Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Triết học Cổ điển Đức
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Bút Nghiên" data-source="post: 17251" data-attributes="member: 699"><p><strong>2.2. Hêghen (1770 -1831)</strong></p><p></p><p> Heghen sinh năm 1770 ở Stuttgart là con một công chức cao cấp. Hồi còn trẻ theo học trường đại học Tubingue. Sau khi tốt nghiệp ông làm giáo sư dạy tư trong các gia đình, làm hiệu trưởng trường trung học Nuremberg, rồi làm giáo sư trường đại học Heldeberg. Trong quá trình giảng dạy ông để nhiều thời gian nghiên cứu và viết các tác phẩm triết học như: “Hiện tượng học tinh thần” (1807), “Khoa học logic” (1812-1814), “Bách khoa toàn thư các khoa học triết học” (1817), ... </p><p>Hêghen là một nhà biện chứng lỗi lạc, nội dung triết học bao quát nhiều lĩnh vực. Do vậy chúng ta không thể có điều kiện nghiên cứu tất cả mà chỉ nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu sau:</p><p></p><p><strong>2.2.1. Kết cấu của hệ thống triết học Hêghen</strong></p><p></p><p>Hệ thống triết học của ông gồm ba phần:</p><p></p><p>- Lôgic học, đây là học thuyết về các quy luật phổ biến của vận động và phát triển, về các nguyên tắc lý tính dùng làm cơ sở cho mọi dạng tồn tại. Lôgic học bao gồm ba bộ phận: Tồn tại, bản chất, khái niệm.</p><p></p><p>- Triết học về tự nhiên, đây là học thuyết về sự phát triển của giới tự nhiên dưới hình thức duy tâm. Triết học tự nhiên bao gồm cả ba bộ phận: Thuyết máy móc, thuyết hóa học, thuyết hữu cơ.</p><p></p><p>- Triết học về tinh thần, đây là học thuyết về lịch sử của con người và sự nhận thức của con người, nguồn gốc tạo thành mọi dạng tồn tại. Phần này được chia thành ba bộ phận: Tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối.</p><p></p><p><strong>2.2.2. Quan niệm về thế giới</strong></p><p></p><p> Quan niệm về thế giới của ông được thể hiện trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” và “Lôgic học”.</p><p></p><p> Theo Hêghen thì đầu tiên có tinh thần tuyệt đối tồn tại, bên trong chứa đựng các mặt đối lập; hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau làm cho nó luôn vận động phát triển khi đạt tới dạng hoàn thiện thì “Tha hóa” (biến thành cái khác nó, nhưng chính là nó ở trạng thái khác và hình thức khác) biểu hiện thành giới tự nhiên. Trong giới tự nhiên cũng chứa đựng các mặt đối lập chúng vừa thống nhất và đấu tranh với nhau cho nên tạo ta động lực thúc đẩy giới tự nhiên phát triển từ vô cơ đến hữu cơ rồi đến con người. Vì trong con người chứa đựng các mặt đối lập cho nên, luôn nằm trong quá trình hoàn thiện, nhưng không phải là hoàn thiện mặt thể xác mà hoàn thiện, phát triển về mặt tinh thần ý thức. Khi phát triển đến mức độ hoàn thiện nhất con người không những nhận thức được thế giới tự nhiên, tự nhận thức được mình mà nhận thức được tinh thần tuyệt đối biểu hiện qua hình thức tôn giáo, nghệ thuật, triết học.</p><p></p><p> Ở đây điểm khởi đầu là “tinh thần” điểm kết thúc của sự phát triển cũng là “tinh thần”, chỉ có khác lúc đầu là “tinh thần thế giới”, còn điểm kết thúc là “tinh thần tuyệt đối” tồn tại ở mỗi cá nhân con người. Do đó, triết học của Hêghen xét theo hệ thống là triết học duy tâm khách quan. Bởi vì, ông thừa nhận tinh thần có trước, giới tự nhiên (vật chất) có sau phụ thuộc và phát sinh từ tinh thần tuyệt đối.</p><p></p><p> Hêghen còn cho rằng, khi các dạng tồn tại được “tinh thần tuyệt đối” tạo ra thì không ngừng biến đổi theo các nguyên lý:</p><p></p><p>- Một là: mỗi dạng tồn tại không những khác nhau mà còn làm “trung giới cho nhau” tức có liên hệ với nhau.</p><p></p><p>- Hai là: Mỗi dạng tồn tại đều trải qua quá trình vận động, phát triển; quá trình đó được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc:</p><p></p><p>Nguyên tắc thứ nhất: Chất và lượng quy định lẫn nhau. Những chuyển hóa về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và người lại.</p><p></p><p>Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển tạo ra sự chuyển hóa giữa nội dung với hình thức, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hình thức, v.v.