Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VNK X
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
BhnongFood X
-
Bhnong groups
-
Đặt mua Bánh Bhnong
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Sự ra đời của triết học cận đại
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="uocmo_kchodoi" data-source="post: 178313" data-attributes="member: 165510"><p style="text-align: center"><strong><span style="color: #ff0000"><strong>NGUỒN GỐC TRIẾT HỌC CẬN ĐẠI</strong></span></strong></p> <p style="text-align: center"><strong></strong></p> <p style="text-align: center"><strong><span style="color: #5900b3">Phần 2: Những khủng hoảng</span></strong></p> <p style="text-align: center"><strong><span style="color: #5900b3"></span></strong></p><p><strong>A. NHỮNG CHUYỂN HƯỚNG</strong></p><p></p><p>Cuối thế kỷ XIX, sự kiện hiển nhiên đã xảy ra là một cuộc khủng hoảng triết lý trầm trọng; triệu chứng của nó là sự phát khởi của những phong trào chống lại hai thế lực mạnh mẽ trong triết học cận đại, duy vật cơ giới luận (mécanisme matérialiste) và chủ quan luận (subjectivisme). Sự phản kháng vượt xa ngoài môi trường triết học và có thể so sánh với cuộc khủng hoảng lớn đã làm nảy sinh nền văn hóa cận đại ở thời phục hưng. Rất khó mà đưa ra một khuôn hình toàn diện của nó với những nguyên nhân phụ trợ nhưng chính những sự kiện hiển nhiên cũng đủ làm sáng tỏ vấn đề. Vào thời này, Âu châu đang trải qua một chuyển hướng quan trọng trong tư tưởng xã hội và đang chịu đựng những nhiễu loạn kinh tế nghiêm trọng; có những mối phân vân đáng chú ý trong tư tưởng tôn giáo và những cải cách triệt để trong nghệ thuật. Trên đại thể, ai cũng đồng ý rằng sự khởi đầu của thế kỷ XX không phải chỉ là sự chấm dứt của một thời kỳ ngắn ngủi, mà đúng hơn là màn chót diễn ra trên một thời kỳ lớn đang khép lại, khiến cho thời đại chúng ta không thể được liệt vào thời cận đại (moderne) nữa. Hẳn không phải là không có lý khi người ta nhận định rằng cuộc cách mạng sau cùng này triệt để hơn những gì đã xảy ra ở thời phục hưng. Dù sao, những khái niệm cơ bản trong mọi môi trường của cuộc sống đã bị chấn động, và những trận chiến hiện đại bùng nổ đã thúc giục đà tan vỡ đưa đến khủng hoảng.</p><p></p><p>Dĩ nhiên một biến chuyển căn để như vậy trong đời sống tinh thần có quan hệ sâu xa với những biến chuyển trong những tương quan xã hội, biến chuyển ấy thực sự dù sao cũng là do những tương quan ấy tạo nên. Tuy nhiên, trong tình trạng khoa học ngày nay, người ta không thể đẩy mối quan hệ song hành đó đi đến chi tiết. Vì vậy, chúng ta phải tự hạn chế vào việc thiết lập những nguyên nhân trực tiếp về tinh thần và những giới hạn của sự biến chuyển này.</p><p></p><p>Người có thể phân chúng thành ba nhóm. Thứ nhất là sự khủng hoảng ở vật lý học và toán học mà một đằng đưa đến sự phát triển cao độ của tư tưởng phân tích và đằng khác tinh thần kiểu mẫu của thế kỷ XIX. Nhóm thứ hai là hai phương pháp bắt đầu phát triển trong thời đại này, phương pháp toán học và phương pháp hiện tượng học. Sau hết, nhóm thứ ba được thiết lập do một vài khái niệm về thế giới, quan trọng nhất là chủ ngoại lý (irrationalisme) và siêu hình học duy thực kiểu mới (nouvelle métaphysique réaliste). Những phong trào đa biệt về tinh thần này đều có liên hệ với nhau trong nhiều đường hướng. Tỉ dụ như luận lý toán học có liên hệ mật thiết với cuộc khủng hoảng siêu hình học, trong khi đó cuộc khủng hoảng vật lý học tăng cường chủ ngoại lý; [41]và thường chính những tư tưởng gia này trở thành những sáng lập viên của phương pháp hiện tượng học và của duy thực kiểu mới. Có những hỗ tương ảnh hưởng giữa các nhà tiền phong của hiện tượng học và của luận lý toán học.