Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VNK X
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
BhnongFood X
-
Bhnong groups
-
Đặt mua Bánh Bhnong
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Đông
Thuyết duy tâm
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="PHÚC KEYNES" data-source="post: 95857" data-attributes="member: 147652"><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Howard Caygill</span></span></strong></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">A KANT DICTIONARY</span></span></strong></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Blackwell Publishing, 1995</span></span></strong></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">--- o0o ---</span></span></strong></span></p><p> </p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">THUYẾT DUY TÂM</span></span></strong></span></p> <p style="text-align: center"><strong><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">[Đức: Idealismus; Anh: Idealism]</span></span></span></strong></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><em>Xem thêm: </em><strong>Lịch sử triết học, Tôi (cái), Duy thực (thuyết), Chủ thể, Chủ quan (tính)</strong></span></span></span></p><p> </p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Kant coi “châm ngôn của tất cả các nhà duy tâm đích thực, từ trường phái Elea đến Giám mục Berkeley” là “toàn bộ nhận thức qua những giác quan và kinh nghiệm chẳng qua chỉ là sự ảo tưởng hoàn toàn, và chỉ trong những ý niệm của giác tính thuần túy và lý tính thuần túy mới có chân lý” (P tr. 374, tr. 113). Ông phân biệt ba xu hướng trong thuyết duy tâm hiện đại: thứ nhất là thuyết duy tâm ‘giáo điều’, và đôi khi còn gọi là thuyết duy tâm hão huyền, của Berkeley; thứ hai là thuyết duy tâm ‘hoài nghi’, hay còn gọi là thuyết duy tâm ‘nghi vấn’ của Descartes. Cả hai thuyết này đến lượt nó đều đối lập, như là các thuyết duy tâm thường nghiệm, với thuyết thứ ba là thuyết duy tâm ‘siêu nghiệm’ hay ‘hình thức’ của chính Kant, mà sau này Kant đổi lại tên gọi của nó là thuyết duy tâm ‘phê phán’. Ban đầu, trong CPR, Kant rất phấn khởi khi mô tả tác phẩm của mình là ‘thuyết duy tâm siêu nghiệm”, nhưng với điều kiện là thuyết duy tâm của ông được chấp nhận như là một sự “đảo ngược” của thuyết duy tâm thường nghiệm. Ông nhấn mạnh lập trường này trong P, do những hiểu sai về CPRmà ra, ở đó ông vừa bảo vệ “chống lại mọi lời buộc tội về thuyết duy tâm” đồng thời lại vừa xác định triết học của mình là “duy tâm”.</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Thuyết duy tâm mà Kant lo đảo ngược đã nhân đôi tính hiện thực của các đối tượng bên ngoài: trong trường hợp thuyết duy tâm “hoài nghi” của Descartes thì chỉ có kinh nghiệm nội tâm là không thể nghi ngờ được; sự hiện hữu của những đối tượng bên ngoài không thể được xác lập; trong khi với thuyết duy tâm hão huyền của Berkely, thì không gian và các vật trong đó “chỉ là những sự tưởng tượng đơn thuần” (CPR B 275; xem thêm tr. 293, tr. 36 và tr. 375, tr. 114). Sự đảo ngược của Kant cốt là việc đưa ra một thuyết duy tâm siêu nghiệm, và thuyết này cũng là thuyết duy thực thường nghiệm, một thuyết chứng minh rằng “ngay bản thân kinh nghiệm bên trong của ta mà Descartes không thể nghi ngờ cũng chỉ có thể có được là nhờ lấy kinh nghiệm [về thế giới] bên ngoài làm tiền đề.” (CPRB 275). Pđưa ra một giải thích rạch ròi hơn về điều này: “Mọi nhận thức về các sự vật chỉ đơn thuần từ giác tính thuần túy hay lý tính thuần túy không là gì cả ngoài cái ảo tưởng hoàn toàn, và chỉ trong kinh nghiệm mới có chân lý” (tr. 374, tr. 113).