Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Triết học Đức thế kỷ 18 trước Kant
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Butchi" data-source="post: 38802" data-attributes="member: 7"><p>Bản văn triết học đầu tiên mà Wolff đưa ra là “German Logic” (Vernünfftige Gedancken von den Kräften des menschlichen Verstandes und ihrem richtigen Gebrauche in Erkenntnis der Wahrheit). Lôgic học có tầm quan trọng trung tâm đối với Wolff, vì nó xác lập những qui tắc cho tư tưởng, là năng lực của giác tính trong việc rèn giũa những sự nối kết, mà theo Wolff là một năng lực con người độc nhất. Mọi con người đều có giác tính tự nhiên, nhưng chỉ nó không thì không đủ. Lôgic học hay “nghệ thuật chứng minh” đóng vai trò chau chuốt năng lực tự nhiên ấy và cũng đóng vai trò như điều kiện của khoa học. Từ điểm nhìn của Khai minh, ở đây nó có tính hướng dẫn mà Wolff đã khẳng định, như Thomasius đã khẳng định trước ông, rằng sách và sự rèn luyện trí nhớ không phải là cái giống như nhận thức. Điều này đòi hỏi sự sử dụng các quan năng của giác tính, và trên hết, phần lớn sự thực hành trong nghệ thuật của tư tưởng. Dù bẩm sinh, nhưng các năng lực của giác tính phải được mài dũa thông qua sự thực hành/ kinh nghiệm.</p><p></p><p>Khảo luận triết học thứ hai của Wolff, “German Metaphysics” (Vernünfftige Gedancken von Gott, der Welt und der Seele des Menschen, auch allen Dingen überhaupt) xuất hiện khoảng 7 năm sau “German Logic”. Ngay khi cuốn đó xác nhận bộ môn Lôgic học chống lại những công kích Khai minh sơ kỳ, thì điều đó cũng xác nhận bộ môn siêu hình học, được hiểu như “khoa học về cái có thể như cái có thể”. Sau một chương dẫn nhập ngắn chỉ ra thế đứng Descartes của ông bằng các liên kết sự hiện hữu với ý thức (chúng ta phải hiện hữu vì chúng ta có ý thức về chúng ta), “German Metaphysics” luận giải Hữu thể học, Tâm lý học thường nghiệm, Vũ trụ học, Tâm lý học thuần lý và Thần học tự nhiên. Trong chương hai, Wolff xây dựng hai nguyên tắc (theo phái Leibniz) chi phối tư tưởng triết học của ông: nguyên tắc mâu thuẫn (“cái gì đó không thể vừa tồn tại vừa cùng lúc đồng thời không tồn tại” §10, 6) và nguyên tắc lý do đầy đủ (“mọi sự vật tồn tại thì phải có một lý do đầy đủ giải thích tại sao nó tồn tại” §30, 17). Hai nguyên tắc này có ý nghĩa không những từ điểm nhìn của tư tưởng Wolff mà còn trong ánh sáng của vai trò mà chúng sau này sẽ đóng nơi Kant sơ kỳ – sự phê phán. Trong chương bàn về Tâm lý học thuần lý (chương 5), ông biện hộ cho quan niệm của Leibniz về sự hài hòa tiền định (§765, 478-9) và, trong chương cuối bàn về Thần học tự nhiên, ông cho độc giả biết rằng thế giới phản ánh sự hoàn hảo của Thương đế (§1045, 648). Đây là những phương diện của lập trường của Wolff mà những nhà Thomasius (phái Peitism) sẽ tranh cãi.</p><p></p><p>Sau khi “German Metaphysics” xuất hiện, Wolff xuất bản mỗi cuốn 1 năm để xử lý và tích hợp vào hệ thống của ông những vấn đề triết học trung tâm khác: đạo đức học năm 1720, Chính trị học năm 1721, Vật lý học năm 1723, Mục đính luận năm 1724 và Sinh học năm 1724. </p><p></p><p>Đạo đức học (Vernünfftige Gedancken von der Menschen Thun und Lassen, zu Berförderung ihrer Glückseligkeit) gồm 4 phần: một phần lý thuyết xử lý nền tảng của triết học thực hành và 3 phần thực hành trình bày một học thuyết về các bổn phận mà con người có đối với bản thân họ, đối với Thượng đế, và đối với những người khác. Không ngạc nhiên gì, cứ cho rằng Wolff tin thế giới phản ánh sự hoàn hảo của Thượng đế, thì vấn đề tranh cãi trong Đạo đức học cũng là sự hoàn hảo chứ không phải, như với Thomasius, là hạnh phúc (điều này được dành cho Chính trị học của ông). Sự hoàn hảo luân lý là nguyên tắc chỉ đạo mà nhờ đó chúng ta phải lựa chọn giữa hai (hoặc hơn) hành động có thể có một cách ngang bằng. Tức là, khi đưa ra một lựa chọn tự do, chúng ta phải xem xét liệu hành động “sẽ thúc đẩy sự hoàn hảo của trạng thái bện trong hay bên ngoài chúng ta” (§2, 5) và điều đó nghĩa là phải xem xét liệu trạng thái của linh hồn và cơ thể hòa hợp với trang thái có trước hay mâu thuẫn với nó. Kết quả có sự hoàn hảo lớn hơn nhiều trong chừng mực nó đóng góp cho “trạng thái con người tự nhiên” liên tục “và sự bảo tồn hài hòa của nó qua thời gian” (§2, 5). Trạng thái con người tự nhiên mà Wolff hình dung là trạng thái của linh hồn trong những nỗ lực đa tạp của nó để tìm kiếm chân lý, và mọi sự vật phải được thực hiện để gia tăng cực độ trạng thái ấy (xem “German Metaphysics” §152, 79). Rất thường xảy ra rằng đây cũng là có nơi hạnh phúc, và như Wolff chỉ ra vào cuối cuốn Đạo đức học, phận sự của con người là phải đảm bảo không chỉ sự hoàn hảo/ hạnh phúc riêng của mình, mà phải “đóng góp càng nhiều càng tốt cho hạnh phúc của những người khác” (§767, 539).</p><p></p><p>Trong “German Politics” (Vernünfftige Gedancken von dem gesellschaftlichen Leben der Menschen und insonderheit dem gemeinen Wesen), ông tiến hành nghiên cứu những sự đa dạng của các xã hội con người và chỉ ra làm thế nào chúng phải được tạo ra để “thúc đẩy sự tiến bộ không bị ngăn cấm đối với cái tốt nhất thông thường” (§3, 3). Một xã hội phải hài hòa với các qui luật của tự nhiên, nếu không nó không thể được xem là một xã hội, và hài hòa với các qui luật của tự nhiên chắc chắn có nghĩa là sự hoàn hảo/ hạnh phúc.</p><p></p><p>Các tác phẩm tiếng Latinh của Wolff xuất hiện với sự đều đặn ngang nhau trong năm 1730, với “Latin Logic” (Philosophia rationalis sive logica) bắt đầu một chuỗi năm 1728. Bất chấp tính trọn vẹn hơn nhiều của chúng, hoặc có lẽ vì nó, chúng không được đọc rộng rãi trong nước Đức hoặc châu Âu như một tổng thể. Trái lại, các văn bản tiếng Đức được in lại nhiều lần (14 lần cho Lôgic học, 10 lần cho Siêu hình học), “Latin Logic” chỉ được in lại 3 lần, và một số văn bản tiếng Latinh khác có lẽ chỉ 2 lần. Vào thập niên 1730, các văn bản tiếng Đức đã tạo ra sự ảnh hưởng của Wolff và các văn bản Latinh hầu như ít làm gì để thay đổi điều đó. Vì vậy, chúng sẽ không được xem xét xa hơn trong bài viết này.