</p><p></p><p>Dù có những mối hỗ tương quan hệ này, nhưng khó mà thiết lập sự song hành cho cuộc phát khởi của những phong trào đồng thời này, cả hai khác nhau rõ rệt trong những nguồn mạch lịch sử cũng như trong những chủ đích của chúng. Thực sự, các phong trào ấy mở ra một biến chuyển toàn bộ của triết học.</p><p></p><p><strong>B. KHỦNG HOẢNG VẬT LÝ HỌC NEWTON</strong></p><p></p><p>Phần lớn các triết gia thế kỷ XIX xem vật lý học Newton như là một khuôn hình tuyệt đối chân thật của thiên nhiên. Họ nhìn thấy trong đó một mô tả minh nhiên về thực tại mà nơi đây mọi vật có thể được giản lược vào một vị trí và một động lực của những nguyên tử vật chất (<em>cơ giới luận</em>). Giả sử rằng tình trạng hiện tại đã được đưa ra và những thế lực ảnh hưởng trên các phân tử vật chất đã được nhận ra, người ta tin tưởng là có thể tính toán được tất cả sự tiến hóa trước và sau của thế giới bằng những định luật cơ khí (tất định thuyết của Laplace). Các nguyên tắc và cả các lý thuyết về vật lý học đều được thừa nhận là tuyệt đối đúng (<em>tuyệt đối luận</em>). Vật chất có vẻ như là dữ kiện đơn thuần và, về phương diện luân lý, mọi vật đều phải được giản lược vào dữ kiện đơn thuần này (<em>duy vật luận</em>). Thêm nữa, khoa vật lý học đã là tối cổ của những khoa học thiên nhiên và đã chứng tỏ giá trị của nó trong kỹ thuật học (technologie). Những ngành khác của tri thức, được nảy nở sau này ở thế kỷ XIX, nhất là sử học, chưa hoàn toàn nổi bật.</p><p></p><p>Nhưng vào cuối thế kỷ, hình ảnh vật lý về thiên nhiên này đã dẫn đến chỗ nghi ngờ. Dĩ nhiên, không phải đúng như người ta thường giả thuyết, rằng khoa vật lý học mới không chấp nhận vật chất, nghĩa là hoàn toàn loại bỏ tất định luận (déterminisme), hay nó không chấp nhận một vài mệnh đề nào đó là chính xác. Song còn có nhiều điều kể như là tuyệt đối chính xác bất ngờ hình như đáng được bàn lại. Bây giờ thì không nghi ngờ gì nữa, vật chất không phải là cái chỉ đơn thuần mà là quá ư phức tạp và vẫn còn nhiều chướng ngại lớn đối với việc công thức nó trên phương diện khoa học. Ngoài ra, nó đã chứng tỏ là cố suy tính vị trí và thế lực của một phần tử vật chất là không thể được. Dù sao, tất định thuyết dưới hình thức Laplace của nó đã trở thành bất vững. Phải chăng tất định thuyết, trên phương diện tổng quát, bây giờ đã mất hiệu lực hay nó vẫn còn có thể tồn tại dưới một hình thức khác? Đó là câu hỏi còn được đặt ra cho những nhà vật lý học lỗi lạc. Eddington, nhà thiên thể lý học (autrophysiste) bậc nhất, đã nói rằng “ông ta là một nhà tất định luận và cùng lúc ông ta là kẻ chống lại thuyết thế-giới-làm-bằng-miếng-pho-mát-xanh; không có sự kiện hiển nhiên cho cả hai giả thuyết.” Cơ giới luận mãi sau này đã thừa nhận một hình thức mới. Whitehead, một trong những người sành sỏi nhất về tình trạng này, nhận xét rất đúng rằng vật lý học cũ coi thế giới như một đồng cỏ mà nơi đó những con ngựa tự do phi nước đại, trong khi vật lý học mới coi nó như một nơi có những thiết lộ ngang qua mà trên đó các con tàu chạy theo lối cũ của chúng. Như thế, tân “cơ giới luận” tiến rất gần đến một khái niệm hữu cơ về thực tại. Sau hết, lý thuyết tương đối tính thuyết lượng tử (theorie de quanta), cũng như những khám phá khác trong vật lý học, đã đặt lại vấn đề tất cả những thành quả được coi là tuyệt đối đúng.