</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Miếng đất trên đó Kant dựa vào để bảo vệ thuyết duy tâm “siêu nghiệm” hay “phê phán” của mình là những mô thức của trực quan và tính chất của cái “Tôi”. Với thuyết duy tâm siêu nghiệm, đó là tiên đề rằng “những đối tượng của kinh nghiệm <em>không bao giờ</em> được mang lại như là những vật tự thân, trái lại chỉ là những gì được mang lại trong kinh nghiệm, và không thể tồn tại bên ngoài [độc lập với] kinh nghiệm.” (CPRA 492/B 521). Những đối tượng trong không gian của trực quan bên ngoài và những đối tượng trong thời gian của trực quan bên trong không thể có mặt mà không có những mô thức ấy của trực quan. Nhưng Kant nói thêm: “bản thân không gian, thời gian và đồng thời với hai cái này là tất cả mọi hiện tượng [ở bên trong chúng] đều không phải là những vật tự thân, mà không gì khác hơn là những biểu tượng của ta và không thể tồn tại bên ngoài tâm thức ta.” (CPRA 492/B 520). Cũng giống như vậy, bản thân những khái niệm thuần túy của giác tính sản sinh bởi tính tự khởi của cái “Tôi” không phải là các sự vật, mà là những điều kiện khả thể của các sự vật. Cả những mô thức của trực quan lẫn những khái niệm của giác tính có nguồn gốc trong chủ thể, và do đó có thể được coi là “duy tâm”, nhưng phương cách mà chúng tổ chức kinh nghiệm lại có giá trị hiệu lực một cách khách quan. Trong khi có thể nêu thành định đề rằng có những cái đối ứng khách quan làm cơ sở cho những hiện tượng của chủ thể và những đối tượng của kinh nghiệm trong một “chủ thể siêu nghiệm” và một “đối tượng siêu nghiệm”; chúng lại hoàn toàn không cần thiết phải có để bảo đảm các yêu sách của thuyết duy tâm siêu nghiệm hay thuyết duy tâm phê phán.</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Thuyết duy tâm siêu nghiệm của Kant làm nảy sinh một thế hệ các triết gia duy tâm, mà những đại diện hàng đầu là Fichte và Schelling. Thuyết duy tâm của họ triệt để hóa những yêu sách của Kant, nhấn mạnh hơn nữa tính tự khởi của cái Tôi và hạ thấp những phương diện này của thuyết duy thực thường nghiệm và cảm năng, vốn được bảo lưu trong nghiên cứu của Kant. Kant xem sự phát triển này như là bước lùi, một sự quay trở lại những hình thức của thuyết duy tâm mà ông đã chống đối trong CPR. Mối bất bình của ông được phản ánh trong một bức “thư ngỏ” về <em>Wissenschaftslehre [</em><em>Học thuyết </em><em>khoa học</em><em>]</em>(1794) của Fichte đề ngày 7 tháng tám năm 1799 trong đó ông kết án thuyết duy tâm mới là “lôgíc học đơn thuần” và trách mắng việc ra sức “loại bỏ một đối tượng hiện thực ra khỏi lôgíc học” như là một “cố gắng hoài công và do đó là một điều mà chẳng ai từng làm.” (PCtr. 253).</span></span></span></p><p> </p><p style="text-align: right"><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>Đinh Hồng Phúc</strong> dịch</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Nguồn: Howard Caygill. 1995. <em>A Kant Dictionary</em>. Malden: Blackwell Publishing. Bản dịch tiếng Việt đăng lần đầu trên triethoc.edu.vn.</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Các chữ viết tắt tên tác phẩm của Kant:</span></span></strong></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- CJ :<em>Critique of Judgement</em><em>/ </em><em>Phê phán năng lực phán đoán</em>(1790)</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- CPR : <em>Critique of Pure Reason</em>/ <em>Phê phán lý tính thuần túy</em>(bản A: 1781; bản B: 1787)</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- P : <em>Prolegomena to Any Future Metaphysics that will be able to come forward as Science / </em><em> Sơ luận về bất kỳ môn Siêu hình học nào trong tương lai muốn có thể được xuất hiện như một khoa học</em> (1783)</span></span></span></p><p> </p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- PC :<em>Philosophical Correspondence</em><em>/ Thư từ triết học</em>(1967)</span></span></span></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="PHÚC KEYNES, post: 95857, member: 147652"] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]Howard Caygill[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]A KANT DICTIONARY[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]Blackwell Publishing, 1995[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]--- o0o ---[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]THUYẾT DUY TÂM[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [B][FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4][Đức: Idealismus; Anh: Idealism][/SIZE][/FONT][/FONT][/B][/CENTER] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4][I]Xem thêm: [/I][B]Lịch sử triết học, Tôi (cái), Duy thực (thuyết), Chủ thể, Chủ quan (tính)[/B][/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Kant coi “châm ngôn của tất cả các nhà duy tâm đích thực, từ trường phái Elea đến Giám mục Berkeley” là “toàn bộ nhận thức qua những giác quan và kinh nghiệm chẳng qua chỉ là sự ảo tưởng hoàn toàn, và chỉ trong những ý niệm của giác tính thuần túy và lý tính thuần túy mới có chân lý” (P tr. 374, tr. 113). Ông phân biệt ba xu hướng trong thuyết duy tâm hiện đại: thứ nhất là thuyết duy tâm ‘giáo điều’, và đôi khi còn gọi là thuyết duy tâm hão huyền, của Berkeley; thứ hai là thuyết duy tâm ‘hoài nghi’, hay còn gọi là thuyết duy tâm ‘nghi vấn’ của Descartes. Cả hai thuyết này đến lượt nó đều đối lập, như là các thuyết duy tâm thường nghiệm, với thuyết thứ ba là thuyết duy tâm ‘siêu nghiệm’ hay ‘hình thức’ của chính Kant, mà sau này Kant đổi lại tên gọi của nó là thuyết duy tâm ‘phê phán’. Ban đầu, trong CPR, Kant rất phấn khởi khi mô tả tác phẩm của mình là ‘thuyết duy tâm siêu nghiệm”, nhưng với điều kiện là thuyết duy tâm của ông được chấp nhận như là một sự “đảo ngược” của thuyết duy tâm thường nghiệm. Ông nhấn mạnh lập trường này trong P, do những hiểu sai về CPRmà ra, ở đó ông vừa bảo vệ “chống lại mọi lời buộc tội về thuyết duy tâm” đồng thời lại vừa xác định triết học của mình là “duy tâm”.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Thuyết duy tâm mà Kant lo đảo ngược đã nhân đôi tính hiện thực của các đối tượng bên ngoài: trong trường hợp thuyết duy tâm “hoài nghi” của Descartes thì chỉ có kinh nghiệm nội tâm là không thể nghi ngờ được; sự hiện hữu của những đối tượng bên ngoài không thể được xác lập; trong khi với thuyết duy tâm hão huyền của Berkely, thì không gian và các vật trong đó “chỉ là những sự tưởng tượng đơn thuần” (CPR B 275; xem thêm tr. 293, tr. 36 và tr. 375, tr. 114). Sự đảo ngược của Kant cốt là việc đưa ra một thuyết duy tâm siêu nghiệm, và thuyết này cũng là thuyết duy thực thường nghiệm, một thuyết chứng minh rằng “ngay bản thân kinh nghiệm bên trong của ta mà Descartes không thể nghi ngờ cũng chỉ có thể có được là nhờ lấy kinh nghiệm [về thế giới] bên ngoài làm tiền đề.” (CPRB 275). Pđưa ra một giải thích rạch ròi hơn về điều này: “Mọi nhận thức về các sự vật chỉ đơn thuần từ giác tính thuần túy hay lý tính thuần túy không là gì cả ngoài cái ảo tưởng hoàn toàn, và chỉ trong kinh nghiệm mới có chân lý” (tr. 374, tr. 113).