</p><p><strong></strong></p><p><strong>3. Ngữ cảnh, những sự ảnh hưởng và các môn đệ</strong></p><p></p><p>Cả Thomasius và Wolff đều có các môn đệ. Trong trường hợp của Thomasius, điều này là trái với sự kiện rằng ông đã tuyên bố là không có ham muốn có các môn đệ hay lập một trường phái. Nhưng sau khi ông có ảnh hưởng lên những người cùng thời, hẳn sẽ ngạc nhiên gì nếu không có bất kỳ ai xem mình như đi theo những bước chân của ông, và quan trọng hơn, áp dụng sự nghiệp của ông (chống lại Wolff). Giữa những người cùng thời đã làm như vậy của Thomasius có Franz Budde (1667–1729), Joachim Lange (1670–1744), Andreas Rüdiger (1673–1731), and Adolf Friedrich Hoffmann (1707–1741). Christian August Crusius (?1715–1775), một môn đệ về sau (sinh viên của Hoffmann), đã xuất hiện trong triết học khi phái Wolff đã bắt đầu suy tàn rồi.</p><p></p><p>Các môn đệ của Wolff có lẽ đa dạng hơn những người đi theo và phản bác Thomasius. Thực tế, vào thập niên 1740, phái Wolff đã trở thành triết học dẫn đạo Đức và đã trải rộng đến các trường Đại học lớn ở Đức: đến Halle (với Wolff, A.G. Baumgarten, dù ông đã chuyển đến Frankfrut an der Oder), G. F. Meier, và J. A. Eberhard, người nổi tiếng đặc biệt vì vai trò mà ông đóng nơi thuyết phê phán của Kant sơ kỳ), đến Marburg nơi thực sự mỗi nhà hàn lâm đều là một nhà Wolff học, đến Giessen (với J. F. Müller, và Böhm), đến Tübingen (với Georg Bernhard Bilfinger, Israel Gottlob Ganz và Gottfried Plouquet), đến Leipzig (với Gottsched và Ludovici), đến Jena (với Johann Peter Reusch và Joachim George Darjes), và đến Königsberg (với Knutsen, thầy của Kant). Sự chấp nhận triết học Wolff thú vị không chỉ trong quan niệm về sự chấp nhận rộng rãi của nó, mà còn trong ánh sáng của các cuộc tranh cãi mà nó tạo ra và những phát triển xa hơn mà nó khơi ra. Cuộc tranh luận chính yếu giữa các cuộc tranh cãi là 1) sự công kích của những nhà Pietism (Budde và Lange) dẫn đến việc Wolff bị bãi chức ở Halle và 2) sự công kích của các nhà Thomasius (Hoffmann và Crusius). Những phát triển xa hơn của triết học Wolff có thể được thấy đặc biệt trong lĩnh vực Mỹ học với Gottsched và Baumgarten.</p><p></p><p><strong>3.1 Thuyết Pietism</strong></p><p></p><p>Sự phát triển của tư tưởng Khai minh sơ kỳ và thậm chí trung kỳ thế kỷ 18 ở Đức tiến hành tay trong tay với khuynh hướng tôn giáo (tin lành) tương đối mới lúc ấy: thuyết Pietism. Giống như sự bất đồng giữa những người đại diện cho Khai minh sơ kỳ với uy quyền và, ít nhất là trong những năm đầu, đời sống trí tuệ, những người đại diện cho thuyết Pietism tranh cãi với tính chính thống (tôn giáo) và thuyết duy trí của nó. Hơn nữa, thay vì tán thành sự phục tùng và tính tuân giáo đối với tổ chức, phong trào pietism nhấn mạnh phương diện chủ quan của đức tin: kinh nghiệm, tình cảm của một người, và trên hết, sự tham gia cá nhân của người ấy vào những vấn đề và những sự thực hiện tôn giáo. Sự nhấn mạnh lên tính chủ quan và cá nhân, và lên sự tham gia thực tế của con người trong tôn giáo đã biến thuyết Pietism thành một bạn đồng hành lý tưởng cho tư tưởng Khai minh sơ kỳ. Vấn đề tranh cãi ở đây không phải là năng lực học thuật, cũng không phải phương diện nhận thức của tôn giáo, mà là phương diện tác động của nó với sự nhấn mạnh lên lòng mộ đạo và sự phụng sự thực hành, giống như cái đang tranh cãi trong Khai minh sơ kỳ không phải là phương diện trí tuệ của lý tính, mà là sự thực hiện và phục vụ thực tế của nó. Và cả hai phong trào này được đặc trưng bằng một sự cam kết với chủ nghĩa bình quân [egalitarianism].</p><p></p><p>Điều này không có nghĩa là sự phát triển song song đã luôn hoặc thậm chí nhất thiết hài hòa. Ở Halle , đại diện chính của thuyết Pietism là August Hermann Francke (1663–1722), người mà Thomasius đã mang theo đến đó. Nhưng Thomasius và Francke không đồng ý với nhau trên mọi vấn đề. Trong khi Thomasius tán thành thuyết chủ động [activism] thực hành của Francke (ông là người thành lập trại mồ côi Halle), ông chia tay với Francke vào năm 1699, sau khi phê phán những chính sách gío dục của Francke đối với việc tạo ra “những con người không được giáo dục, u sầu, hoang tưởng, cứng đầu, ngoan cố và đầy thù hận” (trích trong Beck, 253). Người ta không rõ là Thomasius đã có, nếu có, những lý do triết học nào để quay qua chống lại Francke. Tuy nhiên, các chi tiết của sự bất đồng là không quan trọng đối với sự phát triển tư tưởng Khai minh thế kỷ 18.</p><p></p><p><strong>3.2 Những nhà Thomasius</strong></p><p></p><p>Budde và Lange, cả hai đều là giáo sư Thần học chính yếu ở Jena (Budde) và Halle (Lange), đã phát triển tư tưởng của Thomasius theo một đường hướng thần học (của thuyết Pietism). Tức là, cả hai, trong đó Lange nhiều hơn Budde, đều nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự cứu rỗi trên một mức độ lớn hơn nhiều so với Thomasius, như họ đã tuyên bố rằng nguồn suối của cái Ác là ý chí và nguyên nhân gốc rễ của cái Ác là tội nguyên thủy. Dù ta có thể thấy rằng Thomasius cũng tin vào những quan niệm ấy, đặc biệt trong suốt thời gian ông hoàn thành tác phẩm Application of Moral Theory của mình, [nhưng] sự khác biệt giữa hai người kia với Thomasius là ở sự nhấn mạnh mà họ đặt lên những quan niệm ấy. Ngoài ra, trong tác phẩm chính của mình, cuốn Medicina Mentis, Lange dành một sự quan tâm lớn để chỉ ra làm thế nào có thể chữa lành ý chí và tinh thần xấu hoặc suy đồi.</p><p></p><p>Điều thú vị là có những sự khác nhau không chỉ từ kích thước thần học của tư tưởng của Thomasius, mà còn trên phương diện triết học. Ở đây, đặc biệt cần ghi chú là trong những bản văn triết học của mình, Budde đã tìm kiếm một tổng thể có hệ thống và không bằng lòng đi theo phong cách tinh tuyển nhiều hơn của Thomasius. Dù ông tuyên bố là một nhà tinh tuyển, ông nghĩ điều này có nghĩa là ông không thể đưa ra một cái Tổng thể thống nhất. Cái tổng thể này được đưa ra qua 3 cuốn sách của ông về triết học. Triết học lý thuyết có thể được nhận thấy trong cuốn Institutiones Philosophiae Eclecticae xuất bản thành hai phần ở Halle năm 1703. Hai phần này là “Elementa philosophiae theoreticae,” hầu như làm một Siêu hình học, và “Elementa philosophiae instrumentalis,” tức Lôgic học của Budde. Cùng với tác phẩm sớm hơn về triết học thực hành, cuốn Elementae Philosophiae Practicae, được xuất bản nguyên bản năm 1697 nhưng đã được duyệt lại quan trọng cho ấn bản năm 1703, những bản văn này tạo nên hệ thống triết học của Budde.