thế giới quan khoa học của con người "tương tự như một cái cây, mà bộ rễ của nó là siêu hình học, thân cây là vật lý học, còn toàn bộ các khoa học khác có thể quy thành y học, cơ học và đạo đức học thì như những chiếc cành mọc ra từ thân cây đó".</p><p></p><p>Nhiệm vụ của triết học là: thứ nhất, xây dựng nguyên lý, phương pháp luận cơ bản làm cơ sở cho các khoa học khám phá chân lý, đồng thời hoàn thiện và phát triển chúng; thứ hai, giúp con người thống trị và làm chủ được giới tự nhiên trên cơ sở nhận thức các quy luật của nó. Muốn vậy, "cần phải thay thế thứ triết học tư biện bằng một thứ triết học thực tiễn, theo đó nhận biết được sức mạnh... tất cả các sự vật xung quanh chúng ta cũng rõ ràng như chúng ta biết các nghề thủ công khác nhau của những người thợ lành nghề. Từ đó chúng ta có thể ngang tầm với họ, sử dụng những lực lượng đó trong tất cả mọi lĩnh vực, và như vậy trở thành chủ nhân và chúa tể giới tự nhiên". Quan niệm trên là quan niệm mang tính cách mạng. Nó khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của sự phát triển của khoa học đối với đời sống xã hội, đồng thời là bước tiếp cận ban đầu cho một quan niệm duy vật về bản chất và nhiệm vụ của triết học.</p><p></p><p>Để xây dựng một thứ triết học mới, ông bắt đầu từ việc phê phán mạnh mẽ các tư tưởng của giáo hội và kinh viện. Gạt bỏ những đạo lý kinh viện của tôn giáo, R.Đêcactơ đưa lý trí lên hàng đầu trong lý luận nhận thức. R.Đêcactơ cho rằng phải coi lý tính, trí tuệ con người là toà án thẩm định và đánh giá mọi tri thức, quan niệm mà nhân loại đã đạt được, nghi ngờ mọi cái mà thường ngày vẫn cho là đúng. Nghi ngờ là điểm xuất phát của phương pháp khoa học; nghi ngờ là để tìm ra chân lý, đó chỉ là tiền đề chứ không phải kết luận. Sở dĩ R.Đêcactơ coi nghi ngờ là điểm xuất phát là vì, theo ông, không thể nghi ngờ được là chính bản thân chủ thể đang nghi ngờ. Ông viết: Tôi đang hoài nghi sự tồn tại của tất cả, nhưng tôi không thể hoài nghi sự tồn tại của chính mình, vì tôi đang nghi ngờ. Nếu tôi không tồn tại thì làm sao tôi lại có thể đnag nghi ngờ được. Nhưng mặt khác, chính vì tôi đang nghi ngờ thì tôi mới biết rằng mình đang tồn tại. Bởi vậy, tôi đang tồn tại là nhờ việc tôi đang nghi ngờ. Mà nghi ngờ thì cũng là suy nghĩ, là tư duy. Do đó, ông đưa ra nguyên lí: "Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại" (Cogito, ergo sum).</p><p></p><p>Ở đây, R.Đêcactơ đã lầm khi chứng minh sự tồn tại của con người thông qua tư duy. Đáng chú ý là từ tiền đề trên, R.Đêcactơ đi đến xây dựng toàn bộ thế giới quan của mình, chứng minh sự tồn tại của các sự vật thông qua ý niệm về chúng trong ý thức của con người. Ví dụ, theo ông, lửa là vật có thật, nếu không có thật thì tại sao ai cũng có một ý tưởng nhất định về nó. Tuy nhiên, R.Đêcactơ không coi toàn bộ thế giới chỉ là sản phẩm của tư duy, không có ý định chứng minh tính ý niệm của toàn bộ thế giới hiện thực; ngược lại, ông vẫn khẳng định sự tồn tại khách quan của chúng. Điều đó cũng có nghĩa là R.Đêcactơ không phải nhà duy tâm chủ quan như G.Béccơli.</p><p></p><p>Bên cạnh những hạn chế nói trên, luận điểm "Cogito, ergo sum" của R.Đêcactơ, xét trong bối cảnh bấy giờ, có ý nghĩa tích cực: nó chống lại quan niệm giáo điều, giáo lý nhà thờ, đồng thời nó đề cao vai trò đặc biệt của lý tính, của trí tuệ con người, coi đó là chuẩn mực đánh giá suy nghĩ và hành động của con người; nó có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ sự phát triển của khoa học lý thuyết hồi đó.</p><p></p><p><strong>b. Quan niệm về thế giới</strong></p><p>Trong nghiên cứu về tự nhiên, R.Đêcactơ là một người duy vật. Thừa nhận tính khách quan của thế giới vật chất, R.Đêcactơ cho rằng tất cả các sự vật trong thế giới, kể cả các hành tinh, đều được cấu trúc từ vật chất. Tiếp thu những phát kiến của G.Galilê về mặt trăng và một số hành tinh khác, ông chứng minh mọi hành tinh đều được cấu tạo từ vật chất như trái đất. </p><p></p><p>Ông chịu ảnh hưởng của các quan niệm cơ học, máy móc về về thế giới, coi vận động không phải cái gì khác ngoài sự hoạt động, mà qua đó một vật được chuyển vị trí từ chỗ này sang chỗ khác. Ông quy toàn bộ các dạng vận động thành vận động cơ học đơn thuần; không coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất mà chỉ xem là biểu hiện cá biệt của các sự vật một cách bề ngoài. Giữa vận động và đứng yên chẳng có mối quan hệ gì với nhau. Ông thừa nhận "cái hích đầu tiên của Thượng đế". Tuy nhiên ông là người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự bao hàm của vận động, tạo tiền đề cho việc phát minh ra định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của các nhà khoa học sau này.</p><p></p><p>R.Đêcactơ đã chứng minh tính vô cùng vô tận của thế giới vật chất. Ông đồng nhất vật chất với quảng tính (sai lầm này dẫn đến lập trường nhị nguyên), chống lại quan niệm "không gian tuyệt đối" và "thời gian tuyệt đối". R.Đêcactơ là người đầu tiên khám phá ra tính chất sóng của ánh sáng, là tác giả của giả thuyết gió xoáy, một trong những giả thuyết đầu tiên về sự hình thành của vũ trụ và thế giới của chúng ta.</p><p></p><p> Nhưng khi bàn về bản nguyên của thế giới, về nguồn gốc của các sự vật, ông lại cho rằng, có hai loại sự vật thuộc hai thực thể khác nhau: Thực thể thứ nhất là thực thể tư duy, bao gồm các ý niệm, tư tưởng, tổng số các ý thức cá nhân của con người, sự tương đồng giữa chúng. Thực thể thứ hai là thực thể quảng tính hay vật chất, bao gồm những vật thể mang tính chất không gian và thời gian, những vật thể mà các giác quan của chúng ta có thể cảm nhận được. Thực thể là một thế giới hoàn toàn độc lập, không cần và không liên quan đến cái khác, tự nó có thể tồn tại và phát triển được. Tuy nhiên, cả hai thực thể này lại phụ thuộc vào Thượng đế, do Thượng đế sinh ra. Ngoài Thượng đế duy nhất ra, tất cả các sự vật đều thuộc về một trong hai thực thể trên. Con người là vật thể đặc biệt, thuộc về cả hai thực thể. Con người là sự liên kết nhờ Thượng đế, linh hồn và thể xác là hai mảnh hoàn toàn độc lập với nhau.