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Miếng đất trên đó Kant dựa vào để bảo vệ thuyết duy tâm “siêu nghiệm” hay “phê phán” của mình là những mô thức của trực quan và tính chất của cái “Tôi”. Với thuyết duy tâm siêu nghiệm, đó là tiên đề rằng “những đối tượng của kinh nghiệm [I]không bao giờ[/I] được mang lại như là những vật tự thân, trái lại chỉ là những gì được mang lại trong kinh nghiệm, và không thể tồn tại bên ngoài [độc lập với] kinh nghiệm.” (CPRA 492/B 521). Những đối tượng trong không gian của trực quan bên ngoài và những đối tượng trong thời gian của trực quan bên trong không thể có mặt mà không có những mô thức ấy của trực quan. Nhưng Kant nói thêm: “bản thân không gian, thời gian và đồng thời với hai cái này là tất cả mọi hiện tượng [ở bên trong chúng] đều không phải là những vật tự thân, mà không gì khác hơn là những biểu tượng của ta và không thể tồn tại bên ngoài tâm thức ta.” (CPRA 492/B 520). Cũng giống như vậy, bản thân những khái niệm thuần túy của giác tính sản sinh bởi tính tự khởi của cái “Tôi” không phải là các sự vật, mà là những điều kiện khả thể của các sự vật. Cả những mô thức của trực quan lẫn những khái niệm của giác tính có nguồn gốc trong chủ thể, và do đó có thể được coi là “duy tâm”, nhưng phương cách mà chúng tổ chức kinh nghiệm lại có giá trị hiệu lực một cách khách quan. Trong khi có thể nêu thành định đề rằng có những cái đối ứng khách quan làm cơ sở cho những hiện tượng của chủ thể và những đối tượng của kinh nghiệm trong một “chủ thể siêu nghiệm” và một “đối tượng siêu nghiệm”; chúng lại hoàn toàn không cần thiết phải có để bảo đảm các yêu sách của thuyết duy tâm siêu nghiệm hay thuyết duy tâm phê phán.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Thuyết duy tâm siêu nghiệm của Kant làm nảy sinh một thế hệ các triết gia duy tâm, mà những đại diện hàng đầu là Fichte và Schelling. Thuyết duy tâm của họ triệt để hóa những yêu sách của Kant, nhấn mạnh hơn nữa tính tự khởi của cái Tôi và hạ thấp những phương diện này của thuyết duy thực thường nghiệm và cảm năng, vốn được bảo lưu trong nghiên cứu của Kant. Kant xem sự phát triển này như là bước lùi, một sự quay trở lại những hình thức của thuyết duy tâm mà ông đã chống đối trong CPR. Mối bất bình của ông được phản ánh trong một bức “thư ngỏ” về [I]Wissenschaftslehre [[/I][I]Học thuyết [/I][I]khoa học[/I][I]][/I](1794) của Fichte đề ngày 7 tháng tám năm 1799 trong đó ông kết án thuyết duy tâm mới là “lôgíc học đơn thuần” và trách mắng việc ra sức “loại bỏ một đối tượng hiện thực ra khỏi lôgíc học” như là một “cố gắng hoài công và do đó là một điều mà chẳng ai từng làm.” (PCtr. 253).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [RIGHT][FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4][B]Đinh Hồng Phúc[/B] dịch[/SIZE][/FONT][/FONT][/RIGHT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4][/SIZE][/FONT][FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Nguồn: Howard Caygill. 1995. [I]A Kant Dictionary[/I]. Malden: Blackwell Publishing. Bản dịch tiếng Việt đăng lần đầu trên triethoc.edu.vn.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4][/SIZE][/FONT][FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]Các chữ viết tắt tên tác phẩm của Kant:[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- CJ :[I]Critique of Judgement[/I][I]/ [/I][I]Phê phán năng lực phán đoán[/I](1790)[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- CPR : [I]Critique of Pure Reason[/I]/ [I]Phê phán lý tính thuần túy[/I](bản A: 1781; bản B: 1787)[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- P : [I]Prolegomena to Any Future Metaphysics that will be able to come forward as Science / [/I][I] Sơ luận về bất kỳ môn Siêu hình học nào trong tương lai muốn có thể được xuất hiện như một khoa học[/I] (1783)[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=Arial][SIZE=4] [/SIZE][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- PC :[I]Philosophical Correspondence[/I][I]/ Thư từ triết học[/I](1967)[/SIZE][/FONT][/FONT] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Đông
Thuyết duy tâm
Top