</p><p>Rüdiger, Hoffmann, và Crusius được liên kết thông qua những mối quan hệ thầy trò, Rüdiger dạy Hoffmann, rồi Hoffmann lại dạy cho Crusius. Xem phần các Tranh cãi bên dưới về vai trò mà họ, đặc biệt là Crusius, đã đóng trong sự bất đồng của Thomasius với Wolff.</p><p></p><p><strong>3.3 Các nhà Wolff</strong></p><p></p><p>Thuyết Duy lý Khai minh của Wolff đã tạo ra một tác động quyết định lên quang cảnh triết học ở Đức trong thập niên 1720. Qua những năm giữa thế kỷ 18, và chống lại những phản bác từ cả những nhà Thomasius và thuyết Pietism, phái Wolff đã nắm quyền thống trị, ít nhất là trong một thời gian. Chắc chắn, những sự kiện dẫn đến sự trục xuất Wolff khỏi Halle đã đóng góp cho sự tai tiếng và danh tiếng của ông. Các triết gia đi theo sự nghiệp của ông trên thực thế trong mọi đại học ở miền Đông và miền Bắc nước Đức, đôi khi phát triển hệ thống triết học của ông theo nhiều hướng khác nhau. Trong những người đại diện chính cho phái Wolff có J. C. Gottsched (1700–1766) ở Leipzig, Alexander Gottlieb Baumgarten (1714–62) và H. F. Meier, những người đóng ai trò chính yếu trong việc tạo nên Mỹ học, ở Frankfurt am Main, và ở Königsberg có người thầy của Kant là Martin Knutsen (1713–51). Phái Wolff còn đóng một vai trò trung tâm trong những phê phán sơ kỳ của triết học phê phán của Kant. Ở đó, nó được đại diện chủ yếu bởi Eberhard, Maaß, và Schwab, và trong tạp chí phê bình lớn thời ấy, tạp chí Allgemeine deutsche Bibliothek của Nicolai' (Xem Allison, The Kant-Eberhard Controversy). Không nghi ngờ gì là phái Wolff đã ngự trị các trường đại học Đức trong suốt thập niên 1720 đến 1740, dù nó nhanh chóng phân rã trong chừng mực nào đó sau khi Wolff mất năm 1754 với, giữa những sự phát triển khác, sự phát triển về Mỹ học.</p><p></p><p><strong>3.4 Các tranh cãi</strong></p><p></p><p>Căn cứ vào hai lối tiếp cận khác nhau tận căn trong việc đưa ra sự kêu gọi Khai minh đối với sự sử dụng lý tính một cách độc lập mà chúng ta nhận thấy ở thế kỷ 18, thì không ngạc nhiên gì là thời đại ấy phải có phần của mình trong các cuộc tranh cãi. Điều này đặc biệt thấy rõ trong những sự bất đồng quanh Wolff và phái Wolff. Như đã chỉ ra ở trên là hai sự công kích quan trọng đã nổi lên là 1) sự công kích dẫn đến việc Wolff bị trục xuất khỏi Halle và 2) sự công kích được đưa ra bởi Hoffmann và Crusius.</p><p></p><p>Sự công kích thứ 1 được đưa ra bởi các môn đệ theo thuyết Pietism của Thomasius. Họ, nhất là Budde và Lange, tập trung sự đối lập của họ với thuyết Wolff quanh thuyết Định mệnh và thuyết Spinoza mà họ cho là hệ thống của Wolff đã chứa đựng. Ngoài ra, sự phụ thuộc của Wolff vào phương pháp toán học và sự phụ thuộc của ý chí thần thánh vào tính tất yếu cũng bị đặt thành vấn đề. Tương tự, học thuyết của Leibniz về sự hài hòa tiền định của linh hồn và thể xác mà các nhà phê bình đã gán cho Wolff cũng được cho là lập dị với khả thể của ý chí tự do, và với đó, là trách nhiệm đối với các hành động của ta. Nếu sự tương tác qua lại giữa linh hồn và thể xác phải được quyết định trước (pre-ordained) hay tiền định (pre-established), thì không thể nào có chuyện chúng ta có thể hành động cách nào khác hơn là việc ta bị qui định để hành động, và những khái niệm về trách nhiệm và tội sẽ chỉ là một điều hão huyền. Ở đây, cần thêm vào rằng sự phê phán về niềm tin vào một ý chí tự do đã được biện minh. Wolff đấu tranh với khả thể này cũng nhiều như Leibniz đã làm, và hoàn toàn không rõ là giả thử họ trung thành với sự hài hòa tiền định, thì liệu một người có thành công trong việc giải quyết câu hỏi hắc búa trên cấp độ hữu thể học không.</p><p></p><p>Có một cước chú thú vị cho những cuộc tranh cãi này là trong khi bản thân Thomasius không tham dự vào các cuộc tranh cãi ấy, thi Wolff lại tham dự. Năm 1724, ông xuất bản một sự hồi đáp chi tiết cho sự phê phán của Budde và Lange về Siêu hình học Đức (Kleine Kontroversschriften mit Joachim Lange und Johann Franz Budde) và ông cũng tiếp tục các quan tâm của họ trong cuốn Anmerkungen cho Siêu hình học Đức.</p><p></p><p>Sự công kích thứ hai được đưa ra bởi các nhà Thomasius không dựa trên nền tảng thuyết Pietism của họ là: Andreas Rüdiger (1673–1731), Adolf Friedrich Hoffmann (1707–1741), và Christian August Crusius (?1715–1775). Rüdiger và Hoffmann công kích Wolff về một số các vấn đề (chẳng hạn như mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác mà họ xem như tạo nên một sự thống nhất [nhất thể], chứ không phải hai bản thể riêng biệt, sự phân biệt giữa phương pháp toán học và phương pháp triết học, và vấn đề về vai trò của ý chí trong Đạo đức học). Ít nhất, một số vấn đề tranh cãi đã được Crusius tiếp tục, ông cũng là nhà Thomasius cuối cùng chống đối Wolff.</p><p></p><p>Crusius làm triết học ở Leipzig vào thập niên 1740 trước khi đảm nhiệm chức giáo sư Thần học năm 1751. Giống như những nhà Thomasius trước đây, ông tra vấn việc Wolff xem ý chí phụ thuộc vào lý tính, khi lập luận cho sự tự do của cái trước chống lại cái mà ông xem là thuyết Định mệnh của Wolff, dù ông sẵn lòng thừa nhận rằng ý chí cần phải có giác tính. Có lẽ phương diện ý nghĩa nhất trong tư tưởng của Crusius là sự dị biệt hóa của ông giữa phương pháp triết học và phương pháp toán học. Trái với việc toán học được cho là được đặt nền tảng trên nguyên tắc mâu thuẫn, thì điều này không đúng với triết học. Triết học phải làm việc với những đối tượng có thực, với Tự nhiên, các cấu trúc và các lực của nó, chứ không phải với những khái niệm trừu tượng và giả tạo của Toán học. Cùng lúc, ông cũng cho rằng Toán học có một vai trò trong sự phân tích về Tự nhiên – nó có thể mang lại những khái niệm về các vật thể và những mối quan hệ của chúng. Dĩ nhiên, như những người đương thời của ông đã chỉ ra, một người sẽ băn khoăn không biết tại sao Toán học lại có một vai trò trong sự nghiên cứu về thế giới “hiện thực” nếu bản chất của sự trừu tượng hóa của nó làm cho nó khác biệt với thế giới hiện thực (cụ thể). Crusius không có câu trả lời cho những câu hỏi ấy, nhưng đây là một chủ đề mà Kant phải đảm nhiệm trong dự án tiền-phê phán của ông.