Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VNK X
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
BhnongFood X
-
Bhnong groups
-
Đặt mua Bánh Bhnong
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Đông
TỒN TẠI
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="PHÚC KEYNES" data-source="post: 95862" data-attributes="member: 147652"><p><span style="font-size: 15px"> <span style="font-size: 15px"><strong>TỒN TẠI</strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"></span></strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"></span></strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'">Ivan Gobry</span></strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'">Le vocabulaire grec de la philosophie</span></strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'">Éd. Ellipses, 2000</span></strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'">--- o0o ---</span></strong></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span><p style="text-align: center"> <span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'">ON (TO) : TỒN TẠI</span></strong></span></span></p> <p style="text-align: center"><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><strong>[t. Pháp : l’être ;t. Latinh: </strong>(sau này</span><span style="font-family: 'Arial'">[1]</span><span style="font-family: 'Arial'">)<strong>: <em>ens</em>.Pluriel : onta (ta)]</strong></span></span></span></p> <p style="text-align: center"><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Thể từ giống trung ở lối hiện tại phân từ của động từ <strong>e</strong><strong>ï</strong><strong>na</strong><strong>ï</strong>: tồn tại (ngôi thứ nhất số ít : <strong>e</strong><strong>ï</strong><strong>mi</strong>: tôi tồn tại). Dịch sát nghĩa : <em>cái đang tồn tại</em> [<em>l’étant</em>].</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><strong>Bản thể học</strong>(chữ này do Lauberg chế ra vào thế kỷ 17) là bộ phận của siêu hình học vốn là môn nghiên cứu về tồn tại như là ý niệm phổ quát (về <strong>ontos</strong>, thuộc cách của chữ <strong>on</strong>).</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Có hai ý nghĩa : <strong>a</strong>. Tồn tại cá biệt, cái đang hiện hữu. <strong>b</strong>. hành vi tồn tại, sự kiện tồn tại ; và từ đó : tồn tại nói chung, tức được xét một cách trừu tượng ; cái có thể trở thành, ở Platon : Tồn tại tự mình, Bản chất của Tồn tại, Thực tại khả niệm.</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Aristote nêu ra những sự phân biệt tinh tế hơn : <strong>a</strong>. tồn tại qua tùy thể (<strong>kata sumbébêkos</strong>) ; cái được thể hiện qua thuộc tính : người này là <em>nhạc sĩ</em> ; và tồn tại qua bản thân (<strong>kath’hauto</strong>), cái được thể hiện qua chủ thể (x. <strong>autos</strong>). <strong>b</strong>. tồn tại như là chân lý, qua việc khẳng định sự hiện hữu (ở đây <em>tồn tại</em> đối lập với <em>không-tồn tại</em> : <strong>mè on</strong>). <strong>c</strong>. tồn tại trong hành động (<strong>entélécheia</strong> : <em>nhìn</em> = nhìn trên thực tế những đối tượng nào đó) ; và tồn tại trong <em>khả năng</em> (<strong>dunamei</strong>, tặng cách) : <em>nhìn</em> = năng lực nhìn các đối tượng (Met., ∆, 7, E, 2-4, K, 8-9).</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Chính với Parménide mà triết học về Tồn tại mới bắt đầu, bằng việc sử dụng có hệ thống chữ <strong>on</strong>. Có điều, trước ông người ta đã dùng chữ này theo nghĩa hẹp : <em>các tồn tại</em> (Philolaos, trong Stobée, <em>Ecl.