</p><p></p><p>Nguyên tắc thứ ba: Phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển diễn theo hình thức xoáy ốc. </p><p> </p><p>Những nguyên lý và nguyên tắc trên là nội dung chủ yếu của phép biện chứng mà Hêghen xây dựng. Phép biện chứng này tuy có hạn chế ở chỗ trình bày trên cơ sở của quan điểm duy tâm nhưng nó đã phản ánh đầy đủ quá trình vận động và phát triển chúng; trong nó đã chứa đựng hạt nhân hợp lý: không có cái gì nhất thành bất biến, mọi cái luôn biến đổi. Đây là một giá trị lý luận chủ yếu của triết học Hêghen.</p><p></p><p><strong>2.2.3. Quan điểm về nhận thức </strong></p><p><strong></strong></p><p>Quan điểm nhận thức của Hêghen được trình bày trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” và “Lôgic học”.</p><p></p><p> Nếu như Cantơ cho rằng đối tượng nhận thức là sự vật thì Hêghen lại cho rằng đối tượng của nhận thức là nguyên nhân tạo thành các dạng tồn tại tức “tinh thần tuyệt đối”. Trong “Lôgic học” ông khẳng định nhận thức của con người là sự tự nhận thức “tính thần tuyệt đối”.</p><p> </p><p>Với quan điểm biện chứng Hêghen cho rằng, nhận thức là một quá trình phát triển, tự hoàn thiện; quá trình này gắn với lịch sử phát triển của xã hội. Trong thời kỳ thượng cổ con người chỉ mới có ý thức cảm tính, người thượng cổ nhìn thế giới một cách trực tiếp. Đến giữa thời kỳ chiếm hữu nô lệ theo ông, con người mới tự ý thức được sự tồn tại của chính mình. Thời trung cổ, ý thức con người bước vào bất hạnh vì chỉ biết tuân theo ý chúa. Chỉ đến thời kỳ khoa học phát triển thì khả năng trí tuệ của con người mới đạt tới trình độ lý tính, mới mang tính xã hội. Lúc đó con người sử dụng khái niệm để tư duy do vậy mới nhận thức được “tinh thần tuyệt đối”.</p><p></p><p> Mặt khác ông còn cho rằng, sự phát triển của khả năng nhận thức cá nhân như là sự lặp lại và thu gọn toàn bộ tiến trình lịch sử mà nhận thức con người đã trải qua.</p><p></p><p> Như vậy, Hêghen bộc lộ quan điểm có thể biết trên cơ sở thế giới quan duy tâm.</p><p></p><p><strong>2.2.4. Quan điểm về con người và chính trị xã hội</strong></p><p></p><p>Quan điểm về con người và chính trị xã hội được Hêghen trình bày trong tác phẩm “Triết học về pháp quyền” và “Triết học lịch sử”.</p><p></p><p>Khi bàn đến vấn đề con người, ông không giống như các nhà triết học Anh và Pháp thế kỷ XVI - XVIII chia tách con người thành hai phần mà ông quan niệm con người là chỉnh thể thống nhất. Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, chính qua quá trình hoạt động mà ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và ý chí tự do của con người mới phát triển. Do đó, con người mới hoàn thiện. Như vậy, ở đây Hêghen không bàn đến con người cụ thể mà bàn đến con người trìu tượng, lý tính phi lịch sử.</p><p></p><p> Quan niệm con người trong triết học Hêghen thường gắn với quan điểm về nhà nước và pháp quyền. Theo ông “luận điểm khẳng định mọi người về bản tính vốn bình đẳng là không đúng ..., cần phải nói ngược lại rằng con người về bản tính vốn bất bình đẳng”. Từ đây dẫn tới quan điểm: mọi sự bất công trong xã hội là hiện tượng tất yếu xuất phát từ bản tính con người. Vì thế trong xã hội thường xuyên xảy ra những mẫu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã hội khác nhau. Chính từ đó nhà nước xuất hiện. Theo Hêghen, nhà nước ra đời nhằm dung hòa các mẫu thuẫn giữa các đẳng cấp nhằm định hướng sự phát triển của xã hội. Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp mà là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, văn hóa. Vì thế nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử.</p><p></p><p>Nhà nước theo ông là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong đời sống xã hội nó có quá trình phát triển. Nhà nước Phổ là đỉnh cao của sự phát triển đó, vì nó là đại biểu cho công lý, đạo đức; nhà nước đó sẽ tồn tại mãi. Bởi vì, “Cái gì hợp lý, thì sẽ hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”; ở đây, Hêghen đã lập luận để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước phong kiến Phổ.</p><p></p><p>Khi bàn đến chiến tranh, Hêghen cho rằng, chiến tranh là một hiện tượng vĩnh viễn và tất yếu trong lịch sử, nhờ có chiến tranh mà thể trạng đạo đức của dân tộc được bảo tồn; chiến tranh bảo vệ các dân tộc tránh khỏi sự thối nát.