</p><p></p><p><strong>4. Vượt khỏi Wolff</strong></p><p></p><p>Với sự suy tàn của phái Wolff sau năm 1754, triết học Đức đã nhàn rỗi trong một thời gian. Sự suy tàn ấy bị thúc đẩy không những bởi những phê phán mà các nhà Thomasius đưa ra, mà còn bởi những sự phát triển bên trong của phái Wolff được nhiều môn đệ của Wolff đề xuất. Chẳng hạn, Hermann Samuel Reimarus (1694–1768) đã phát triển một phê phán duy lý về sự thiên khải, khi lập luận ủng hộ cho việc tôn giáo cá nhân thuần lý phải được đặt cơ sở trên lý tính (Apologie oder Schützschrift für die vernünftigen Verehrer Gottes, được xuất bản ẩn danh). Những người khác bắt đầu mở rộng thuyết Wolff thành nhiều lĩnh vực mà bản thân Wolff chưa xem xét đến, qua đó đóng góp cho sự phát triển quan trọng. Ở đây, lĩnh vực Mỹ học là nổi rõ nhất. Ngoài ra, vào giữa thế kỷ 18, triết học Pháp và Scottland thuộc Anh (đặc biệt) (Inquiry của Hume, Essay của Locke, cùng với những văn bản khác của Hume, Reid, Hutcheson, Beattie, Condillac) đã bắt đầu có các bản dịch, vì thế đưa ra một sự lựa chọn thay thế rõ ràng cho thuyết Duy lý của phái Wolff. Những bản văn này cực kỳ có ảnh hưởng. Hãy nhớ lại tuyên bố của Kant rằng hồi ức của ông về David Hume đã đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều (Prolegomena, Ak. IV, 260). Các nhà Duy nghiệm, chẳng hạn như Feder và Garve cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự Phê phán sơ kỳ của Kant (xem Sassen, Kant's Early Critics). Nhìn chung, triết học Đức thế kỷ 18 sau năm 1750 và trước năm 1781 [năm Kant ra mắt cuốn Phê phán Lý tính thuần túy – Nd] là một thời kỳ không có trường phái nào ngự trị, nhưng thuộc về những cá nhân có liên kết lỏng lẻo với một số khuynh hướng khác nhau. Trong các cá nhân không thể được quy vào bất kỳ nơi nào có Johann Heinrich Lambert, Moses Mendelssohn và Johann Nikolaus Tetens. Không phải là nhà Thomasius và cũng không là nhà Wolff, họ phải được xem như nằm trong quan hệ với triết học tiền- phê phán và triết học phê phán của Kant, không phải từ điểm nhìn của triết học Đức trước Kant.</p><p></p><p><strong>4.1 Mỹ học</strong></p><p></p><p>Dù Wolff đã tìm cách tích hợp trên thực tế mọi phương diện của triết học vào hệ thống của ông, ông không có gì để nói về triết học về nghệ thuật. Theo cách nào đó, điều này không có gì ngạc nhiên nếu chúng ta xem xét rằng trong nước Đức của Khai minh sơ kỳ, các nghệ thuật, nhất là thơ ca và văn học, hầu như là không hiện hữu. Những nhà văn vĩ đại Đức thậm chí còn chưa sinh ra khi Wolff viết các bản văn tiếng Đức của ông (Lessing sinh năm 1729, Herder năm 1744, Goethe năm 1749). Người đầu tiên phát triển một lý thuyết về các nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca, là Johann Christoph Gottsched (1700–1766), người đã xuất bản ‘Critical Poetry’ của ông (Versuch einer critischen Dichtkunst vor die Deutschen) năm 1730. Sau khi luận giải thơ ca một cách khoa học, ông tạo ra một nhóm các qui tắc nhằm hướng dẫn sáng tác. Căn cứ theo quan niệm của ông về cái gì là một bài thơ (một truyện luân lý), và cũng dựa theo ý niệm của ông về cái gì được chứa đựng trong sự sáng tác nó (một nhóm các qui tắc), ở đây có rất ít chỗ trống cho cái Đẹp và càng ít hơn nữa đối với tình cảm và cảm hứng [sáng tác]. Nhưng tình cảm và cảm hứng chính là đường hướng mà trong đó thơ ca sẽ đang đi vào giữa thế kỷ. Triết học phái Wolff của Gottsched về thơ ca, vì vậy, nhanh chóng bị chiếm chỗ bằng cuốn Critische Abhandlung (1740) của Johann Jakob Breitinger, một cuốn sách nhấn mạnh kinh nghiệm hậu nghiệm của thơ ca, chứ không phải sự sáng tác theo qui tắc của nó.</p><p></p><p>Một sự tổng hợp có vẻ như theo phái Wolff về hai lối tiếp cận ấy được Alexander Gottlieb Baumgarten (1714–1762), có lẽ là môn đệ nổi tiếng nhất của Wolff, đưa ra. Baumgarten đưa ra hai bản văn lớn, Siêu hình học của ông năm 1739 (Metaphysica) mà Kant đã dùng như một sách giáo khoa, và Mỹ học của ông (Aesthetica) năm 1750 và 1758. Việc ông tạo ra thuật ngữ “aesthetics” [Mỹ học] để chỉ triết học về nghệ thuật, đặc biệt là về thơ ca, hẳn khó được cho là quan trong nếu ông không làm việc gì khác nữa. Tuy nhiên, trong khi phát triển “lĩnh vực” Mỹ học, ông cũng đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu về các giác quan. Trái với việc Wolff quan niệm các giác quan chỉ đơn thuần như mang lại chất liệu thô cho tiến trình xử lý, một công việc được Giác tính thực hiện và bị chi phối bởi các qui tắc lôgic, Baumgarten nghĩ rằng các giác quan có các qui tắc riêng của nó và có sự hoàn hảo riêng của nó, các qui tắc và sự hoàn hảo khác với các qui tắc lôgic và nhận thức phát sinh bởi tiến trình lôgic. Các qui tắc của cảm giác được nghiên cứu bởi khoa học về tri giác, mà Baumgarten gọi là Mỹ học. Nhưng Mỹ học còn là ngành nghiên cứu về thơ ca. Trong Reflections on Poetry [Những nhận định về Thơ ca], ông xác lập khái niệm về tính rõ ràng thẩm mỹ. Dù những biểu tượng thơ ca là những biểu tượng không phân minh (§14, 42), chúng có tính rõ ràng cảm tính. Baumgarten nhận diện tính rõ ràng ấy như tính rõ ràng về quảng tính để dị biệt hóa nó với tính rõ ràng về cường độ của Lôgic học (§17, 43). Khi kêu gọi đến các giác quan, biểu tượng thơ ca có thể có tính khai minh nhiều hơn các biểu tượng được tạo ra bằng tiến trình và suy luận lôgic học. Hơn nữa, khi kêu gọi đến những xúc động, những biểu tượng ấy được nối kết với sự vui sướng. Người ta chỉ có thể thấy ảnh hưởng mà Baumgarten dường như đã tác động lên triết học phê phán của Kant – sự xác minh của các giác quan xuất hiện lại theo một cách thức Kant cố hữu trong cả Cảm năng học siêu nghiệm của của cuốn Critique of Pure Reason [Phê phán lý tính thuần túy] và cuốn Critique of Judgment [Phê phán năng lực phán đoán].