</p><p></p><p>Tóm lại, có thể hiểu bức tranh khái quát về thế giới trong siêu hình học của R.Đêcactơ như sau:</p><p></p><p><strong><em>Thượng đế </em></strong></p><p><strong><em>Thực thể tinh thần </em></strong></p><p><strong><em>(Tư duy) </em></strong></p><p><strong><em>Thực thể quảng tính </em></strong></p><p><strong><em>(Vật chất) </em></strong></p><p><strong><em>Linh hồn con người</em></strong></p><p><strong><em>Thể xác con người</em> </strong></p><p></p><p><strong>c. Lý luận nhận thức và phương pháp luận</strong></p><p>R.Đêcactơ cho rằng, bên cạnh việc xây dựng bức tranh khái quát về thế giới, siêu hình học tức triết học còn có nhiệm vụ đề ra những nguyên lý cơ bản của phương pháp luận, một vấn đề vô cùng cần thiết đối với nhận thức. Ông mong muốn xây dựng một lôgic học "dạy cách vận dụng lý lính một cách tốt nhất, nhằm nhận thức những chân lý mà ta chưa biết".</p><p></p><p>R.Đêcactơ đặc biệt đề cao vai trò của lý tính, hướng tới hoàn thiện và phát triển khả năng trí tuệ của con người. Ông đưa ra một số quy tắc cơ bản của phương pháp luận như sau:</p><p></p><p>Quy tắc thứ nhất: Chỉ coi là chân lý đúng đắn những gì được cảm nhận rất rõ ràng và rành mạch, không gợi lên một chút nghi ngờ gì cả, tức những điều hiển nhiên.</p><p></p><p>Quy tắc thứ hai: Chia các sự vật phức tạp, trong chừng mực có thể làm được, thành các bộ phận cấu thành nó để tiện lợi nhất trong việc nghiên cứu chúng. Thực chất, R.Đêcactơ đề cao phương pháp phân tích trong nhận thức.</p><p></p><p>Quy tắc thứ ba: Trong quá trình nhận thức chúng ta cần phải xuất phát từ những điều đơn giản và sơ đẳng nhất, dần dần đi đến những điều phức tạp hơn.</p><p></p><p>Quy tắc thứ tư: Phải xem xét đầy đủ mọi dữ kiện, không được bỏ sót một tư liệu nào trong quá trình nhận thức sự vật.</p><p></p><p>Trên lập trường duy lý, R.Đêcactơ đặc biệt đề cao vai trò của phương pháp diễn dịch, mặc dù không hoàn toàn phủ nhận vị trí của phương pháp quy nạp, cũng như nhận thức cảm tính.</p><p></p><p>Nhìn chung, phương pháp luận của R.Đêcactơ mặc dù có nhiều hạn chế nhưng cũng có nhiều yếu tố tích cực và cách mạng. Ông đã nhận thức được những hạn chế của phương pháp kinh viện truyền thống và tìm cách xây dựng một phương pháp luận mới đáp ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa học sau thời trung cổ. Phương pháp luận của ông ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển khoa học, kĩ thuật sau đó.</p><p></p><p><strong>d. Quan niệm về con người</strong></p><p>Ông khẳng định, con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác. Theo quan điểm nhị nguyên luận, ông hoàn toàn tách biệt thể xác và linh hồn, coi chúng có nguồn gốc từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn toàn tách biệt. Ông coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất của nó là tư duy, tồn tại không cần đến và không phụ thuộc vào bất kì một sự vật vật chất nào. Linh hồn là bất diệt, nó không bị phân huỷ khi con người chết. Con người có được là do Thượng đế ghép linh hồn vào thể xác. Cơ thể con người là chỗ trú chân tạm thời của linh hồn khi anh ta sống.</p><p></p><p>Tóm lại, quan niệm triết học của R.Đêcactơ là hệ thống có nhiều yếu tố hợp lý nhưng cũng có nhiều mâu thuẫn. Điều đó thể hiện sự bế tắc của lập trường nhị nguyên trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề của triết học và khoa học. Nó thể hiện sự trăn trở của ông khi muốn xây dựng một hệ thống triết học và khoa học thực sự trong bối cảnh ảnh hưởng của các thế lực tôn giáo trong xã hội còn đang rất mạnh. Công lao vĩ đại của R.Đêcactơ là ở chỗ ông đã đặt ra hàng loạt lý luận mới đối với sự phát triển của triết học và khoa học sau này. Học thuyết của ông có ảnh hưởng to lớn đối với nhiều nhà khoa học và triết học. Một trong những người chịu ảnh hưởng lớn của ông là nhà triết học duy vật vô thần người Hà Lan, Bêkênit Xpinôda (1632-1677).</p><p></p><p><strong>3.2.3. Giooc Beccơli (1685-1753)</strong></p><p>Giooc Beccơli (George berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người Anh, đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Ông sinh trong một gia đình quý tộc miền Nam Ailen. Năm 15 tuổi ông đã học tại Đại học Tổng hợp Đublin. Ông say mê nghiên cứu thần học, toán học, triết học cho đến cuối đời. Ông có nhiều tác phẩm như Kinh nghiệm của thuyết thị giác mới (1709), Khái niệm về các nguyên lý của nhận thức con người (1710)...</p><p></p><p><strong>a. Quan niệm về thế giới</strong></p><p>G.Beccơli chịu nhiều ảnh hưởng của các xu hướng phê phán các quan niệm triết học cũ. Ông sử dụng ngay lập trường duy cảm của các nhà duy vật Anh để chống lại họ và các hệ thống siêu hình học lúc bấy giờ. Đặc biệt ông chống lại các quan niệm duy vật về vật chất, cho rằng chỉ có sự vật riêng lẻ tồn tại (với tính cách là tổ hợp các cảm giác của con người), còn tất cả những gì phổ biến, trước hết là thực thể vật chất, đều bị xem là trừu tượng trống rỗng.</p><p></p><p>G.Beccơli khẳng định nguồn gốc hoàn toàn chủ quan của các sự vật trong thế giới, coi chúng chỉ là hiện thân của cảm giác con người. Ông viết: "Tôi hiểu ý niệm là bất kì sự vật nào được cảm giác hay tưởng tượng... Sự tồn tại của các sự vật không khác gì với sự tưởng tượng cảm tính hay tri giác". Điều đó có nghĩa là tất cả các đặc tính của sự vật không tồn tại khách quan mà chỉ tồn tại trong ý thức của con người. Sự vật không phải là sự phản ánh khách thể mà nó chính là sự vật thực tế. </p><p></p><p>Từ quan niệm trên, G.Beccơli đi đến một công thức chung: Tồn tại tức là được tri giác (esse est percipi). "Khi tôi nói rằng, cái bàn mà tôi đang viết trên nó tồn tại thì điều đó có nghĩa rằng tôi đang nhìn và tôi đang cảm giác được nó; và nếu tôi đi ra khỏi căn phòng của mình, nếu tôi nói là cái bàn đang tồn tại, thì tôi có hàm ý rằng, nếu tôi ở trong phòng của mình, thì tôi có thể cảm nhận nó,... Ở đây có mùi có nghĩa là tôi đang ngửi thấy, ở đây có âm thanh có nghĩa là tôi đang nghe thấy". Mọi quan niệm duy vật về tồn tại đều bị G.Beccơli phê phán.