</p><p></p><p>Hêghen cho rằng, lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan trong hoạt động của con người. Nhưng lịch sử không diễn ra theo ý muốn chủ quan của con người mà phát triển theo xu hướng tất yếu trải qua các thời đại. Sự phát triển tự do của con người là chuẩn mực, ưu việt của thời đại này so với thời đại khác. Nhưng ông hiểu tự do một cách duy tâm: tự do còn thể hiện trong sự hiểu biết và làm theo ý chúa.</p><p></p><p>Tóm lại, vai trò lịch sử của triết học Hêghen là ở chỗ đã xây dựng được phép biện chứng, những vấn đề cốt lõi nhất của phép biện chứng hiện đại đã được ông đề cập đến một cách bao quát và sâu sắc. Vì vậy, ông được Ph. Ăng ghen đánh giá rất cao "ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực ông xuất hiện ra là một người vạch thời đại".</p><p></p><p><strong>2.3. Lutvích Phoiơbắc (1804-1872)</strong></p><p></p><p>Ông là nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, sinh năm 1804 trong một gia đình luật sư ở Đức. Ông theo học trường đại học tổng hợp Beclin, tham gia nhóm Hêghen trẻ. Về sau tách khỏi nhóm này trở thành người phê phán Hêghen, xây dựng hệ thống triết học, duy vật của mình. Ông viết nhiều tác phẩm triết học, trong đó có những tác phẩm lớn như: "Phê pháp triết học Hêghen" (1839); "Bản chất của đạo đức thiên chúa", "Luận cương sơ bộ về cải cách triết học" (1842), "Những nguyên lý của triết học tương lai" (1843), "Bản chất của tôn giáo", v.v. Học thuyết triết học của ông thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau:</p><p></p><p><strong>2.3.1. Sự phê phán triết học Hêghen</strong></p><p></p><p> Sau khi Hêghen mất thì lực lượng kế tục có sự phân chia thành hai phái, phái Hêghen già ủng hộ sự thống trị của "tinh thần tuyệt đối" đối với thế giới hiện thực; phái Hêghen trẻ coi sự thống trị đó là những xiềng xích trói buộc con người. Do chịu ảnh hưởng của các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII và sự phát triển khoa học đầu thế kỷ XIX, Phoi Ơ Bắc đã nhận thấy những mặt rất hạn chế của cả hai phái và bắt đầu thực hiện phê phán toàn bộ triết học Hêghen. Theo ông, triết học Hêghen mắc sai lầm ngay từ khởi điểm xuất phát và cả trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất với tinh thần, giữa con người với thế giới. Hạn chế cơ bản nhất của Hêghen là ở chỗ dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm để xây dựng học thuyết triết học. Cho nên triết học Hêghen không tạo ra được bức tranh trung thực về thế giới. Ông cho rằng muốn xây dựng được một học thuyết triết học đúng đắn phải dựa trên lập trường duy vật. Ông nhận xét "Triết học Hêghen là chỗ ẩn náu cuối cùng, chỗ dựa hợp lý của thần học".</p><p></p><p><strong>2.3.2. Quan niệm về thế giới</strong></p><p></p><p> Xuất phát từ luận điểm: "Quan hệ thực sự của tư duy với tồn tại là: tồn tại, chủ thể; tư duy, thuộc tính" Phoiơbắc bảo vệ và chứng minh những nguyên lý duy vật của mình. Ông quan niệm, vật chất có trước, ý thức có sau, tự nhiên tự nó tồn tại và người ta chỉ có thể giải thích tự nhiên xuất phát từ bản thân nó. Ý thức không tự nó tồn tại được vì nó chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất.</p><p></p><p> Nếu như Cantơ quan niệm không gian và thời gian là hình thức "tiên nhiên" thì Phoiơbắc quan niệm, không gian và thời gian tồn tại khách quan, không có vật chất tồn tại vận động bên ngoài không gian và thời gian. Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của các quy luật tự nhiên, của quan hệ nhân quả; thừa nhận sự vận động và phát triển của giới tự nhiên diễn ra một cách khách quan, từ đó dẫn tới sự xuất hiện của đời sống hữu cơ, con người.</p><p></p><p> Ở đây, Phoiơbắc chưa khắc phục được hạn chế của duy vật siêu hình, coi vật chất như là một cái gì thuần nhất. Tuy thừa nhận vật chất vận động nhưng chưa lý giải được nguồn gốc, động lực, hình thức của vận động.