</p><p></p><p><strong><em>Hoàng Phú Phương dịch</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p><strong><em>Nguồn: plato.stanford.edu</em></strong></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Butchi, post: 38802, member: 7"] Bản văn triết học đầu tiên mà Wolff đưa ra là “German Logic” (Vernünfftige Gedancken von den Kräften des menschlichen Verstandes und ihrem richtigen Gebrauche in Erkenntnis der Wahrheit). Lôgic học có tầm quan trọng trung tâm đối với Wolff, vì nó xác lập những qui tắc cho tư tưởng, là năng lực của giác tính trong việc rèn giũa những sự nối kết, mà theo Wolff là một năng lực con người độc nhất. Mọi con người đều có giác tính tự nhiên, nhưng chỉ nó không thì không đủ. Lôgic học hay “nghệ thuật chứng minh” đóng vai trò chau chuốt năng lực tự nhiên ấy và cũng đóng vai trò như điều kiện của khoa học. Từ điểm nhìn của Khai minh, ở đây nó có tính hướng dẫn mà Wolff đã khẳng định, như Thomasius đã khẳng định trước ông, rằng sách và sự rèn luyện trí nhớ không phải là cái giống như nhận thức. Điều này đòi hỏi sự sử dụng các quan năng của giác tính, và trên hết, phần lớn sự thực hành trong nghệ thuật của tư tưởng. Dù bẩm sinh, nhưng các năng lực của giác tính phải được mài dũa thông qua sự thực hành/ kinh nghiệm. Khảo luận triết học thứ hai của Wolff, “German Metaphysics” (Vernünfftige Gedancken von Gott, der Welt und der Seele des Menschen, auch allen Dingen überhaupt) xuất hiện khoảng 7 năm sau “German Logic”. Ngay khi cuốn đó xác nhận bộ môn Lôgic học chống lại những công kích Khai minh sơ kỳ, thì điều đó cũng xác nhận bộ môn siêu hình học, được hiểu như “khoa học về cái có thể như cái có thể”. Sau một chương dẫn nhập ngắn chỉ ra thế đứng Descartes của ông bằng các liên kết sự hiện hữu với ý thức (chúng ta phải hiện hữu vì chúng ta có ý thức về chúng ta), “German Metaphysics” luận giải Hữu thể học, Tâm lý học thường nghiệm, Vũ trụ học, Tâm lý học thuần lý và Thần học tự nhiên. Trong chương hai, Wolff xây dựng hai nguyên tắc (theo phái Leibniz) chi phối tư tưởng triết học của ông: nguyên tắc mâu thuẫn (“cái gì đó không thể vừa tồn tại vừa cùng lúc đồng thời không tồn tại” §10, 6) và nguyên tắc lý do đầy đủ (“mọi sự vật tồn tại thì phải có một lý do đầy đủ giải thích tại sao nó tồn tại” §30, 17). Hai nguyên tắc này có ý nghĩa không những từ điểm nhìn của tư tưởng Wolff mà còn trong ánh sáng của vai trò mà chúng sau này sẽ đóng nơi Kant sơ kỳ – sự phê phán. Trong chương bàn về Tâm lý học thuần lý (chương 5), ông biện hộ cho quan niệm của Leibniz về sự hài hòa tiền định (§765, 478-9) và, trong chương cuối bàn về Thần học tự nhiên, ông cho độc giả biết rằng thế giới phản ánh sự hoàn hảo của Thương đế (§1045, 648). Đây là những phương diện của lập trường của Wolff mà những nhà Thomasius (phái Peitism) sẽ tranh cãi. Sau khi “German Metaphysics” xuất hiện, Wolff xuất bản mỗi cuốn 1 năm để xử lý và tích hợp vào hệ thống của ông những vấn đề triết học trung tâm khác: đạo đức học năm 1720, Chính trị học năm 1721, Vật lý học năm 1723, Mục đính luận năm 1724 và Sinh học năm 1724. Đạo đức học (Vernünfftige Gedancken von der Menschen Thun und Lassen, zu Berförderung ihrer Glückseligkeit) gồm 4 phần: một phần lý thuyết xử lý nền tảng của triết học thực hành và 3 phần thực hành trình bày một học thuyết về các bổn phận mà con người có đối với bản thân họ, đối với Thượng đế, và đối với những người khác. Không ngạc nhiên gì, cứ cho rằng Wolff tin thế giới phản ánh sự hoàn hảo của Thượng đế, thì vấn đề tranh cãi trong Đạo đức học cũng là sự hoàn hảo chứ không phải, như với Thomasius, là hạnh phúc (điều này được dành cho Chính trị học của ông). Sự hoàn hảo luân lý là nguyên tắc chỉ đạo mà nhờ đó chúng ta phải lựa chọn giữa hai (hoặc hơn) hành động có thể có một cách ngang bằng. Tức là, khi đưa ra một lựa chọn tự do, chúng ta phải xem xét liệu hành động “sẽ thúc đẩy sự hoàn hảo của trạng thái bện trong hay bên ngoài chúng ta” (§2, 5) và điều đó nghĩa là phải xem xét liệu trạng thái của linh hồn và cơ thể hòa hợp với trang thái có trước hay mâu thuẫn với nó. Kết quả có sự hoàn hảo lớn hơn nhiều trong chừng mực nó đóng góp cho “trạng thái con người tự nhiên” liên tục “và sự bảo tồn hài hòa của nó qua thời gian” (§2, 5). Trạng thái con người tự nhiên mà Wolff hình dung là trạng thái của linh hồn trong những nỗ lực đa tạp của nó để tìm kiếm chân lý, và mọi sự vật phải được thực hiện để gia tăng cực độ trạng thái ấy (xem “German Metaphysics” §152, 79). Rất thường xảy ra rằng đây cũng là có nơi hạnh phúc, và như Wolff chỉ ra vào cuối cuốn Đạo đức học, phận sự của con người là phải đảm bảo không chỉ sự hoàn hảo/ hạnh phúc riêng của mình, mà phải “đóng góp càng nhiều càng tốt cho hạnh phúc của những người khác” (§767, 539). Trong “German Politics” (Vernünfftige Gedancken von dem gesellschaftlichen Leben der Menschen und insonderheit dem gemeinen Wesen), ông tiến hành nghiên cứu những sự đa dạng của các xã hội con người và chỉ ra làm thế nào chúng phải được tạo ra để “thúc đẩy sự tiến bộ không bị ngăn cấm đối với cái tốt nhất thông thường” (§3, 3). Một xã hội phải hài hòa với các qui luật của tự nhiên, nếu không nó không thể được xem là một xã hội, và hài hòa với các qui luật của tự nhiên chắc chắn có nghĩa là sự hoàn hảo/ hạnh phúc. Các tác phẩm tiếng Latinh của Wolff xuất hiện với sự đều đặn ngang nhau trong năm 1730, với “Latin Logic” (Philosophia rationalis sive logica) bắt đầu một chuỗi năm 1728. Bất chấp tính trọn vẹn hơn nhiều của chúng, hoặc có lẽ vì nó, chúng không được đọc rộng rãi trong nước Đức hoặc châu Âu như một tổng thể. Trái lại, các văn bản tiếng Đức được in lại nhiều lần (14 lần cho Lôgic học, 10 lần cho Siêu hình học), “Latin Logic” chỉ được in lại 3 lần, và một số văn bản tiếng Latinh khác có lẽ chỉ 2 lần. Vào thập niên 1730, các văn bản tiếng Đức đã tạo ra sự ảnh hưởng của Wolff và các văn bản Latinh hầu như ít làm gì