</p><p></p><p>Quan niệm trên đưa G.Beccơli đến chủ nghĩa duy ngã: ngoài cái tôi ra thì không có gì hết. Không có chủ thể thì không có khách thể. Ông nói: "Một điều kì lạ là trong nhiều người có ý kiến cho rằng, các ngôi nhà, sông núi, tóm lại các sự vật cảm tính lại có được sự tồn tại hiện thực mang tính tự nhiên khác với sự tồn tại mà lý tính đang cảm nhận chúng, tôi cho rằng tất cả sự vật cấu thành vũ trụ không có sự tồn tại bên ngoài tinh thần".</p><p></p><p>Tính chất phi lý hiển nhiên của chủ nghĩa duy ngã được G.Beccơli giải quyết bằng cách cho rằng, mọi sự vật trong vũ trụ, sở dĩ tồn tại vì chúng được Thượng đế tri giác. Thực chất, do sự bất lực của lập trường duy tâm chủ quan, G.Beccơli đã phải ngả sang lập trường duy tâm khách quan. Tuy nhiên, về cơ bản ông vẫn là đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan thời cận đại.</p><p></p><p><strong>b. Quan niệm về con người </strong></p><p>Cũng như các nhà duy tâm khác, G.Beccơli quan niệm con người bao gồm linh hồn và thể xác; linh hồn là cái quyết định. Thể xác thuộc về các vật thể tự nhiên, tức các cảm giác. Do vậy, thể xác tồn tại được là nhờ linh hồn cảm nhận nó. Thể xác phải tuân theo cái gậy chỉ huy của linh hồn.</p><p></p><p>Đối với linh hồn con người, G.Beccơli cho rằng, "tồn tại nghĩa là cảm nhận". Có nghĩa là linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác mà trước hết là cảm nhận thể xác của con người.</p><p></p><p><strong>c. Về nhận thức luận</strong></p><p>Từ chỗ khẳng định nguồn gốc hoàn toàn chủ quan của mọi sự vật trong thế giới, coi toàn bộ thế giới chỉ là chỉ là tổ hợp các cảm giác của con người, G.Beccơli cho rằng linh hồn là cái quyết định quá trình nhận thức. Linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác, và cũng chỉ khi nó bắt đầu cảm nhận thì chúng ta mới có được tri giác về sự vật.</p><p></p><p>G.Beccơli đề cao cảm giác, đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với các cảm giác. Các khái niệm trừu tượng chỉ là kết quả so sánh và phân tích các cảm giác. Mặc dù các ý niệm, tức các cảm giác, tồn tại trong linh hồn nhưng chúng khác với linh hồn, bởi vì linh hồn là cơ chất và nền tảng "nuôi dưỡng" các ý niệm, cảm giác.</p><p></p><p>Theo G.Beccơli, chân lý là sự phù hợp giữa sự suy diễn của con người về sự vật với chính bản thân sự vật đó tồn tại trên thực tế. Tuy nhiên, ông phủ nhận sự tồn tại khách quan của chân lý. Tri thức được coi là đúng khi nó thoả mãn một trong những tiêu chuẩn sau:</p><p></p><p><em>1) Tính rõ ràng cả các tri giác cảm tính;</em></p><p><em>2) Tính đồng thời của các tri giác gần như là giống nhau ở một vài người;</em></p><p><em>3) Sự tương đồng của nhiều cảm giác với nhau;</em></p><p><em>4) Tính đơn giản và dễ hiểu;</em></p><p><em>5) Sự phù hợp với ý chúa và tuân theo ý chúa.</em></p><p><em>Trong tất cả các tiêu chuẩn trên thì tiêu chuẩn phù hợp với ý chúa là quan trọng nhất và đáng tin cậy nhất.</em></p><p></p><p> <strong>3.2.4. Điđơrô và các nhà triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII</strong></p><p>Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là một giai đoạn phát triển quan trọng trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học Tây Âu và thế giới. Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là sự kế tục và phát triển mới về chất các khuynh hướng tư tưởng bài trừ siêu hình học thế kỉ XVII, cũng như đánh giá lại các giá trị tuyền thống. Nó bắt đầu từ việc phê phán không thương tiếc các quan niệm cũ về thế giới và con người.</p><p></p><p>Là vũ khí lí luận của giai cấp tư sản Pháp trong thời kì chuẩn bị cho cộc đại cách mạng tư sản Pháp 1789, được hình thành bởi các nhà Khai sáng Pháp, triết học Khai sáng Pháp có nhiệm vụ thu hút, giác ngộ, tập hợp đông đảo mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội, hướng họ tới cuộc đấu tranh cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, xây dựng chế độ tư sản. Chính vì vậy mà triết học Khai sáng Pháp có nội dung cơ bản là duy vật, tiến bộ, nó đề cập nhiều đến tiến bộ xã hội, tự do của con người...</p><p></p><p> Cùng với sự hưng thịnh của văn hoá Pháp thời kì này, trên lĩnh vực tư tưởng có nhiều nhà khai sáng, họ vừa là các nhà triết học, vừa là những người uyên bác về nhiều lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học. Tiêu biểu là Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775), Phrăngxoa Mari Vônte (1694-1778), Giăng Giắc Rutxô (1712-1778), Đeni Điđrô (1713-1784), Giulen Ôphrơ Lamettri (1709-1751), Hônbách (1729-1789), Henvêtiúyt (1715-1771)... Ở đây chỉ đề cập đến tư tưởng triết học của các nhà duy vật vô thần Pháp mà người giữ vai trò lãnh đạo là Đ.Điđrô.</p><p></p><p>Các nhà triết học duy vật vô thần Pháp thế kỷ XVIII mà các đại biểu xuất sắc là Lamettri, Hônbách, Điđrô, Henvêtiúyt (nhóm Bách khoa toàn thư Pháp) đã góp phần quan trọng vào sự phát triển triết học duy vật vô thần. Họ đấu tranh kiên quyết chống lại tôn giáo, kêu gọi đẩy mạnh nghiên cứu giới tự nhiên. Họ cho rằng, không nắm được các quy luật của tự nhiên thì con người không thể có hạnh phúc. Mục đích của khoa học và triết học là phải nhận thức và chinh phục giới tự nhiên.</p><p></p><p><strong><em>Tư tưởng triết học của Đ.Điđrô</em></strong></p><p>Đ.Điđrô sinh tại một thành phố ở Đông Bắc nước Pháp, trong một gia đình thợ thủ công. Sau nhiều năm học ở Pari, do chịu ảnh hưởng tư tưởng của các nhà khai sáng, ông từ bỏ ý định thành nhà hoạt động tôn giáo, như mong muốn của người cha. Ông là người khởi xướng và chủ biên bộ Bách khoa toàn thư của khoa học, nghệ thuật và thủ công nghiệp (1751-1780). Đây là một trong những bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của thế giới - một trong những di sản văn hoá vĩ đại không chỉ của nước Pháp mà cả Tây Âu thế kỉ XVIII nói chung. Nó có vai trò rất to lớn trong việc xây dựng và truyền bá thế giới quan khai sáng. Ông có nhiều tác phẩm như Tư tưởng triết học (1746), Cuộc dạo chơi của nhà hoài nghi luận hay là Alleax (1747), là tác giả nhiều tác phẩm văn học mang đầy tính triết lý như Nữ tu sĩ, Người cháu của ông Ramô...