</p><p></p><p><strong>2.3.3. Quan niệm về nhận thức</strong></p><p></p><p> Phoiơbắc phê phán hệ thống duy tâm khách quan của Hêghen ở chỗ, coi đối tượng tư duy không có gì khác với bản chất của tư duy. Từ đó ông khẳng định, đối tượng nhận thức nói chung và của triết học nói riêng là giới tự nhiên và con người. Ông kêu gọi: Hãy quan sát giới tự nhiên đi, hãy quan sát con người đi! Bạn sẽ thấy ở đấy, trước mắt bạn, những bí mật của triết học. Phoi Ơ Bắc cho rằng, chủ thể nhận thức không phải trìu tượng mà là con người cụ thể, con người có khả năng nhận thức được giới tự nhiên, một người thì không thể nhận thức được hoàn toàn thế giới tự nhiên, nhưng toàn bộ loài người thông qua các thế hệ thì có thể nhận thức được. Con người nhận thức được thế giới trước hết thông qua cảm giác; "Bí quyết của sự hiểu biết trực tiếp tập trung trong tính cảm giác".</p><p></p><p>Phoiơbắc cũng đã xác định được mối quan hệ giữa hình thức nhận thức cảm tính với lý tính, nhưng khi tiến lên giai đoạn tư duy lý tính thì ông không rút ra được kết luận rõ ràng.</p><p></p><p>Như vậy, Phoiơbắc đã xây dựng quan điểm duy vật về nhận thức; đã khẳng định, con người có khả năng nhận thức. Nhưng trong lý luận nhận thức đã bộc lộ hạn chế ở chỗ, chưa hiểu được quá trình phát triển biện chứng của nhận thức, vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức. Cho nên, quan điểm nhận thức của Phoiơbắc vẫn nằm trong khuôn khổ của những phương pháp suy nghĩ siêu hình.</p><p> </p><p><strong>2.3.4. Quan niệm về con người</strong></p><p><strong></strong></p><p> Phoiơbắc phê phán Hêghen đã quan niệm con người một cách trìu tượng và thần bí coi đó như một lực lượng siêu tự nhiên; đây là một quan niệm sai. Do vậy, theo ông phải xây dựng một quan niệm mới về con người.</p><p></p><p> Phoiơbắc quan niệm con người như một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có ước mơ, có tình yêu thương; lòng yêu thương vốn là bản chất của con người. Trong con người có sự thống nhất giữa cơ thể với tư duy. Con người không phải là nô lệ của thượng đế hay tinh thần tuyệt đối mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả phát triển của tự nhiên.</p><p></p><p> Thế nhưng trong xã hội con người bị kìm hãm trói buộc bởi giáo lý tôn giáo và bởi các quy định của xã hội. Cho nên, cần phải giải phóng con người khỏi sự ràng buộc đó; nhằm đem lại cho con người một quan niệm mới về chính mình, tạo điều kiện để con người trở nên hạnh phúc. Theo ông, đây cũng là nhiệm vụ của các nhà triết học.</p><p></p><p> Xác định vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của triết học Phoiơbắc trở thành đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật nhân bản. Đây là mặt tiến bộ so với các nhà trước học trước ông. Tuy nhiên ông đã không thấy được phương diện xã hội của con người. Con người mà ông quan niệm là con người bị tách khỏi điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử. Do vậy về lĩnh vực này ông chưa thoát khỏi ảnh hưởng của quan điểm duy tâm.</p><p></p><p><strong>2.3.5. Quan niệm về xã hội</strong></p><p></p><p> Trong quan niệm về tự nhiên, Phoiơbắc là nhà duy vật; còn trong quan niệm về xã hội ông lại thể hiện quan điểm duy tâm. Ông khẳng định những thời kỳ lịch sử loài người sở dĩ khác nhau chỉ do những thay đổi các hình thức tôn giáo; thay thế tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới sẽ làm cho xã hội tiến lên. Ở đây, Phoiơbắc chưa thấy được vai trò của thực tiễn xã hội quyết định sự vận động phát triển của xã hội loài người.</p><p> </p><p> Khi bàn đến tôn giáo, Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và của sự tưởng tượng của con người. Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người trước sức mạnh tự nhiên và điều kiện của xã hội. Chính con người đã bày đặt ra thần thánh bằng cách trìu tượng hóa bản chất con người. Do vậy, cần thay thế tôn giáo cũ bằng thứ tôn giáo mới không cần có thần thánh, chúa trời mà lấy tình yêu giữa người với người làm nền tảng.</p><p></p><p> Những quan điểm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản vạch ra được nguồn gốc tâm lý con người đối với tôn giáo. Tuy nhiên, ông chưa chỉ rõ nguồn gốc thực sự của tôn giáo, chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế - xã hội của vấn đề.