</em>, I, 21). Người ta đã gán cho Archytas, ở thời Cổ đại, hai công trình muộn hơn : một chuyên luận <em>Bàn về các Nguyên tắc </em><em>(</em><strong>Péri archôn</strong>) và một chuyên luận <em>Bàn về Tồn tại</em> (<strong>Péri ontos</strong>) trong đó chữ <strong>on </strong>được sử dụng một cách thông dụng theo nghĩa tồn tại nói chung ; do thuật ngữ này mà phần lớn các nhận xét phê phán đã gạt bỏ tính xác thực của các chuyên luận trên ;nhưng ta không được quên rằng Archytas (khoảng 380 tcn), ông là người theo thuyết Pythagore, thuộc thế hệ thứ hai sau Parménide (khoảng 450 tcn), và ông hiểu rõ tác phẩm của Parménide ; ngoài ra, ông sử dụng biện chứng pháp của các triết gia xứ Dorid khi dùng chữ <strong>ta éonta</strong> trong ngôn ngữ Đại Hy Lạp thay cho chữ <strong>ta onta</strong> (Stobée, Ecl.,I, 35 và II, 2). Mặt khác, Socrate, người cùng thời với Archytas, biết rõ học thuyết của những người xứ Élée và sử dụng từ vựng của họ : “Những người này, ông nhận xét, tin rằng tồn tại (<strong>to on</strong>) là nhất thể (<strong>hén</strong>) (Xénophon, Mem., <strong>I</strong>, I, 14). Euclide xứ Mégare, học trò của Socrate, đồng nhất cái không-tồn tại với cái ác, và Tồn tại với cái Thiện. Gorgias, cũng là người cùng thời với Archytas, chơi trò tung hứng với chữ <strong>on</strong> và <strong>mê on</strong> theo phong cách rất Élée. Mặt khác, ông hoán đổi hệ thuật ngữ ở chỗ này chỗ khác, bằng cách đưa chữ <strong>eïnaï</strong>thế chỗ cho chữ <strong>on</strong> trong tuyên bố mang màu sắc hư vô chủ nghĩa nổi tiếng của ông, do Aristote truyền lại : “Hư vô (<strong>oudén</strong>) không hiện hữu ; nếu cái gì đó hiện hữu, nó là cái bất khả tri (<strong>agnôton</strong>) ; nếu nó hiện hữu và nếu nó là cái khả tri, thì nó không thể hiển hiện ra trước những cái khác.” (Về Mélissos, Xénophan và Gorgias, V. cũng xem Sextus Empericus, Adv. log., I, 65-87).</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Thực vậy, công trình của Gorgias, Bàn về cái không-tồn tại và Tự nhiên, vốn đã thất truyền, là một sự phản ứng lại Parménide, hay chính xác hơn là một sự phản ứng lại bản thể học tuyệt đối chủ nghĩa của Parménide. Bản thể học này đi từ một tiên đề song trùng không thể bác bỏ được : cái Tồn tại thì tồn tại, còn cái không-tồn tại thì không tồn tại. Vậy, chỉ có một Tồn tại duy nhất (cái Một) ; vì nếu có cái thứ hai (như cái thể đôi – <strong>duas</strong> – của Pythagore), thì đó sẽ là cái không-tồn tại, tức cái hư vô. Từ đó, sự hoàn hảo của Tồn tại : “Tồn tại không được tạo ra và không thể mất đi, vì chỉ có nó là hoàn hảo, bất biến và vĩnh hằng.” “Tồn tại không phải là không khả phân, vì nó là cái toàn bộ đồng nhất với chính mình.” (fr. VIII, 3-5, 22). Cả học thuyết của Mélissos cũng vậy, với luận cứ được rút ra từ sự biến đổi : “Nếu Tồn tại (<strong>éon</strong>) biến đổi, thì cái tiêu vong và cái không tồn tại (<strong>oux éon</strong>) xuất hiện” (fr. VIII, 6). Nổi lên chống lại thuyết Élée là thuyết nguyên tử của Leucippe và Démocrite, vốn là thuyết “xem đầy và rỗng là những yếu tố, mà họ lần lượt gọi là cái Tồn tại và cái không-tồn tại.” (Aristote, Met., A, 4).</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Cũng chính vì chống lại học thuyết về Tồn tại của Parménide mà Platon phản ứng lại, trong Parménidevà Kẻ ngụy biện, nhưng theo một cách hoàn toàn khác với Gorgias. Trong đối thoại đầu, ông biện bạch rằng Tồn tại đúng thật là cái Bản chất (<strong>eïdos</strong>); và cái Bản chất này là cái nhiều, được tham dự vào cái Tồn tại, như vậy cái Tồn tại là cái Phổ quát, là cái một nhưng đồng thời cũng là cái nhiều (162a-b, v.v.). Trong đối thoại sau, ông chứng minh rằng, từ sự vận động trong đó tính đa thể nằm trong Tồn tại, bất cứ tồn tại nào cũng vừatồn tại vừa không-tồn tại một cách đồng thời, tồn tại với tư cách là nó tham dự vào cái Tồn tại, không-tồn tại với tư cách là nó tham dự vào cái không-Tồn tại (240b-258c) ;số phận của môn bản thể học, từng bị Parménide – người đã phủ nhận nguyên tắc tính khác biệt