để thay đổi điều đó. Vì vậy, chúng sẽ không được xem xét xa hơn trong bài viết này. [B] 3. Ngữ cảnh, những sự ảnh hưởng và các môn đệ[/B] Cả Thomasius và Wolff đều có các môn đệ. Trong trường hợp của Thomasius, điều này là trái với sự kiện rằng ông đã tuyên bố là không có ham muốn có các môn đệ hay lập một trường phái. Nhưng sau khi ông có ảnh hưởng lên những người cùng thời, hẳn sẽ ngạc nhiên gì nếu không có bất kỳ ai xem mình như đi theo những bước chân của ông, và quan trọng hơn, áp dụng sự nghiệp của ông (chống lại Wolff). Giữa những người cùng thời đã làm như vậy của Thomasius có Franz Budde (1667–1729), Joachim Lange (1670–1744), Andreas Rüdiger (1673–1731), and Adolf Friedrich Hoffmann (1707–1741). Christian August Crusius (?1715–1775), một môn đệ về sau (sinh viên của Hoffmann), đã xuất hiện trong triết học khi phái Wolff đã bắt đầu suy tàn rồi. Các môn đệ của Wolff có lẽ đa dạng hơn những người đi theo và phản bác Thomasius. Thực tế, vào thập niên 1740, phái Wolff đã trở thành triết học dẫn đạo Đức và đã trải rộng đến các trường Đại học lớn ở Đức: đến Halle (với Wolff, A.G. Baumgarten, dù ông đã chuyển đến Frankfrut an der Oder), G. F. Meier, và J. A. Eberhard, người nổi tiếng đặc biệt vì vai trò mà ông đóng nơi thuyết phê phán của Kant sơ kỳ), đến Marburg nơi thực sự mỗi nhà hàn lâm đều là một nhà Wolff học, đến Giessen (với J. F. Müller, và Böhm), đến Tübingen (với Georg Bernhard Bilfinger, Israel Gottlob Ganz và Gottfried Plouquet), đến Leipzig (với Gottsched và Ludovici), đến Jena (với Johann Peter Reusch và Joachim George Darjes), và đến Königsberg (với Knutsen, thầy của Kant). Sự chấp nhận triết học Wolff thú vị không chỉ trong quan niệm về sự chấp nhận rộng rãi của nó, mà còn trong ánh sáng của các cuộc tranh cãi mà nó tạo ra và những phát triển xa hơn mà nó khơi ra. Cuộc tranh luận chính yếu giữa các cuộc tranh cãi là 1) sự công kích của những nhà Pietism (Budde và Lange) dẫn đến việc Wolff bị bãi chức ở Halle và 2) sự công kích của các nhà Thomasius (Hoffmann và Crusius). Những phát triển xa hơn của triết học Wolff có thể được thấy đặc biệt trong lĩnh vực Mỹ học với Gottsched và Baumgarten. [B]3.1 Thuyết Pietism[/B] Sự phát triển của tư tưởng Khai minh sơ kỳ và thậm chí trung kỳ thế kỷ 18 ở Đức tiến hành tay trong tay với khuynh hướng tôn giáo (tin lành) tương đối mới lúc ấy: thuyết Pietism. Giống như sự bất đồng giữa những người đại diện cho Khai minh sơ kỳ với uy quyền và, ít nhất là trong những năm đầu, đời sống trí tuệ, những người đại diện cho thuyết Pietism tranh cãi với tính chính thống (tôn giáo) và thuyết duy trí của nó. Hơn nữa, thay vì tán thành sự phục tùng và tính tuân giáo đối với tổ chức, phong trào pietism nhấn mạnh phương diện chủ quan của đức tin: kinh nghiệm, tình cảm của một người, và trên hết, sự tham gia cá nhân của người ấy vào những vấn đề và những sự thực hiện tôn giáo. Sự nhấn mạnh lên tính chủ quan và cá nhân, và lên sự tham gia thực tế của con người trong tôn giáo đã biến thuyết Pietism thành một bạn đồng hành lý tưởng cho tư tưởng Khai minh sơ kỳ. Vấn đề tranh cãi ở đây không phải là năng lực học thuật, cũng không phải phương diện nhận thức của tôn giáo, mà là phương diện tác động của nó với sự nhấn mạnh lên lòng mộ đạo và sự phụng sự thực hành, giống như cái đang tranh cãi trong Khai minh sơ kỳ không phải là phương diện trí tuệ của lý tính, mà là sự thực hiện và phục vụ thực tế của nó. Và cả hai phong trào này được đặc trưng bằng một sự cam kết với chủ nghĩa bình quân [egalitarianism]. Điều này không có nghĩa là sự phát triển song song đã luôn hoặc thậm chí nhất thiết hài hòa. Ở Halle , đại diện chính của thuyết Pietism là August Hermann Francke (1663–1722), người mà Thomasius đã mang theo đến đó. Nhưng Thomasius và Francke không đồng ý với nhau trên mọi vấn đề. Trong khi Thomasius tán thành thuyết chủ động [activism] thực hành của Francke (ông là người thành lập trại mồ côi Halle), ông chia tay với Francke vào năm 1699, sau khi phê phán những chính sách gío dục của Francke đối với việc tạo ra “những con người không được giáo dục, u sầu, hoang tưởng, cứng đầu, ngoan cố và đầy thù hận” (trích trong Beck, 253). Người ta không rõ là Thomasius đã có, nếu có, những lý do triết học nào để quay qua chống lại Francke. Tuy nhiên, các chi tiết của sự bất đồng là không quan trọng đối với sự phát triển tư tưởng Khai minh thế kỷ 18. [B]3.2 Những nhà Thomasius[/B] Budde và Lange, cả hai đều là giáo sư Thần học chính yếu ở Jena (Budde) và Halle (Lange), đã phát triển tư tưởng của Thomasius theo một đường hướng thần học (của thuyết Pietism). Tức là, cả hai, trong đó Lange nhiều hơn Budde, đều nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự cứu rỗi trên một mức độ lớn hơn nhiều so với Thomasius, như họ đã tuyên bố rằng nguồn suối của cái Ác là ý chí và nguyên nhân gốc rễ của cái Ác là tội nguyên thủy. Dù ta có thể thấy rằng Thomasius cũng tin vào những quan niệm ấy, đặc biệt trong suốt thời gian ông hoàn thành tác phẩm Application of Moral Theory của mình, [nhưng] sự khác biệt giữa hai người kia với Thomasius là ở sự nhấn mạnh mà họ đặt lên những quan niệm ấy. Ngoài ra, trong tác phẩm chính của mình, cuốn Medicina Mentis, Lange dành một sự quan tâm lớn để chỉ ra làm thế nào có thể chữa lành ý chí và tinh thần xấu hoặc suy đồi. Điều thú vị là có những sự khác nhau không chỉ từ kích thước thần học của tư tưởng của Thomasius, mà còn trên phương diện triết học. Ở đây, đặc biệt cần ghi chú là trong những bản văn triết học của mình, Budde đã tìm kiếm một tổng thể có hệ thống và không bằng lòng đi theo phong cách tinh tuyển nhiều hơn của Thomasius. Dù ông tuyên bố là một nhà tinh tuyển, ông nghĩ điều này có nghĩa là ông không thể đưa ra một cái Tổng thể thống nhất. Cái tổng thể này được đưa ra qua 3 cuốn sách của ông về triết học. Triết học lý thuyết có thể được nhận thấy trong cuốn Institutiones Philosophiae Eclecticae xuất bản thành hai phần ở Halle năm 1703. Hai phần này là “Elementa philosophiae theoreticae,” hầu như làm một