</p><p></p><p> Mặc dù còn những hạn chế siêu hình trong quan điểm về tự nhiên duy tâm trong quan điểm về xã hội, chưa có quan điểm duy vật triệt để về con người nhưng Phoiơbắc đã có công lao trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật chống lại quan điểm duy tâm và tôn giáo; vì thế, quan điểm duy vật của Phoiơbắc cùng với tư tưởng biện chứng của Cantơ và phép biện chứng của Hêghen trở thành tiền đề lý luận hình thành triết học Mác - Lênin.</p><p></p><p>Nguồn: Đại học Mỏ Địa chất</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Bút Nghiên, post: 17251, member: 699"] [B]2.2. Hêghen (1770 -1831)[/B] Heghen sinh năm 1770 ở Stuttgart là con một công chức cao cấp. Hồi còn trẻ theo học trường đại học Tubingue. Sau khi tốt nghiệp ông làm giáo sư dạy tư trong các gia đình, làm hiệu trưởng trường trung học Nuremberg, rồi làm giáo sư trường đại học Heldeberg. Trong quá trình giảng dạy ông để nhiều thời gian nghiên cứu và viết các tác phẩm triết học như: “Hiện tượng học tinh thần” (1807), “Khoa học logic” (1812-1814), “Bách khoa toàn thư các khoa học triết học” (1817), ... Hêghen là một nhà biện chứng lỗi lạc, nội dung triết học bao quát nhiều lĩnh vực. Do vậy chúng ta không thể có điều kiện nghiên cứu tất cả mà chỉ nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu sau: [B]2.2.1. Kết cấu của hệ thống triết học Hêghen[/B] Hệ thống triết học của ông gồm ba phần: - Lôgic học, đây là học thuyết về các quy luật phổ biến của vận động và phát triển, về các nguyên tắc lý tính dùng làm cơ sở cho mọi dạng tồn tại. Lôgic học bao gồm ba bộ phận: Tồn tại, bản chất, khái niệm. - Triết học về tự nhiên, đây là học thuyết về sự phát triển của giới tự nhiên dưới hình thức duy tâm. Triết học tự nhiên bao gồm cả ba bộ phận: Thuyết máy móc, thuyết hóa học, thuyết hữu cơ. - Triết học về tinh thần, đây là học thuyết về lịch sử của con người và sự nhận thức của con người, nguồn gốc tạo thành mọi dạng tồn tại. Phần này được chia thành ba bộ phận: Tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối. [B]2.2.2. Quan niệm về thế giới[/B] Quan niệm về thế giới của ông được thể hiện trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” và “Lôgic học”. Theo Hêghen thì đầu tiên có tinh thần tuyệt đối tồn tại, bên trong chứa đựng các mặt đối lập; hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau làm cho nó luôn vận động phát triển khi đạt tới dạng hoàn thiện thì “Tha hóa” (biến thành cái khác nó, nhưng chính là nó ở trạng thái khác và hình thức khác) biểu hiện thành giới tự nhiên. Trong giới tự nhiên cũng chứa đựng các mặt đối lập chúng vừa thống nhất và đấu tranh với nhau cho nên tạo ta động lực thúc đẩy giới tự nhiên phát triển từ vô cơ đến hữu cơ rồi đến con người. Vì trong con người chứa đựng các mặt đối lập cho nên, luôn nằm trong quá trình hoàn thiện, nhưng không phải là hoàn thiện mặt thể xác mà hoàn thiện, phát triển về mặt tinh thần ý thức. Khi phát triển đến mức độ hoàn thiện nhất con người không những nhận thức được thế giới tự nhiên, tự nhận thức được mình mà nhận thức được tinh thần tuyệt đối biểu hiện qua hình thức tôn giáo, nghệ thuật, triết học. Ở đây điểm khởi đầu là “tinh thần” điểm kết thúc của sự phát triển cũng là “tinh thần”, chỉ có khác lúc đầu là “tinh thần thế giới”, còn điểm kết thúc là “tinh thần tuyệt đối” tồn tại ở mỗi cá nhân con người. Do đó, triết học của Hêghen xét theo hệ thống là triết học duy tâm khách quan. Bởi vì, ông thừa nhận tinh thần có trước, giới tự nhiên (vật chất) có sau phụ thuộc và phát sinh từ tinh thần tuyệt đối. Hêghen còn cho rằng, khi các dạng tồn tại được “tinh thần tuyệt đối” tạo ra thì không ngừng biến đổi theo các nguyên lý: - Một là: mỗi dạng tồn tại không những khác nhau mà còn làm “trung giới cho nhau” tức có liên hệ với nhau. - Hai là: Mỗi dạng tồn tại đều trải qua quá trình vận động, phát triển; quá trình đó được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc: Nguyên tắc thứ nhất: Chất và lượng quy định lẫn nhau. Những chuyển hóa về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và người lại. Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển tạo ra sự chuyển hóa giữa nội dung với hình thức, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hình thức, v.v. Nguyên tắc thứ ba: Phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển diễn theo hình thức xoáy ốc. Những nguyên lý và nguyên tắc trên là nội dung chủ yếu của phép biện chứng mà Hêghen xây dựng. Phép biện chứng này tuy có hạn chế ở chỗ trình bày trên cơ sở của quan điểm duy tâm nhưng nó đã phản ánh đầy đủ quá trình vận động và phát triển chúng; trong nó đã chứa đựng hạt nhân hợp lý: không có cái gì nhất thành bất biến, mọi cái luôn biến đổi. Đây là một giá trị lý luận chủ yếu của triết học Hêghen. [B]2.2.3. Quan điểm về nhận thức [/B] Quan điểm nhận thức của Hêghen được trình bày trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” và “Lôgic học”. Nếu như Cantơ cho rằng đối tượng nhận thức là sự vật thì Hêghen lại cho rằng đối tượng của nhận thức là nguyên nhân tạo thành các dạng tồn tại tức “tinh thần tuyệt đối”. Trong “Lôgic học” ông khẳng định nhận thức của con người là sự tự nhận thức “tính thần tuyệt đối”. Với quan điểm biện chứng Hêghen cho rằng, nhận thức là một quá trình phát triển, tự hoàn thiện; quá trình này gắn với lịch sử phát triển của xã hội. Trong thời kỳ thượng cổ con người chỉ mới có ý thức cảm tính, người thượng cổ nhìn thế giới một cách trực tiếp. Đến giữa thời kỳ chiếm hữu nô lệ theo ông, con người mới tự ý thức được sự tồn tại của chính mình. Thời trung cổ, ý thức con người bước vào bất hạnh vì chỉ biết tuân theo ý chúa. Chỉ đến thời kỳ khoa học phát triển thì khả năng trí tuệ của con người mới đạt tới trình độ lý tính, mới mang tính xã hội. Lúc đó con người sử dụng khái niệm để tư duy do vậy mới nhận thức được “tinh thần tuyệt đối”. Mặt khác ông còn cho rằng, sự phát triển của khả năng nhận thức cá nhân như là sự lặp lại và thu gọn toàn bộ tiến trình lịch sử mà nhận thức con người đã trải qua. Như vậy, Hêghen bộc lộ quan điểm có thể biết trên cơ sở thế giới quan duy tâm. [B]2.2.4. Quan điểm về con người và chính trị xã hội[/B] Quan điểm về con người và chính trị xã hội được Hêghen trình bày trong tác phẩm “Triết học về pháp quyền” và “Triết học lịch sử”. Khi bàn đến vấn đề con người, ông không giống như các nhà triết học Anh và Pháp thế kỷ XVI - XVIII chia tách con người thành hai phần mà ông quan niệm con người là chỉnh thể thống nhất. Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, chính qua quá trình hoạt động mà ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và ý chí tự do của con người mới phát triển. Do đó, con người mới hoàn thiện. Như vậy, ở đây Hêghen không bàn đến con người cụ thể mà bàn đến con người trìu tượng, lý tính phi lịch sử. Quan niệm con người trong triết học Hêghen thường gắn với quan điểm về nhà nước và pháp quyền. Theo ông “luận điểm khẳng định mọi người về bản tính vốn bình đẳng là không đúng ..., cần phải nói ngược lại rằng con người về bản tính vốn bất bình đẳng”. Từ đây dẫn tới quan điểm: mọi sự bất công trong xã hội là hiện tượng tất yếu xuất phát từ bản tính con người. Vì thế trong xã hội thường xuyên xảy ra những mẫu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã hội khác nhau. Chính từ đó nhà nước xuất hiện. Theo Hêghen, nhà nước ra đời nhằm dung hòa các mẫu thuẫn giữa các đẳng cấp nhằm định hướng sự phát triển của xã hội. Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp mà là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, văn hóa. Vì thế nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử. Nhà nước theo ông là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong đời sống xã hội nó có quá trình phát triển. Nhà nước Phổ là đỉnh cao của sự phát triển đó, vì nó là đại biểu cho công lý, đạo đức; nhà nước đó sẽ tồn tại mãi. Bởi vì, “Cái gì hợp lý, thì sẽ hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”; ở đây, Hêghen đã lập luận để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước phong kiến Phổ. Khi bàn đến chiến tranh, Hêghen cho rằng, chiến tranh là một hiện tượng vĩnh viễn và tất yếu trong lịch sử, nhờ có chiến tranh mà thể trạng đạo đức của dân tộc được bảo tồn; chiến tranh bảo vệ các dân tộc tránh khỏi sự thối nát. Hêghen cho