</p><p></p><p><strong><em>a. Quan niệm về thế giới</em></strong></p><p>Đ.Điđrô khẳng định tính vật chất của thế giới đồng thời phê phán mạnh mẽ những điểm không triệt để của chủ nghĩa duy vật Anh, mỉa mai quan niệm duy tâm chủ quan của G.Beccơli vì ông này đã quy toàn bộ thế giới thành các cảm giác của một chủ thể. Đ.Điđrô ví chủ thể của G.Beccơli như một chiếc đàn pianô ngộ nhận rằng nó là nhạc cụ duy nhất trên thế gian, và mọi sự hài hoà của vũ trụ đều diễn ra trong đó. Theo ông, trong vũ trụ chỉ có một thực thể, cả trong con người lẫn động vật và các sự vật khác, đó là vật chất.</p><p></p><p>Đ.Điđrô đã có bước tiến mới trong quan niệm về vận động, thừa nhận sự phát triển của thế giới. Ông cho rằng, bản tính cố hữu của vật chất là vận động. Chính vận động là năng lực sống động của vật chất. Ông quan niệm sự dịch chuyển của vật thể từ vị trí này sang vị trí khác không phải là vận động mà chỉ là sự di động, còn vận động thì có cả ở vật đang vận động lẫn vật đứng yên. Ông khẳng định, trong quá trình vận động và phát triển, giới tự nhiên sẽ chọn lọc mhững gì giúp cho nó ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải những vật nào không thích nghi hoặc không tuân theo quy luật của nó. Cấu trúc và trạng thái của các sinh vật là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên. Với quan niệm này, ông là bậc tiền bối của thuyết tiến hoá của Đácuyn.</p><p></p><p><strong><em>b. Quan niệm về con người</em></strong> </p><p>Đ.Điđrô cho rằng con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn không có nguồn gốc từ chúa mà là một tổng thể các hiện tượng tâm lý. Bản thân nó cũng là đặc tính của vật chất. Ông viết: "Không có cơ thể con người thì nó (tức linh hồn) không là cái gì cả. Tôi khẳng định rằng, không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì cả". Ông nhấn mạnh, cơ thể con người là khí quan vật chất của tư duy, ý thức cũng như mọi quá trình tâm lý của anh ta. Ông đã nhận thấy, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh môi trường xung quanh nhưng chưa hiểu được rằng, bản thân môi trường và hoàn cảnh đó cũng là sản phẩm của hoạt động con người, và vì vậy, cả con người lẫn hoàn cảnh sống của nó đều mang tính lịch sử. Đây cũng là hạn chế chung của các triết học trước Mác.</p><p></p><p><strong><em>c. Về lý luận nhận thức</em></strong></p><p>Cũng như các nhà duy vật khác, Đ.Điđrô thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức. Ông cho rằng quá trình chuyển biến từ vô tri vô giác tới khả năng cảm giác, tư duy gắn liền với quá trình phát triển của cấu trúc vật chất từ vô cơ, hữu cơ đến sự sống và cơ thể con người. Tuy nhiên, cũng như các nhà duy vật trước Mác, ông chưa thấy được rằng, ý thức không chỉ là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, mà còn là sản phẩm của sự phát triển xã hội.</p><p>Đề cao vai trò đặc biệt của quá trình nhận thức đối với sự phát triển của xã hội, Đ.Điđrô đưa ra tư tưởng biện chứng khẳng định tính vô cùng tận trong sự phát triển của giơí tự nhiên, cũng như quá trình nhận thức của con người. Tuy khả năng nhận thức của mỗi cá nhân là hữu hạn, nhưng đối với nhân loại về nguyên tắc có thể nhận thức được toàn bộ thế giới, mặc dù quá trình đó cũng là vô tận.</p><p></p><p><strong><em>d. Quan niệm về xã hội - tôn giáo</em></strong></p><p>Là nhà triết học duy vật triệt để và vô thần nhất của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, Đ.Điđrô phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, coi Thượng đế chỉ là sự thần thánh hoá các điều kiện sống hiện thực của con người. Không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà là con người sáng tạo ra tôn giáo.</p><p></p><p>Ông viết: "Nếu như lý tính là của trời cho và tín ngưỡng cũng tương tự như vậy, nghĩa là trời cho chúng ta hai vật không thể dung hợp được với nhau… Để loại trừ bế tắc đó, cần phải thừa nhận rằng tín ngưỡng là một nguyên lý huyền thoại, không tưởng". Ông chỉ ra sự khác biệt giữa khoa học và tôn giáo: Khoa học thì hướng tới vũ trang cho chúng ta quan niệm đúng về thế giới, làm cho con người lớn mạnh thêm lên, còn tôn giáo thì chỉ đem lại những điều ảo tưởng, làm cho con người mềm yếu đi. "Thượng đế của những người Cơ đốc giáo - đó là người bố chỉ coi trọng những đám mây, chứ chẳng để tâm gì đến những đứa con của mình" trên trần gian cả.</p><p></p><p>Đ.Điđrô kịch liệt phê phán những quan niệm đạo đức của tôn giáo, coi đó chỉ là trò giáo dục con người tới chỗ cả tin vào số mệnh. Thực chất, tôn giáo chỉ là sợi dây cương yếu ớt ngăn chặn các hành vi phạm tội của con người. Khẳng định chính môi trường và hoàn cảnh tạo nên bộ mặt trí tuệ và đạo đức của con người, Đ.Điđrô kêu gọi xoá bỏ các quan hệ phong kiến của nước Pháp, cái đã thông qua tôn giáo làm hư hỏng con người, đồng thời kêu gọi xây dựng một cuộc sống hiện thực chứ đừng tin vào tôn giáo.</p><p></p><p>Tuy nhiên Đ.Điđrô chưa nhận thấy cơ sở kinh tế - xã hội của sự tồn tại tôn giáo. Ông mới chỉ thấy được nguồn gốc nhận thức của nó là từ sự kém hiểu biết và từ tâm lý sợ chết của con người. Vì vậy, ông đã sai lầm khi cho rằng, để xoá bỏ tôn giáo chỉ cần xoá bỏ nỗi lo sợ của con người, chỉ cần mở rộng hệ thống giáo dục trong nhân dân, đồng thời tiêu diệt giới tu hành.</p><p></p><p>Tuy còn hạn chế như trên nhưng sự phê phán tôn giáo của Đ.Điđrô đã mang nhiều yếu tố tích cực trong bối cảnh lịch sử lúc đó của nước Pháp và Tây Âu.</p><p></p><p><strong><em><p style="text-align: right">(Nguồn: ĐHSP HN)</p><p></em></strong></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Bút Nghiên, post: 17432, member: 699"] [B]2.3. Rơnê Đêcáctơ (1596-1654)[/B] Rơnê Đêcáctơ (Rene Descartes) là nhà triết học, nhà bách khoa toàn thư vĩ đại người Pháp. Có thể nói, cùng với Ph.Bêcơn, "Đêcáctơ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học" Tây Âu cận đại. Rơnê Đêcáctơ sinh trong một gia đình quý tộc miền Nam nước Pháp. Mồ côi mẹ từ nhỏ, ông được bố cho học ở một trường phổ thông nổi tiếng ở Liaflet. Bất mãn với chương trình học thời đó, ông tuyên bố rằng, kết quả duy nhất trong thời gian học phổ thông là làm cho ông dốt thêm! Ông đặc biệt say mê nghiên cứu về triết học và khoa học tự nhiên. Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như Các quy tắc chỉ đạo lý tính (1630), Thế giới (1633), Các nguyên lý của triết học (1644), Suy diễn về phương pháp (1637-1638). R.Đêcactơ là nhà triết học nhị nguyên, chủ yếu bàn về nhận thức luận và phương pháp luận và là người sáng lập chủ nghĩa duy lý. [B]a. Quan niệm của R.Đêcactơ về bản chất và vai trò của triết học[/B] Cũng như Ph.Bêcơn, R.Đêcactơ đặc biệt đề cao vai trò của triết học đối với đời sống của con người. Theo ông, trình độ phát triển của tư duy triết học là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá mức độ văn minh của con người và sự ưu việt của dân tộc này so với dân tộc khác. Bởi vì, "chỉ có triết học là phân biệt chúng ta khác với bọn thổ dân và bọn mọi rợ, và dân tộc nào văn minh hơn, có học thức hơn thì dân tộc đó có triết lí tốt hơn". "Triết học là sự thể hiện cơ bản nhất sự thông thái của con người không chỉ trong lĩnh vực nhận thức mà cả trong các công việc khác." Trong quan niệm của R.Đêcactơ, triết học theo nghĩa rộng là tổng thể tri thức của con người về nhiều lĩnh vực; theo nghĩa hẹp là siêu hình học, được coi như nền tảng của hệ thống thế giới quan. R.Đêcactơ cho rằng có sự thống nhất hữu cơ giữa các khoa học vì đối tượng chung của chúng là Thượng đế, giới hiện thực và con người như một chỉnh thể thống nhất. Mục đích chung của chúng là khám phá ra chân lý. Toàn bộ thế giới quan khoa học của con người "tương tự như một cái cây, mà bộ rễ của nó là siêu hình học, thân cây là vật lý học, còn toàn bộ các khoa học khác có thể quy thành y học, cơ học và đạo đức học thì như những chiếc cành mọc ra từ thân cây đó". Nhiệm vụ của triết học là: thứ nhất, xây dựng nguyên lý, phương pháp luận cơ bản làm cơ sở cho các khoa học khám phá chân lý, đồng thời hoàn thiện và phát triển chúng; thứ hai, giúp con người thống trị và làm chủ được giới tự nhiên trên cơ sở nhận thức các quy luật của nó. Muốn vậy, "cần phải thay thế thứ triết học tư biện bằng một thứ triết học thực tiễn, theo đó nhận biết được sức mạnh... tất cả các sự vật xung quanh chúng ta cũng rõ ràng như chúng ta biết các nghề thủ công khác nhau của những người thợ lành nghề. Từ đó chúng ta có thể ngang tầm với họ, sử dụng những lực lượng đó trong tất cả mọi lĩnh vực, và như vậy trở thành chủ nhân và chúa tể giới tự nhiên". Quan niệm trên là quan niệm mang tính cách mạng. Nó khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của sự phát triển của khoa học đối với đời sống xã hội, đồng thời là bước tiếp cận ban đầu cho một quan niệm duy vật về bản chất và nhiệm vụ của triết học. Để xây dựng một thứ triết học mới, ông bắt đầu từ việc phê phán mạnh mẽ các tư tưởng của giáo hội và kinh viện. Gạt bỏ những đạo lý kinh viện của tôn giáo, R.Đêcactơ đưa lý trí lên hàng đầu trong lý luận nhận thức. R.Đêcactơ cho rằng phải coi lý tính, trí tuệ con người là toà án thẩm định và đánh giá mọi tri thức, quan niệm mà nhân loại đã đạt được, nghi ngờ mọi cái mà thường ngày vẫn cho là đúng. Nghi ngờ là điểm xuất phát của phương pháp khoa học; nghi ngờ là để tìm ra chân lý, đó chỉ là tiền đề chứ không phải kết luận. Sở dĩ R.Đêcactơ coi nghi ngờ là điểm xuất phát là vì, theo ông, không thể nghi ngờ được là chính bản thân chủ thể đang nghi ngờ. Ông viết: Tôi đang hoài nghi sự tồn tại của tất cả, nhưng tôi không thể hoài nghi sự tồn tại của chính mình, vì tôi đang nghi ngờ. Nếu tôi không tồn tại thì làm sao tôi lại có thể đnag nghi ngờ được. Nhưng mặt khác, chính vì tôi đang nghi ngờ thì tôi mới biết rằng mình đang tồn tại. Bởi vậy, tôi đang tồn tại là nhờ việc tôi đang nghi ngờ. Mà nghi ngờ thì cũng là suy nghĩ, là tư duy. Do đó, ông đưa ra nguyên lí: "Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại" (Cogito, ergo sum). Ở đây, R.Đêcactơ đã lầm khi chứng minh sự tồn tại của con người thông qua tư duy. Đáng chú ý là từ tiền đề trên, R.Đêcactơ đi đến xây dựng toàn bộ thế giới quan của mình, chứng minh sự tồn tại của các sự vật thông qua ý niệm về chúng trong ý thức của con người. Ví dụ, theo ông, lửa là vật có thật, nếu không có thật thì tại sao ai cũng có một ý tưởng nhất định về nó. Tuy nhiên, R.Đêcactơ không coi toàn bộ thế giới chỉ là sản phẩm của tư duy, không có ý định chứng minh tính ý niệm của toàn bộ thế giới hiện thực; ngược lại, ông vẫn khẳng định sự tồn tại khách quan của chúng. Điều đó cũng có nghĩa là R.Đêcactơ không phải nhà duy tâm chủ quan như G.Béccơli. Bên cạnh những hạn chế nói trên, luận điểm "Cogito, ergo sum" của R.Đêcactơ, xét trong bối cảnh bấy giờ, có ý nghĩa tích cực: nó chống lại quan niệm giáo điều, giáo lý nhà thờ, đồng thời nó đề cao vai trò đặc biệt của lý tính, của trí tuệ con người, coi đó là chuẩn mực đánh giá suy nghĩ và hành động của con người; nó có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ sự phát triển của khoa học lý thuyết hồi đó. [B]b. Quan niệm về thế giới[/B] Trong nghiên cứu về tự nhiên, R.Đêcactơ là một người duy vật. Thừa nhận tính khách quan của thế giới vật chất, R.Đêcactơ cho rằng tất cả các sự vật trong thế giới, kể cả các hành tinh, đều được cấu trúc từ vật chất. Tiếp thu những phát kiến của G.Galilê về mặt trăng và một số hành tinh khác, ông chứng minh mọi hành tinh đều được cấu tạo từ vật chất như trái đất. Ông chịu ảnh hưởng của các quan niệm cơ học, máy móc về về thế giới, coi vận động không phải cái gì khác ngoài sự hoạt động, mà qua đó một vật được chuyển vị trí từ chỗ này sang chỗ khác. Ông quy toàn bộ các dạng vận động thành vận động cơ học đơn thuần; không coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất mà chỉ xem là biểu hiện cá biệt của các sự vật một cách bề ngoài. Giữa vận động và đứng yên chẳng có mối quan hệ gì với nhau. Ông thừa nhận "cái hích đầu tiên của Thượng đế". Tuy nhiên ông là người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự bao hàm của vận động, tạo tiền đề cho việc phát minh ra định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của các nhà khoa học sau này. R.