khi nêu danh nguyên tắc tính đồng nhất – ném vào ngõ cụt, đã được Platon mở ra lối mới. Platon nhân đó xác lập luôn năm loại cái tối cao (<strong>eïdê megista</strong>) của các Bản chất vĩnh hằng : Tồn tại (<strong>to on</strong>), đứng yên, vận động, chính mình và cái khác (x. <strong>génos</strong>). Trước đó, trong Phédon(78c-d), Platon đã chỉ ra rằng “trong mỗi sự vật, cái luôn luôn tồn tại (<strong>ho esti</strong>), tức là sự tồn tại của nó (<strong>to on</strong>), đó là cái Bản chất nhất thể tồn tại tự mình và bởi mình” (<strong>auto kath’hauto</strong>). x. <strong>autos</strong>.</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Ở Aristote, môn đệ nhất triết học (<strong>hê prôtê philosophia</strong>), mà ta gọi là siêu hình học, là khoa học về Tồn tại xét như là Tồn tại (<strong>to on hê on</strong>) (Met., Γ, 1), tức là nó không tiến hành nghiên cứu loại tồn tại này hay loại tồn tại khác, mà Tồn tại xét như là cái phổ quát (<strong>katholou</strong>). Vì “tất cả cái đang tồn tại được gọi là tồn tại do có một cái gì đó chung, cho dù chúng có nhiều nghĩa.” (ibid., K, 3).</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'">Đối với Plotin, cái Tồn tại thực sự xứng đáng với danh từ này chính là cái tồn tại thực sự tồn tại (<strong>on ontôs on</strong>), cái tồn tại này chỉ hiện hữu trong thế giới khả niệm (IV, III, 5), và đồng thời là đối tượng của tư tưởng riêng của nó (IV, V, 1). Tư tưởng này đưa Plotin nhích lại gần với Aristote. x. <strong>noûs.</strong></span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span><p style="text-align: right"> <span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><strong>Đinh Hồng Phúc </strong>dịch</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><a href="https://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=329:on-to-tn-ti&catid=11:thut-ng-hy-lp&Itemid=198#_ftnref1" target="_blank"></a></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"><span style="font-family: 'times new roman'"><a href="https://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=329:on-to-tn-ti&catid=11:thut-ng-hy-lp&Itemid=198#_ftnref1" target="_blank"><span style="font-family: 'Arial'">[1]</span></a><span style="font-family: 'Arial'">Động từ <em>esse </em>(tồn tại), tiếng Latinh, không có thể phân từ ; do đó chữ <strong>on</strong> không thể dịch được. Chính ở thời Trung đại, người ta bắt gặp một hiện tại phân từ xa xưa, ít được các tác gia sử dụng. Nhưng người ta vẫn sẵn sàng dịch phân từ <strong>on</strong> bằng động từ nguyên thể <strong>esse</strong> : “Argens sequitur esse” (“Sự tác động nảy sinh từ cái tồn tại”)</span></span></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p><p><span style="font-size: 15px"></span></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="PHÚC KEYNES, post: 95862, member: 147652"] [SIZE=4] [SIZE=4][B]TỒN TẠI[/B][/SIZE] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial] Ivan Gobry[/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial]Le vocabulaire grec de la philosophie[/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial]Éd. Ellipses, 2000[/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial]--- o0o ---[/FONT][/B][/FONT] [/SIZE][CENTER] [SIZE=4][FONT=times new roman][B][FONT=Arial]ON (TO) : TỒN TẠI[/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][B][t. Pháp : l’être ;t. Latinh: [/B](sau này[/FONT][FONT=Arial][1][/FONT][FONT=Arial])[B]: [I]ens[/I].Pluriel : onta (ta)][/B][/FONT][/FONT] [/SIZE][/CENTER] [SIZE=4] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Thể từ giống trung ở lối hiện tại phân từ của động từ [B]e[/B][B]ï[/B][B]na[/B][B]ï[/B]: tồn tại (ngôi thứ nhất số ít : [B]e[/B][B]ï[/B][B]mi[/B]: tôi tồn tại). Dịch sát nghĩa : [I]cái đang tồn tại[/I] [[I]l’étant[/I]].