rằng, lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan trong hoạt động của con người. Nhưng lịch sử không diễn ra theo ý muốn chủ quan của con người mà phát triển theo xu hướng tất yếu trải qua các thời đại. Sự phát triển tự do của con người là chuẩn mực, ưu việt của thời đại này so với thời đại khác. Nhưng ông hiểu tự do một cách duy tâm: tự do còn thể hiện trong sự hiểu biết và làm theo ý chúa. Tóm lại, vai trò lịch sử của triết học Hêghen là ở chỗ đã xây dựng được phép biện chứng, những vấn đề cốt lõi nhất của phép biện chứng hiện đại đã được ông đề cập đến một cách bao quát và sâu sắc. Vì vậy, ông được Ph. Ăng ghen đánh giá rất cao "ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực ông xuất hiện ra là một người vạch thời đại". [B]2.3. Lutvích Phoiơbắc (1804-1872)[/B] Ông là nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, sinh năm 1804 trong một gia đình luật sư ở Đức. Ông theo học trường đại học tổng hợp Beclin, tham gia nhóm Hêghen trẻ. Về sau tách khỏi nhóm này trở thành người phê phán Hêghen, xây dựng hệ thống triết học, duy vật của mình. Ông viết nhiều tác phẩm triết học, trong đó có những tác phẩm lớn như: "Phê pháp triết học Hêghen" (1839); "Bản chất của đạo đức thiên chúa", "Luận cương sơ bộ về cải cách triết học" (1842), "Những nguyên lý của triết học tương lai" (1843), "Bản chất của tôn giáo", v.v. Học thuyết triết học của ông thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau: [B]2.3.1. Sự phê phán triết học Hêghen[/B] Sau khi Hêghen mất thì lực lượng kế tục có sự phân chia thành hai phái, phái Hêghen già ủng hộ sự thống trị của "tinh thần tuyệt đối" đối với thế giới hiện thực; phái Hêghen trẻ coi sự thống trị đó là những xiềng xích trói buộc con người. Do chịu ảnh hưởng của các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII và sự phát triển khoa học đầu thế kỷ XIX, Phoi Ơ Bắc đã nhận thấy những mặt rất hạn chế của cả hai phái và bắt đầu thực hiện phê phán toàn bộ triết học Hêghen. Theo ông, triết học Hêghen mắc sai lầm ngay từ khởi điểm xuất phát và cả trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất với tinh thần, giữa con người với thế giới. Hạn chế cơ bản nhất của Hêghen là ở chỗ dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm để xây dựng học thuyết triết học. Cho nên triết học Hêghen không tạo ra được bức tranh trung thực về thế giới. Ông cho rằng muốn xây dựng được một học thuyết triết học đúng đắn phải dựa trên lập trường duy vật. Ông nhận xét "Triết học Hêghen là chỗ ẩn náu cuối cùng, chỗ dựa hợp lý của thần học". [B]2.3.2. Quan niệm về thế giới[/B] Xuất phát từ luận điểm: "Quan hệ thực sự của tư duy với tồn tại là: tồn tại, chủ thể; tư duy, thuộc tính" Phoiơbắc bảo vệ và chứng minh những nguyên lý duy vật của mình. Ông quan niệm, vật chất có trước, ý thức có sau, tự nhiên tự nó tồn tại và người ta chỉ có thể giải thích tự nhiên xuất phát từ bản thân nó. Ý thức không tự nó tồn tại được vì nó chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất. Nếu như Cantơ quan niệm không gian và thời gian là hình thức "tiên nhiên" thì Phoiơbắc quan niệm, không gian và thời gian tồn tại khách quan, không có vật chất tồn tại vận động bên ngoài không gian và thời gian. Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của các quy luật tự nhiên, của quan hệ nhân quả; thừa nhận sự vận động và phát triển của giới tự nhiên diễn ra một cách khách quan, từ đó dẫn tới sự xuất hiện của đời sống hữu cơ, con người. Ở đây, Phoiơbắc chưa khắc phục được hạn chế của duy vật siêu hình, coi vật chất như là một cái gì thuần nhất. Tuy thừa nhận vật chất vận động nhưng chưa lý giải được nguồn gốc, động lực, hình thức của vận động. [B]2.3.3. Quan niệm về nhận thức[/B] Phoiơbắc phê phán hệ thống duy tâm khách quan của Hêghen ở chỗ, coi đối tượng tư duy không có gì khác với bản chất của tư duy. Từ đó ông khẳng định, đối tượng nhận thức nói chung và của triết học nói riêng là giới tự nhiên và con người. Ông kêu gọi: Hãy quan sát giới tự nhiên đi, hãy quan sát con người đi! Bạn sẽ thấy ở đấy, trước mắt bạn, những bí mật của triết học. Phoi Ơ Bắc cho rằng, chủ thể nhận thức không