Đêcactơ đã chứng minh tính vô cùng vô tận của thế giới vật chất. Ông đồng nhất vật chất với quảng tính (sai lầm này dẫn đến lập trường nhị nguyên), chống lại quan niệm "không gian tuyệt đối" và "thời gian tuyệt đối". R.Đêcactơ là người đầu tiên khám phá ra tính chất sóng của ánh sáng, là tác giả của giả thuyết gió xoáy, một trong những giả thuyết đầu tiên về sự hình thành của vũ trụ và thế giới của chúng ta. Nhưng khi bàn về bản nguyên của thế giới, về nguồn gốc của các sự vật, ông lại cho rằng, có hai loại sự vật thuộc hai thực thể khác nhau: Thực thể thứ nhất là thực thể tư duy, bao gồm các ý niệm, tư tưởng, tổng số các ý thức cá nhân của con người, sự tương đồng giữa chúng. Thực thể thứ hai là thực thể quảng tính hay vật chất, bao gồm những vật thể mang tính chất không gian và thời gian, những vật thể mà các giác quan của chúng ta có thể cảm nhận được. Thực thể là một thế giới hoàn toàn độc lập, không cần và không liên quan đến cái khác, tự nó có thể tồn tại và phát triển được. Tuy nhiên, cả hai thực thể này lại phụ thuộc vào Thượng đế, do Thượng đế sinh ra. Ngoài Thượng đế duy nhất ra, tất cả các sự vật đều thuộc về một trong hai thực thể trên. Con người là vật thể đặc biệt, thuộc về cả hai thực thể. Con người là sự liên kết nhờ Thượng đế, linh hồn và thể xác là hai mảnh hoàn toàn độc lập với nhau. Tóm lại, có thể hiểu bức tranh khái quát về thế giới trong siêu hình học của R.Đêcactơ như sau: [B][I]Thượng đế Thực thể tinh thần (Tư duy) Thực thể quảng tính (Vật chất) Linh hồn con người Thể xác con người[/I] [/B] [B]c. Lý luận nhận thức và phương pháp luận[/B] R.Đêcactơ cho rằng, bên cạnh việc xây dựng bức tranh khái quát về thế giới, siêu hình học tức triết học còn có nhiệm vụ đề ra những nguyên lý cơ bản của phương pháp luận, một vấn đề vô cùng cần thiết đối với nhận thức. Ông mong muốn xây dựng một lôgic học "dạy cách vận dụng lý lính một cách tốt nhất, nhằm nhận thức những chân lý mà ta chưa biết". R.Đêcactơ đặc biệt đề cao vai trò của lý tính, hướng tới hoàn thiện và phát triển khả năng trí tuệ của con người. Ông đưa ra một số quy tắc cơ bản của phương pháp luận như sau: Quy tắc thứ nhất: Chỉ coi là chân lý đúng đắn những gì được cảm nhận rất rõ ràng và rành mạch, không gợi lên một chút nghi ngờ gì cả, tức những điều hiển nhiên. Quy tắc thứ hai: Chia các sự vật phức tạp, trong chừng mực có thể làm được, thành các bộ phận cấu thành nó để tiện lợi nhất trong việc nghiên cứu chúng. Thực chất, R.Đêcactơ đề cao phương pháp phân tích trong nhận thức. Quy tắc thứ ba: Trong quá trình nhận thức chúng ta cần phải xuất phát từ những điều đơn giản và sơ đẳng nhất, dần dần đi đến những điều phức tạp hơn. Quy tắc thứ tư: Phải xem xét đầy đủ mọi dữ kiện, không được bỏ sót một tư liệu nào trong quá trình nhận thức sự vật. Trên lập trường duy lý, R.Đêcactơ đặc biệt đề cao vai trò của phương pháp diễn dịch, mặc dù không hoàn toàn phủ nhận vị trí của phương pháp quy nạp, cũng như nhận thức cảm tính. Nhìn chung, phương pháp luận của R.Đêcactơ mặc dù có nhiều hạn chế nhưng cũng có nhiều yếu tố tích cực và cách mạng. Ông đã nhận thức được những hạn chế của phương pháp kinh viện truyền thống và tìm cách xây dựng một phương pháp luận mới đáp ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa học sau thời trung cổ. Phương pháp luận của ông ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển khoa học, kĩ thuật sau đó. [B]d. Quan niệm về con người[/B] Ông khẳng định, con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác. Theo quan điểm nhị nguyên luận, ông hoàn toàn tách biệt thể xác và linh hồn, coi chúng có nguồn gốc từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn toàn tách biệt. Ông coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất của nó là tư duy, tồn tại không cần đến và không phụ thuộc vào bất kì một sự vật vật chất nào. Linh hồn là bất diệt, nó không bị phân huỷ khi con người chết. Con người có được là do Thượng đế ghép linh hồn vào thể xác. Cơ thể con người là chỗ trú chân tạm thời của linh hồn khi anh ta sống. Tóm lại, quan niệm triết học của R.Đêcactơ là hệ thống có nhiều yếu tố hợp lý nhưng cũng có nhiều mâu thuẫn. Điều đó thể hiện sự bế tắc của lập trường nhị nguyên trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề của triết học và khoa học. Nó thể hiện sự trăn trở của ông khi muốn xây dựng một hệ thống triết học và khoa học thực sự trong bối cảnh ảnh hưởng của các thế lực tôn giáo trong xã hội còn đang rất mạnh. Công lao vĩ đại của R.Đêcactơ là ở chỗ ông đã đặt ra hàng loạt lý luận mới đối với sự phát triển của triết học và khoa học sau này. Học thuyết của ông có ảnh hưởng to lớn đối với nhiều nhà khoa học và triết học. Một trong những người chịu ảnh hưởng lớn của ông là nhà triết học duy vật vô thần người Hà Lan, Bêkênit Xpinôda (1632-1677). [B]3.2.3. Giooc Beccơli (1685-1753)[/B] Giooc Beccơli (George berkeley) là nhà triết học nổi tiếng người Anh, đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Ông sinh trong một gia đình quý tộc miền Nam Ailen. Năm 15 tuổi ông đã học tại Đại học Tổng hợp Đublin. Ông say mê nghiên cứu thần học, toán học, triết học cho đến cuối đời. Ông có nhiều tác phẩm như Kinh nghiệm của thuyết thị giác mới (1709), Khái niệm về các nguyên lý của nhận thức con người (1710)... [B]a. Quan niệm về thế giới[/B] G.Beccơli chịu nhiều ảnh hưởng của các xu hướng phê phán các quan niệm triết học cũ. Ông sử dụng ngay lập trường duy cảm của các nhà duy vật Anh để chống lại họ và các hệ thống siêu hình học lúc bấy giờ. Đặc biệt ông chống lại các quan niệm duy vật về vật chất, cho rằng chỉ có sự vật riêng lẻ tồn tại (với tính cách là tổ hợp các cảm giác của con người), còn tất cả những gì phổ biến, trước hết là thực thể vật chất, đều bị xem là trừu tượng trống rỗng. G.Beccơli khẳng định nguồn gốc hoàn toàn chủ quan của các sự vật trong thế