[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][B]Bản thể học[/B](chữ này do Lauberg chế ra vào thế kỷ 17) là bộ phận của siêu hình học vốn là môn nghiên cứu về tồn tại như là ý niệm phổ quát (về [B]ontos[/B], thuộc cách của chữ [B]on[/B]).[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Có hai ý nghĩa : [B]a[/B]. Tồn tại cá biệt, cái đang hiện hữu. [B]b[/B]. hành vi tồn tại, sự kiện tồn tại ; và từ đó : tồn tại nói chung, tức được xét một cách trừu tượng ; cái có thể trở thành, ở Platon : Tồn tại tự mình, Bản chất của Tồn tại, Thực tại khả niệm.[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Aristote nêu ra những sự phân biệt tinh tế hơn : [B]a[/B]. tồn tại qua tùy thể ([B]kata sumbébêkos[/B]) ; cái được thể hiện qua thuộc tính : người này là [I]nhạc sĩ[/I] ; và tồn tại qua bản thân ([B]kath’hauto[/B]), cái được thể hiện qua chủ thể (x. [B]autos[/B]). [B]b[/B]. tồn tại như là chân lý, qua việc khẳng định sự hiện hữu (ở đây [I]tồn tại[/I] đối lập với [I]không-tồn tại[/I] : [B]mè on[/B]). [B]c[/B]. tồn tại trong hành động ([B]entélécheia[/B] : [I]nhìn[/I] = nhìn trên thực tế những đối tượng nào đó) ; và tồn tại trong [I]khả năng[/I] ([B]dunamei[/B], tặng cách) : [I]nhìn[/I] = năng lực nhìn các đối tượng (Met., ∆, 7, E, 2-4, K, 8-9).[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Chính với Parménide mà triết học về Tồn tại mới bắt đầu, bằng việc sử dụng có hệ thống chữ [B]on[/B]. Có điều, trước ông người ta đã dùng chữ này theo nghĩa hẹp : [I]các tồn tại[/I] (Philolaos, trong Stobée, [I]Ecl.[/I], I, 21). Người ta đã gán cho Archytas, ở thời Cổ đại, hai công trình muộn hơn : một chuyên luận [I]Bàn về các Nguyên tắc [/I][I]([/I][B]Péri archôn[/B]) và một chuyên luận [I]Bàn về Tồn tại[/I] ([B]Péri ontos[/B]) trong đó chữ [B]on [/B]được sử dụng một cách thông dụng theo nghĩa tồn tại nói chung ; do thuật ngữ này mà phần lớn các nhận xét phê phán đã gạt bỏ tính xác thực của các chuyên luận trên ;nhưng ta không được quên rằng Archytas (khoảng 380 tcn), ông là người theo thuyết Pythagore, thuộc thế hệ thứ hai sau Parménide (khoảng 450 tcn), và ông hiểu rõ tác phẩm của Parménide ; ngoài ra, ông sử dụng biện chứng pháp của các triết gia xứ Dorid khi dùng chữ [B]ta éonta[/B] trong ngôn ngữ Đại Hy Lạp thay cho chữ [B]ta onta[/B] (Stobée, Ecl.,I, 35 và II, 2). Mặt khác, Socrate, người cùng thời với Archytas, biết rõ học thuyết của những người xứ Élée và sử dụng từ vựng của họ : “Những người này, ông nhận xét, tin rằng tồn tại ([B]to on[/B]) là nhất thể ([B]hén[/B]) (Xénophon, Mem., [B]I[/B], I, 14). Euclide xứ Mégare, học trò của Socrate, đồng nhất cái không-tồn tại với cái ác, và Tồn tại với cái Thiện. Gorgias, cũng là người cùng thời với Archytas, chơi trò tung hứng với chữ [B]on[/B] và [B]mê on[/B] theo phong cách rất Élée. Mặt khác, ông hoán đổi hệ thuật ngữ ở chỗ này chỗ khác, bằng cách đưa chữ [B]eïnaï[/B]thế chỗ cho chữ [B]on[/B] trong tuyên bố mang màu sắc hư vô chủ nghĩa nổi tiếng của ông, do Aristote truyền lại : “Hư vô ([B]oudén[/B]) không hiện hữu ; nếu cái gì đó hiện hữu, nó là cái bất khả tri ([B]agnôton[/B]) ; nếu nó hiện hữu và nếu nó là cái khả tri, thì nó không thể hiển hiện ra trước những cái khác.” (Về Mélissos, Xénophan và Gorgias, V. cũng xem Sextus Empericus, Adv. log., I, 65-87).