Siêu hình học, và “Elementa philosophiae instrumentalis,” tức Lôgic học của Budde. Cùng với tác phẩm sớm hơn về triết học thực hành, cuốn Elementae Philosophiae Practicae, được xuất bản nguyên bản năm 1697 nhưng đã được duyệt lại quan trọng cho ấn bản năm 1703, những bản văn này tạo nên hệ thống triết học của Budde. Rüdiger, Hoffmann, và Crusius được liên kết thông qua những mối quan hệ thầy trò, Rüdiger dạy Hoffmann, rồi Hoffmann lại dạy cho Crusius. Xem phần các Tranh cãi bên dưới về vai trò mà họ, đặc biệt là Crusius, đã đóng trong sự bất đồng của Thomasius với Wolff. [B]3.3 Các nhà Wolff[/B] Thuyết Duy lý Khai minh của Wolff đã tạo ra một tác động quyết định lên quang cảnh triết học ở Đức trong thập niên 1720. Qua những năm giữa thế kỷ 18, và chống lại những phản bác từ cả những nhà Thomasius và thuyết Pietism, phái Wolff đã nắm quyền thống trị, ít nhất là trong một thời gian. Chắc chắn, những sự kiện dẫn đến sự trục xuất Wolff khỏi Halle đã đóng góp cho sự tai tiếng và danh tiếng của ông. Các triết gia đi theo sự nghiệp của ông trên thực thế trong mọi đại học ở miền Đông và miền Bắc nước Đức, đôi khi phát triển hệ thống triết học của ông theo nhiều hướng khác nhau. Trong những người đại diện chính cho phái Wolff có J. C. Gottsched (1700–1766) ở Leipzig, Alexander Gottlieb Baumgarten (1714–62) và H. F. Meier, những người đóng ai trò chính yếu trong việc tạo nên Mỹ học, ở Frankfurt am Main, và ở Königsberg có người thầy của Kant là Martin Knutsen (1713–51). Phái Wolff còn đóng một vai trò trung tâm trong những phê phán sơ kỳ của triết học phê phán của Kant. Ở đó, nó được đại diện chủ yếu bởi Eberhard, Maaß, và Schwab, và trong tạp chí phê bình lớn thời ấy, tạp chí Allgemeine deutsche Bibliothek của Nicolai' (Xem Allison, The Kant-Eberhard Controversy). Không nghi ngờ gì là phái Wolff đã ngự trị các trường đại học Đức trong suốt thập niên 1720 đến 1740, dù nó nhanh chóng phân rã trong chừng mực nào đó sau khi Wolff mất năm 1754 với, giữa những sự phát triển khác, sự phát triển về Mỹ học. [B]3.4 Các tranh cãi[/B] Căn cứ vào hai lối tiếp cận khác nhau tận căn trong việc đưa ra sự kêu gọi Khai minh đối với sự sử dụng lý tính một cách độc lập mà chúng ta nhận thấy ở thế kỷ 18, thì không ngạc nhiên gì là thời đại ấy phải có phần của mình trong các cuộc tranh cãi. Điều này đặc biệt thấy rõ trong những sự bất đồng quanh Wolff và phái Wolff. Như đã chỉ ra ở trên là hai sự công kích quan trọng đã nổi lên là 1) sự công kích dẫn đến việc Wolff bị trục xuất khỏi Halle và 2) sự công kích được đưa ra bởi Hoffmann và Crusius. Sự công kích thứ 1 được đưa ra bởi các môn đệ theo thuyết Pietism của Thomasius. Họ, nhất là Budde và Lange, tập trung sự đối lập của họ với thuyết Wolff quanh thuyết Định mệnh và thuyết Spinoza mà họ cho là hệ thống của Wolff đã chứa đựng. Ngoài ra, sự phụ thuộc của Wolff vào phương pháp toán học và sự phụ thuộc của ý chí thần thánh vào tính tất yếu cũng bị đặt thành vấn đề. Tương tự, học thuyết của Leibniz về sự hài hòa tiền định của linh hồn và thể xác mà các nhà phê bình đã gán cho Wolff cũng được cho là lập dị với khả thể của ý chí tự do, và với đó, là trách nhiệm đối với các hành động của ta. Nếu sự tương tác qua lại giữa linh hồn và thể xác phải được quyết định trước (pre-ordained) hay tiền định (pre-established), thì không thể nào có chuyện chúng ta có thể hành động cách nào khác hơn là việc ta bị qui định để hành động, và những khái niệm về trách nhiệm và tội sẽ chỉ là một điều hão huyền. Ở đây, cần thêm vào rằng sự phê phán về niềm tin vào một ý chí tự do đã được biện minh. Wolff đấu tranh với khả thể này cũng nhiều như Leibniz đã làm, và hoàn toàn không rõ là giả thử họ trung thành với sự hài hòa tiền định, thì liệu một người có thành công trong việc giải quyết câu hỏi hắc búa trên cấp độ hữu thể học không. Có một cước chú thú vị cho những cuộc tranh cãi này là trong khi bản thân Thomasius không tham dự vào các cuộc tranh cãi ấy, thi Wolff lại tham dự. Năm 1724, ông xuất bản một sự hồi đáp chi tiết cho sự phê phán của Budde và Lange về Siêu hình học Đức (Kleine Kontroversschriften mit Joachim Lange und Johann Franz Budde) và ông cũng tiếp tục các quan tâm của họ trong cuốn Anmerkungen cho Siêu hình học Đức. Sự công kích thứ hai được đưa ra bởi các nhà Thomasius không dựa trên nền tảng thuyết Pietism của họ là: Andreas Rüdiger (1673–1731), Adolf Friedrich Hoffmann (1707–1741), và Christian August Crusius (?1715–1775). Rüdiger và Hoffmann công kích Wolff về một số các vấn đề (chẳng hạn như mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác mà họ xem như tạo nên một sự thống nhất [nhất thể], chứ không phải hai bản thể riêng biệt, sự phân biệt giữa phương pháp toán học và phương pháp triết học, và vấn đề về vai trò của ý chí trong Đạo đức học). Ít nhất, một số vấn đề tranh cãi đã được Crusius tiếp tục, ông cũng là nhà Thomasius cuối cùng chống đối Wolff. Crusius làm triết học ở Leipzig vào thập niên 1740 trước khi đảm nhiệm chức giáo sư Thần học năm 1751. Giống như những nhà Thomasius trước đây, ông tra vấn việc Wolff xem ý chí phụ thuộc vào lý tính, khi lập luận cho sự tự do của cái trước chống lại cái mà ông xem là thuyết Định mệnh của Wolff, dù ông sẵn lòng thừa nhận rằng ý chí cần phải có giác tính. Có lẽ phương diện ý nghĩa nhất trong tư tưởng của Crusius là sự dị biệt hóa của ông giữa phương pháp triết học và phương pháp toán học. Trái với việc toán học được cho là được đặt nền tảng trên nguyên tắc mâu thuẫn, thì điều này không đúng với triết học. Triết học phải làm việc với những đối tượng có thực, với Tự nhiên, các cấu trúc và các lực của nó, chứ không phải với những khái niệm trừu tượng và giả tạo của Toán học. Cùng lúc, ông cũng cho rằng Toán học có một vai trò trong sự phân tích về Tự nhiên – nó có thể mang lại những khái niệm về các vật thể và những mối quan hệ của chúng. Dĩ nhiên, như những người đương thời của ông đã chỉ ra, một người sẽ băn khoăn không biết tại sao Toán học lại có một vai trò trong sự nghiên cứu về thế giới “hiện