giới, coi chúng chỉ là hiện thân của cảm giác con người. Ông viết: "Tôi hiểu ý niệm là bất kì sự vật nào được cảm giác hay tưởng tượng... Sự tồn tại của các sự vật không khác gì với sự tưởng tượng cảm tính hay tri giác". Điều đó có nghĩa là tất cả các đặc tính của sự vật không tồn tại khách quan mà chỉ tồn tại trong ý thức của con người. Sự vật không phải là sự phản ánh khách thể mà nó chính là sự vật thực tế. Từ quan niệm trên, G.Beccơli đi đến một công thức chung: Tồn tại tức là được tri giác (esse est percipi). "Khi tôi nói rằng, cái bàn mà tôi đang viết trên nó tồn tại thì điều đó có nghĩa rằng tôi đang nhìn và tôi đang cảm giác được nó; và nếu tôi đi ra khỏi căn phòng của mình, nếu tôi nói là cái bàn đang tồn tại, thì tôi có hàm ý rằng, nếu tôi ở trong phòng của mình, thì tôi có thể cảm nhận nó,... Ở đây có mùi có nghĩa là tôi đang ngửi thấy, ở đây có âm thanh có nghĩa là tôi đang nghe thấy". Mọi quan niệm duy vật về tồn tại đều bị G.Beccơli phê phán. Quan niệm trên đưa G.Beccơli đến chủ nghĩa duy ngã: ngoài cái tôi ra thì không có gì hết. Không có chủ thể thì không có khách thể. Ông nói: "Một điều kì lạ là trong nhiều người có ý kiến cho rằng, các ngôi nhà, sông núi, tóm lại các sự vật cảm tính lại có được sự tồn tại hiện thực mang tính tự nhiên khác với sự tồn tại mà lý tính đang cảm nhận chúng, tôi cho rằng tất cả sự vật cấu thành vũ trụ không có sự tồn tại bên ngoài tinh thần". Tính chất phi lý hiển nhiên của chủ nghĩa duy ngã được G.Beccơli giải quyết bằng cách cho rằng, mọi sự vật trong vũ trụ, sở dĩ tồn tại vì chúng được Thượng đế tri giác. Thực chất, do sự bất lực của lập trường duy tâm chủ quan, G.Beccơli đã phải ngả sang lập trường duy tâm khách quan. Tuy nhiên, về cơ bản ông vẫn là đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan thời cận đại. [B]b. Quan niệm về con người [/B] Cũng như các nhà duy tâm khác, G.Beccơli quan niệm con người bao gồm linh hồn và thể xác; linh hồn là cái quyết định. Thể xác thuộc về các vật thể tự nhiên, tức các cảm giác. Do vậy, thể xác tồn tại được là nhờ linh hồn cảm nhận nó. Thể xác phải tuân theo cái gậy chỉ huy của linh hồn. Đối với linh hồn con người, G.Beccơli cho rằng, "tồn tại nghĩa là cảm nhận". Có nghĩa là linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác mà trước hết là cảm nhận thể xác của con người. [B]c. Về nhận thức luận[/B] Từ chỗ khẳng định nguồn gốc hoàn toàn chủ quan của mọi sự vật trong thế giới, coi toàn bộ thế giới chỉ là chỉ là tổ hợp các cảm giác của con người, G.Beccơli cho rằng linh hồn là cái quyết định quá trình nhận thức. Linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác, và cũng chỉ khi nó bắt đầu cảm nhận thì chúng ta mới có được tri giác về sự vật. G.Beccơli đề cao cảm giác, đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với các cảm giác. Các khái niệm trừu tượng chỉ là kết quả so sánh và phân tích các cảm giác. Mặc dù các ý niệm, tức các cảm giác, tồn tại trong linh hồn nhưng chúng khác với linh hồn, bởi vì linh hồn là cơ chất và nền tảng "nuôi dưỡng" các ý niệm, cảm giác. Theo G.Beccơli, chân lý là sự phù hợp giữa sự suy diễn của con người về sự vật với chính bản thân sự vật đó tồn tại trên thực tế. Tuy nhiên, ông phủ nhận sự tồn tại khách quan của chân lý. Tri thức được coi là đúng khi nó thoả mãn một trong những tiêu chuẩn sau: [I]1) Tính rõ ràng cả các tri giác cảm tính; 2) Tính đồng thời của các tri giác gần như là giống nhau ở một vài người; 3) Sự tương đồng của nhiều cảm giác với nhau; 4) Tính đơn giản và dễ hiểu; 5) Sự phù hợp với ý chúa và tuân theo ý chúa. Trong tất cả các tiêu chuẩn trên thì tiêu chuẩn phù hợp với ý chúa là quan trọng nhất và đáng tin cậy nhất.[/I] [B]3.2.4. Điđơrô và các nhà triết học Khai sáng Pháp thế kỉ XVIII[/B] Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là một giai đoạn phát triển quan trọng trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học Tây Âu và thế giới. Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là sự kế tục và phát triển mới về chất các khuynh hướng tư tưởng bài trừ siêu hình học thế kỉ XVII, cũng như đánh giá lại các giá trị tuyền thống. Nó bắt đầu từ việc phê phán không thương tiếc các quan niệm cũ về thế giới và con người. Là vũ khí lí luận của giai cấp tư sản Pháp trong thời kì chuẩn bị cho cộc đại cách mạng tư sản Pháp 1789, được hình thành bởi các nhà Khai sáng Pháp, triết học Khai sáng Pháp có nhiệm vụ thu hút, giác ngộ, tập hợp đông đảo mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội, hướng họ tới cuộc đấu tranh cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, xây dựng chế độ tư sản. Chính vì vậy mà triết học Khai sáng Pháp có nội dung cơ bản là duy vật, tiến bộ, nó đề cập nhiều đến tiến bộ xã hội, tự do của con người... Cùng với sự hưng thịnh của văn hoá Pháp thời kì này, trên lĩnh vực tư tưởng có nhiều nhà khai sáng, họ vừa là các nhà triết học, vừa là những người uyên bác về nhiều lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học. Tiêu biểu là Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775), Phrăngxoa Mari Vônte (1694-1778), Giăng Giắc Rutxô (1712-1778), Đeni Điđrô (1713-1784), Giulen Ôphrơ Lamettri (1709-1751), Hônbách (1729-1789), Henvêtiúyt (1715-1771)... Ở đây chỉ đề cập đến tư tưởng triết học của các nhà duy vật vô thần Pháp mà người giữ vai trò lãnh đạo là Đ.Điđrô. Các nhà triết học duy vật vô thần Pháp thế kỷ XVIII mà các đại biểu xuất sắc là Lamettri, Hônbách, Điđrô, Henvêtiúyt (nhóm Bách khoa toàn thư Pháp) đã góp phần quan trọng vào sự phát triển triết học duy vật vô thần. Họ đấu tranh kiên quyết chống lại tôn giáo, kêu gọi đẩy mạnh nghiên cứu giới tự nhiên. Họ cho rằng, không nắm được các quy luật của tự nhiên thì con người không thể có hạnh phúc. Mục đích của khoa học và triết học là phải nhận thức và chinh phục giới tự nhiên. [B][I]Tư tưởng triết học của Đ.Điđrô[/I][/B] Đ.