[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Thực vậy, công trình của Gorgias, Bàn về cái không-tồn tại và Tự nhiên, vốn đã thất truyền, là một sự phản ứng lại Parménide, hay chính xác hơn là một sự phản ứng lại bản thể học tuyệt đối chủ nghĩa của Parménide. Bản thể học này đi từ một tiên đề song trùng không thể bác bỏ được : cái Tồn tại thì tồn tại, còn cái không-tồn tại thì không tồn tại. Vậy, chỉ có một Tồn tại duy nhất (cái Một) ; vì nếu có cái thứ hai (như cái thể đôi – [B]duas[/B] – của Pythagore), thì đó sẽ là cái không-tồn tại, tức cái hư vô. Từ đó, sự hoàn hảo của Tồn tại : “Tồn tại không được tạo ra và không thể mất đi, vì chỉ có nó là hoàn hảo, bất biến và vĩnh hằng.” “Tồn tại không phải là không khả phân, vì nó là cái toàn bộ đồng nhất với chính mình.” (fr. VIII, 3-5, 22). Cả học thuyết của Mélissos cũng vậy, với luận cứ được rút ra từ sự biến đổi : “Nếu Tồn tại ([B]éon[/B]) biến đổi, thì cái tiêu vong và cái không tồn tại ([B]oux éon[/B]) xuất hiện” (fr. VIII, 6). Nổi lên chống lại thuyết Élée là thuyết nguyên tử của Leucippe và Démocrite, vốn là thuyết “xem đầy và rỗng là những yếu tố, mà họ lần lượt gọi là cái Tồn tại và cái không-tồn tại.” (Aristote, Met., A, 4).[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Cũng chính vì chống lại học thuyết về Tồn tại của Parménide mà Platon phản ứng lại, trong Parménidevà Kẻ ngụy biện, nhưng theo một cách hoàn toàn khác với Gorgias. Trong đối thoại đầu, ông biện bạch rằng Tồn tại đúng thật là cái Bản chất ([B]eïdos[/B]); và cái Bản chất này là cái nhiều, được tham dự vào cái Tồn tại, như vậy cái Tồn tại là cái Phổ quát, là cái một nhưng đồng thời cũng là cái nhiều (162a-b, v.v.). Trong đối thoại sau, ông chứng minh rằng, từ sự vận động trong đó tính đa thể nằm trong Tồn tại, bất cứ tồn tại nào cũng vừatồn tại vừa không-tồn tại một cách đồng thời, tồn tại với tư cách là nó tham dự vào cái Tồn tại, không-tồn tại với tư cách là nó tham dự vào cái không-Tồn tại (240b-258c) ;số phận của môn bản thể học, từng bị Parménide – người đã phủ nhận nguyên tắc tính khác biệt khi nêu danh nguyên tắc tính đồng nhất – ném vào ngõ cụt, đã được Platon mở ra lối mới. Platon nhân đó xác lập luôn năm loại cái tối cao ([B]eïdê megista[/B]) của các Bản chất vĩnh hằng : Tồn tại ([B]to on[/B]), đứng yên, vận động, chính mình và cái khác (x. [B]génos[/B]). Trước đó, trong Phédon(78c-d), Platon đã chỉ ra rằng “trong mỗi sự vật, cái luôn luôn tồn tại ([B]ho esti[/B]), tức là sự tồn tại của nó ([B]to on[/B]), đó là cái Bản chất nhất thể tồn tại tự mình và bởi mình” ([B]auto kath’hauto[/B]). x. [B]autos[/B].[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Ở Aristote, môn đệ nhất triết học ([B]hê prôtê philosophia[/B]), mà ta gọi là siêu hình học, là khoa học về Tồn tại xét như là Tồn tại ([B]to on hê on[/B]) (Met., Γ, 1), tức là nó không tiến hành nghiên cứu loại tồn tại này hay loại tồn tại khác, mà Tồn tại xét như là cái phổ quát ([B]katholou[/B]). Vì “tất cả cái đang tồn tại được gọi là tồn tại do có một cái gì đó chung, cho dù chúng có nhiều nghĩa.” (ibid., K, 3).[/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial]Đối với Plotin, cái Tồn tại thực sự xứng đáng với danh từ này chính là cái tồn tại thực sự tồn tại ([B]on ontôs on[/B]), cái tồn tại này chỉ hiện hữu trong thế giới khả niệm (IV, III, 5), và đồng thời là đối tượng của tư tưởng riêng của nó (IV, V, 1). Tư tưởng này đưa Plotin nhích lại gần với Aristote. x. [B]noûs.[/B][/FONT][/FONT] [/SIZE][RIGHT] [SIZE=4][FONT=times new roman][FONT=Arial][B]Đinh Hồng Phúc [/B]dịch[/FONT][/FONT][/SIZE][/RIGHT] [SIZE=4] [FONT=times new roman][URL="https://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=329:on-to-tn-ti&catid=11:thut-ng-hy-lp&Itemid=198#_ftnref1"] [FONT=Arial][1][/FONT][/URL][FONT=Arial]Động từ [I]esse [/I](tồn tại), tiếng Latinh, không có thể phân từ ; do đó chữ [B]on[/B] không thể dịch được. Chính ở thời Trung đại, người ta bắt gặp một hiện tại phân từ xa xưa, ít được các tác gia sử dụng. Nhưng người ta vẫn sẵn sàng dịch phân từ [B]on[/B] bằng động từ nguyên thể [B]esse[/B] : “Argens sequitur esse” (“Sự tác động nảy sinh từ cái tồn tại”)[/FONT][/FONT] [/SIZE] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Đông
TỒN TẠI
Top