thực” nếu bản chất của sự trừu tượng hóa của nó làm cho nó khác biệt với thế giới hiện thực (cụ thể). Crusius không có câu trả lời cho những câu hỏi ấy, nhưng đây là một chủ đề mà Kant phải đảm nhiệm trong dự án tiền-phê phán của ông. [B]4. Vượt khỏi Wolff[/B] Với sự suy tàn của phái Wolff sau năm 1754, triết học Đức đã nhàn rỗi trong một thời gian. Sự suy tàn ấy bị thúc đẩy không những bởi những phê phán mà các nhà Thomasius đưa ra, mà còn bởi những sự phát triển bên trong của phái Wolff được nhiều môn đệ của Wolff đề xuất. Chẳng hạn, Hermann Samuel Reimarus (1694–1768) đã phát triển một phê phán duy lý về sự thiên khải, khi lập luận ủng hộ cho việc tôn giáo cá nhân thuần lý phải được đặt cơ sở trên lý tính (Apologie oder Schützschrift für die vernünftigen Verehrer Gottes, được xuất bản ẩn danh). Những người khác bắt đầu mở rộng thuyết Wolff thành nhiều lĩnh vực mà bản thân Wolff chưa xem xét đến, qua đó đóng góp cho sự phát triển quan trọng. Ở đây, lĩnh vực Mỹ học là nổi rõ nhất. Ngoài ra, vào giữa thế kỷ 18, triết học Pháp và Scottland thuộc Anh (đặc biệt) (Inquiry của Hume, Essay của Locke, cùng với những văn bản khác của Hume, Reid, Hutcheson, Beattie, Condillac) đã bắt đầu có các bản dịch, vì thế đưa ra một sự lựa chọn thay thế rõ ràng cho thuyết Duy lý của phái Wolff. Những bản văn này cực kỳ có ảnh hưởng. Hãy nhớ lại tuyên bố của Kant rằng hồi ức của ông về David Hume đã đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều (Prolegomena, Ak. IV, 260). Các nhà Duy nghiệm, chẳng hạn như Feder và Garve cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự Phê phán sơ kỳ của Kant (xem Sassen, Kant's Early Critics). Nhìn chung, triết học Đức thế kỷ 18 sau năm 1750 và trước năm 1781 [năm Kant ra mắt cuốn Phê phán Lý tính thuần túy – Nd] là một thời kỳ không có trường phái nào ngự trị, nhưng thuộc về những cá nhân có liên kết lỏng lẻo với một số khuynh hướng khác nhau. Trong các cá nhân không thể được quy vào bất kỳ nơi nào có Johann Heinrich Lambert, Moses Mendelssohn và Johann Nikolaus Tetens. Không phải là nhà Thomasius và cũng không là nhà Wolff, họ phải được xem như nằm trong quan hệ với triết học tiền- phê phán và triết học phê phán của Kant, không phải từ điểm nhìn của triết học Đức trước Kant. [B]4.1 Mỹ học[/B] Dù Wolff đã tìm cách tích hợp trên thực tế mọi phương diện của triết học vào hệ thống của ông, ông không có gì để nói về triết học về nghệ thuật. Theo cách nào đó, điều này không có gì ngạc nhiên nếu chúng ta xem xét rằng trong nước Đức của Khai minh sơ kỳ, các nghệ thuật, nhất là thơ ca và văn học, hầu như là không hiện hữu. Những nhà văn vĩ đại Đức thậm chí còn chưa sinh ra khi Wolff viết các bản văn tiếng Đức của ông (Lessing sinh năm 1729, Herder năm 1744, Goethe năm 1749). Người đầu tiên phát triển một lý thuyết về các nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca, là Johann Christoph Gottsched (1700–1766), người đã xuất bản ‘Critical Poetry’ của ông (Versuch einer critischen Dichtkunst vor die Deutschen) năm 1730. Sau khi luận giải thơ ca một cách khoa học, ông tạo ra một nhóm các qui tắc nhằm hướng dẫn sáng tác. Căn cứ theo quan niệm của ông về cái gì là một bài thơ (một truyện luân lý), và cũng dựa theo ý niệm của ông về cái gì được chứa đựng trong sự sáng tác nó (một nhóm các qui tắc), ở đây có rất ít chỗ trống cho cái Đẹp và càng ít hơn nữa đối với tình cảm và cảm hứng [sáng tác]. Nhưng tình cảm và cảm hứng chính là đường hướng mà trong đó thơ ca sẽ đang đi vào giữa thế kỷ. Triết học phái Wolff của Gottsched về thơ ca, vì vậy, nhanh chóng bị chiếm chỗ bằng cuốn Critische Abhandlung (1740) của Johann Jakob Breitinger, một cuốn sách nhấn mạnh kinh nghiệm hậu nghiệm của thơ ca, chứ không phải sự sáng tác theo qui tắc của nó. Một sự tổng hợp có vẻ như theo phái Wolff về hai lối tiếp cận ấy được Alexander Gottlieb Baumgarten (1714–1762), có lẽ là môn đệ nổi tiếng nhất của Wolff, đưa ra. Baumgarten đưa ra hai bản văn lớn, Siêu hình học của ông năm 1739 (Metaphysica) mà Kant đã dùng như một sách giáo khoa, và Mỹ học của ông (Aesthetica) năm 1750 và 1758. Việc ông tạo ra thuật ngữ “aesthetics” [Mỹ học] để chỉ triết học về nghệ thuật, đặc biệt là về thơ ca, hẳn khó được cho là quan trong nếu ông không làm việc gì khác nữa. Tuy nhiên, trong khi phát triển “lĩnh vực” Mỹ học, ông cũng đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu về các giác quan. Trái với việc Wolff quan niệm các giác quan chỉ đơn thuần như mang lại chất liệu thô cho tiến trình xử lý, một công việc được Giác tính thực hiện và bị chi phối bởi các qui tắc lôgic, Baumgarten nghĩ rằng các giác quan có các qui tắc riêng của nó và có sự hoàn hảo riêng của nó, các qui tắc và sự hoàn hảo khác với các qui tắc lôgic và nhận thức phát sinh bởi tiến trình lôgic. Các qui tắc của cảm giác được nghiên cứu bởi khoa học về tri giác, mà Baumgarten gọi là Mỹ học. Nhưng Mỹ học còn là ngành nghiên cứu về thơ ca. Trong Reflections on Poetry [Những nhận định về Thơ ca], ông xác lập khái niệm về tính rõ ràng thẩm mỹ. Dù những biểu tượng thơ ca là những biểu tượng không phân minh (§14, 42), chúng có tính rõ ràng cảm tính. Baumgarten nhận diện tính rõ ràng ấy như tính rõ ràng về quảng tính để dị biệt hóa nó với tính rõ ràng về cường độ của Lôgic học (§17, 43). Khi kêu gọi đến các giác quan, biểu tượng thơ ca có thể có tính khai minh nhiều hơn các biểu tượng được tạo ra bằng tiến trình và suy luận lôgic học. Hơn nữa, khi kêu gọi đến những xúc động, những biểu tượng ấy được nối kết với sự vui sướng. Người ta chỉ có thể thấy ảnh hưởng mà Baumgarten dường như đã tác động lên triết học phê phán của Kant – sự xác minh của các giác quan xuất hiện lại theo một cách thức Kant cố hữu trong cả Cảm năng học siêu nghiệm của của cuốn Critique of Pure Reason [Phê phán lý tính thuần túy] và cuốn Critique of Judgment [Phê phán năng lực phán đoán]. [B][I]Hoàng Phú Phương dịch Nguồn: plato.stanford.edu[/I][/B] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Triết học Đức thế kỷ 18 trước Kant
Top