Điđrô sinh tại một thành phố ở Đông Bắc nước Pháp, trong một gia đình thợ thủ công. Sau nhiều năm học ở Pari, do chịu ảnh hưởng tư tưởng của các nhà khai sáng, ông từ bỏ ý định thành nhà hoạt động tôn giáo, như mong muốn của người cha. Ông là người khởi xướng và chủ biên bộ Bách khoa toàn thư của khoa học, nghệ thuật và thủ công nghiệp (1751-1780). Đây là một trong những bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của thế giới - một trong những di sản văn hoá vĩ đại không chỉ của nước Pháp mà cả Tây Âu thế kỉ XVIII nói chung. Nó có vai trò rất to lớn trong việc xây dựng và truyền bá thế giới quan khai sáng. Ông có nhiều tác phẩm như Tư tưởng triết học (1746), Cuộc dạo chơi của nhà hoài nghi luận hay là Alleax (1747), là tác giả nhiều tác phẩm văn học mang đầy tính triết lý như Nữ tu sĩ, Người cháu của ông Ramô... [B][I]a. Quan niệm về thế giới[/I][/B] Đ.Điđrô khẳng định tính vật chất của thế giới đồng thời phê phán mạnh mẽ những điểm không triệt để của chủ nghĩa duy vật Anh, mỉa mai quan niệm duy tâm chủ quan của G.Beccơli vì ông này đã quy toàn bộ thế giới thành các cảm giác của một chủ thể. Đ.Điđrô ví chủ thể của G.Beccơli như một chiếc đàn pianô ngộ nhận rằng nó là nhạc cụ duy nhất trên thế gian, và mọi sự hài hoà của vũ trụ đều diễn ra trong đó. Theo ông, trong vũ trụ chỉ có một thực thể, cả trong con người lẫn động vật và các sự vật khác, đó là vật chất. Đ.Điđrô đã có bước tiến mới trong quan niệm về vận động, thừa nhận sự phát triển của thế giới. Ông cho rằng, bản tính cố hữu của vật chất là vận động. Chính vận động là năng lực sống động của vật chất. Ông quan niệm sự dịch chuyển của vật thể từ vị trí này sang vị trí khác không phải là vận động mà chỉ là sự di động, còn vận động thì có cả ở vật đang vận động lẫn vật đứng yên. Ông khẳng định, trong quá trình vận động và phát triển, giới tự nhiên sẽ chọn lọc mhững gì giúp cho nó ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải những vật nào không thích nghi hoặc không tuân theo quy luật của nó. Cấu trúc và trạng thái của các sinh vật là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên. Với quan niệm này, ông là bậc tiền bối của thuyết tiến hoá của Đácuyn. [B][I]b. Quan niệm về con người[/I][/B] Đ.Điđrô cho rằng con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn không có nguồn gốc từ chúa mà là một tổng thể các hiện tượng tâm lý. Bản thân nó cũng là đặc tính của vật chất. Ông viết: "Không có cơ thể con người thì nó (tức linh hồn) không là cái gì cả. Tôi khẳng định rằng, không có cơ thể con người thì không thể giải thích được cái gì cả". Ông nhấn mạnh, cơ thể con người là khí quan vật chất của tư duy, ý thức cũng như mọi quá trình tâm lý của anh ta. Ông đã nhận thấy, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh môi trường xung quanh nhưng chưa hiểu được rằng, bản thân môi trường và hoàn cảnh đó cũng là sản phẩm của hoạt động con người, và vì vậy, cả con người lẫn hoàn cảnh sống của nó đều mang tính lịch sử. Đây cũng là hạn chế chung của các triết học trước Mác. [B][I]c. Về lý luận nhận thức[/I][/B] Cũng như các nhà duy vật khác, Đ.Điđrô thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức. Ông cho rằng quá trình chuyển biến từ vô tri vô giác tới khả năng cảm giác, tư duy gắn liền với quá trình phát triển của cấu trúc vật chất từ vô cơ, hữu cơ đến sự sống và cơ thể con người. Tuy nhiên, cũng như các nhà duy vật trước Mác, ông chưa thấy được rằng, ý thức không chỉ là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, mà còn là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Đề cao vai trò đặc biệt của quá trình nhận thức đối với sự phát triển của xã hội, Đ.Điđrô đưa ra tư tưởng biện chứng khẳng định tính vô cùng tận trong sự phát triển của giơí tự nhiên, cũng như quá trình nhận thức của con người. Tuy khả năng nhận thức của mỗi cá nhân là hữu hạn, nhưng đối với nhân loại về nguyên tắc có thể nhận thức được toàn bộ thế giới, mặc dù quá trình đó cũng là vô tận. [B][I]d. Quan niệm về xã hội - tôn giáo[/I][/B] Là nhà triết học duy vật triệt để và vô thần nhất của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, Đ.Điđrô phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, coi Thượng đế chỉ là sự thần thánh hoá các điều kiện sống hiện thực của con người. Không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà là con người sáng tạo ra tôn giáo. Ông viết: "Nếu như lý tính là của trời cho và tín ngưỡng cũng tương tự như vậy, nghĩa là trời cho chúng ta hai vật không thể dung hợp được với nhau… Để loại trừ bế tắc đó, cần phải thừa nhận rằng tín ngưỡng là một nguyên lý huyền thoại, không tưởng". Ông chỉ ra sự khác biệt giữa khoa học và tôn giáo: Khoa học thì hướng tới vũ trang cho chúng ta quan niệm đúng về thế giới, làm cho con người lớn mạnh thêm lên, còn tôn giáo thì chỉ đem lại những điều ảo tưởng, làm cho con người mềm yếu đi. "Thượng đế của những người Cơ đốc giáo - đó là người bố chỉ coi trọng những đám mây, chứ chẳng để tâm gì đến những đứa con của mình" trên trần gian cả. Đ.Điđrô kịch liệt phê phán những quan niệm đạo đức của tôn giáo, coi đó chỉ là trò giáo dục con người tới chỗ cả tin vào số mệnh. Thực chất, tôn giáo chỉ là sợi dây cương yếu ớt ngăn chặn các hành vi phạm tội của con người. Khẳng định chính môi trường và hoàn cảnh tạo nên bộ mặt trí tuệ và đạo đức của con người, Đ.Điđrô kêu gọi xoá bỏ các quan hệ phong kiến của nước Pháp, cái đã thông qua tôn giáo làm hư hỏng con người, đồng thời kêu gọi xây dựng một cuộc sống hiện thực chứ đừng tin vào tôn giáo. Tuy nhiên Đ.Điđrô chưa nhận thấy cơ sở kinh tế - xã hội của sự tồn tại tôn giáo. Ông mới chỉ thấy được nguồn gốc nhận thức của nó là từ sự kém hiểu biết và từ tâm lý sợ chết của con người. Vì vậy, ông đã sai lầm khi cho rằng, để xoá bỏ tôn giáo chỉ cần xoá bỏ nỗi lo sợ của con người, chỉ cần mở rộng hệ thống giáo dục trong nhân dân, đồng thời tiêu diệt giới tu hành. Tuy còn hạn chế như trên nhưng sự phê phán tôn giáo của Đ.Điđrô đã mang nhiều yếu tố tích cực trong bối cảnh lịch sử lúc đó của nước Pháp và Tây Âu. [B][I][RIGHT](Nguồn: ĐHSP HN)[/RIGHT][/I][/B] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại
Top