phải trìu tượng mà là con người cụ thể, con người có khả năng nhận thức được giới tự nhiên, một người thì không thể nhận thức được hoàn toàn thế giới tự nhiên, nhưng toàn bộ loài người thông qua các thế hệ thì có thể nhận thức được. Con người nhận thức được thế giới trước hết thông qua cảm giác; "Bí quyết của sự hiểu biết trực tiếp tập trung trong tính cảm giác". Phoiơbắc cũng đã xác định được mối quan hệ giữa hình thức nhận thức cảm tính với lý tính, nhưng khi tiến lên giai đoạn tư duy lý tính thì ông không rút ra được kết luận rõ ràng. Như vậy, Phoiơbắc đã xây dựng quan điểm duy vật về nhận thức; đã khẳng định, con người có khả năng nhận thức. Nhưng trong lý luận nhận thức đã bộc lộ hạn chế ở chỗ, chưa hiểu được quá trình phát triển biện chứng của nhận thức, vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức. Cho nên, quan điểm nhận thức của Phoiơbắc vẫn nằm trong khuôn khổ của những phương pháp suy nghĩ siêu hình. [B]2.3.4. Quan niệm về con người [/B] Phoiơbắc phê phán Hêghen đã quan niệm con người một cách trìu tượng và thần bí coi đó như một lực lượng siêu tự nhiên; đây là một quan niệm sai. Do vậy, theo ông phải xây dựng một quan niệm mới về con người. Phoiơbắc quan niệm con người như một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có ước mơ, có tình yêu thương; lòng yêu thương vốn là bản chất của con người. Trong con người có sự thống nhất giữa cơ thể với tư duy. Con người không phải là nô lệ của thượng đế hay tinh thần tuyệt đối mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả phát triển của tự nhiên. Thế nhưng trong xã hội con người bị kìm hãm trói buộc bởi giáo lý tôn giáo và bởi các quy định của xã hội. Cho nên, cần phải giải phóng con người khỏi sự ràng buộc đó; nhằm đem lại cho con người một quan niệm mới về chính mình, tạo điều kiện để con người trở nên hạnh phúc. Theo ông, đây cũng là nhiệm vụ của các nhà triết học. Xác định vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của triết học Phoiơbắc trở thành đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật nhân bản. Đây là mặt tiến bộ so với các nhà trước học trước ông. Tuy nhiên ông đã không thấy được phương diện xã hội của con người. Con người mà ông quan niệm là con người bị tách khỏi điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử. Do vậy về lĩnh vực này ông chưa thoát khỏi ảnh hưởng của quan điểm duy tâm. [B]2.3.5. Quan niệm về xã hội[/B] Trong quan niệm về tự nhiên, Phoiơbắc là nhà duy vật; còn trong quan niệm về xã hội ông lại thể hiện quan điểm duy tâm. Ông khẳng định những thời kỳ lịch sử loài người sở dĩ khác nhau chỉ do những thay đổi các hình thức tôn giáo; thay thế tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới sẽ làm cho xã hội tiến lên. Ở đây, Phoiơbắc chưa thấy được vai trò của thực tiễn xã hội quyết định sự vận động phát triển của xã hội loài người. Khi bàn đến tôn giáo, Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và của sự tưởng tượng của con người. Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người trước sức mạnh tự nhiên và điều kiện của xã hội. Chính con người đã bày đặt ra thần thánh bằng cách trìu tượng hóa bản chất con người. Do vậy, cần thay thế tôn giáo cũ bằng thứ tôn giáo mới không cần có thần thánh, chúa trời mà lấy tình yêu giữa người với người làm nền tảng. Những quan điểm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản vạch ra được nguồn gốc tâm lý con người đối với tôn giáo. Tuy nhiên, ông chưa chỉ rõ nguồn gốc thực sự của tôn giáo, chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế - xã hội của vấn đề. Mặc dù còn những hạn chế siêu hình trong quan điểm về tự nhiên duy tâm trong quan điểm về xã hội, chưa có quan điểm duy vật triệt để về con người nhưng Phoiơbắc đã có công lao trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật chống lại quan điểm duy tâm và tôn giáo; vì thế, quan điểm duy vật của Phoiơbắc cùng với tư tưởng biện chứng của Cantơ và phép biện chứng của Hêghen trở thành tiền đề lý luận hình thành triết học Mác - Lênin. Nguồn: Đại học Mỏ Địa chất [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Triết học Cổ điển Đức
Top