</p><p></p><p>Những đảo ngược tư tưởng này trong lĩnh vực vật lý học đã tạo nên một ảnh hưởng trên triết học ở hai chiều hướng. Chính các nhà vật lý học không còn đồng ý nhau là cơ giới luận và tất định luận có thể còn nên duy trì hay không và trong mức độ nào. Thêm nữa, họ thảy đều tỏ ra quan tâm đến việc làm thế nào người ta có thể công thức hóa vật chất một cách khoa học, mà bấy giờ hình như lại càng quá phức tạp hơn, và họ cố sức để nhận thấy những đặc điểm tương đối trong những lý thuyết của mình. Những sự kiện này khiến nó không thể đặt cơ giới luận và tất định luận trên thẩm quyền của vật lý học và quả thực chúng đã chứng minh mọi cố gắng cắt nghĩa trong môi trường vật chất đều đáng nghi ngờ tột độ.(<a href="https://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/nhap-mon-triet-hoc/nguon-goc-cua-triet-hoc-can-dai_444.html#_ftn1" target="_blank">[1]</a>)</p><p></p><p>Dù sao, một hậu quả khác, và còn khẩn yếu hơn, của cuộc khủng hoảng vật lý học đã xuất hiện lộ liễu, đó là những khái niệm và những mệnh đề của vật lý không thể tiếp nhận từ triết học mà không có sự phân tích, và phương pháp đi đến những kết luận về thiên nhiên vật lý từ lập trường triết học không thể coi như là có giá trị tiên thiên (<em>a priori</em>). Hiển nhiên, Descartes và Kant trong mối liên hệ này đã phạm phải một sai lầm hoàn toàn ngây thơ. Nhưng từ tất cả điều này chúng ta thấy rằng sự khủng hoảng của vật lý học về phương diện khác đã đánh thức phương cách gọi là phân tích của tư tưởng mà người ta cho là kiểu mẫu của triết học ở thế kỷ XX.</p><p></p><p><strong>C. PHÊ BÌNH KHOA HỌC</strong></p><p></p><p>Tình trạng vừa được mô tả không phải là hậu quả của những phát triển khoa học thuần kỹ thuật. Các tư tưởng gia trong nhiều bình diện khác nữa cũng đã phụ sức gây nên, họ phân tích và đôi khi đặt vấn đề những phương sách của khoa học thiên nhiên qua một thời gian dài trước khi cuộc khủng hoảng bùng nổ. Các lãnh tụ về phía gọi là “phê bình khoa học” này là các triết gia Pháp, đáng kể là Émile Boutroux (1845-1921), <em>De la contigence de loi de la nature</em>, 1847; <em>De l’idée des loi naturelle</em>, 1894, Pierre Duhem (1861-1916) tác phẩm quan trọng đầu tiên: (<em>La Mixte et la combinaison chimique</em>, 1902) và Henri Poincaré (1853-1912), <em>La science et l’hypothèse </em>(1902).</p><p></p><p>Trường phái này song hành đồng thời với những cố gắng của thuyết <em>phê bình duy nghiệm</em> (empiriocriticisme), thuyết này đi đến những kết luận từ một lập trường duy thực. Richard Avenarius (1843-1916) cho ra quyển<em>Kritik der reinen Erfahrung</em> giữa năm 1888 và 1890 và Ernst Mach (1838-1916) cho ra đời tác phẩm chính yếu của ông năm 1900, trong đó trình bày một chủ thuyết phê bình rất là gắt gao về thuyết cho rằng khoa học có một giá trị tuyệt đối.</p><p></p><p>Phê bình khoa học nhắm đến giá trị của các khái niệm cũng như các hệ thống khoa học. Những phân tích sâu sắc và những khảo cứu lịch sử chứng tỏ rằng cả hai phần lớn đều chủ quan tự bản chất bởi vì con người của khoa học không phải chỉ phân chiết thực tại một cách tự do, mà cũng còn tiếp tục dùng những khái niệm vốn khởi lên trong tâm mình. Và về những lý thuyết lớn, phân tích đến cuối thì chúng chỉ là những khí cụ thích hợp để diễn tả kinh nghiệm: “không đúng, cũng không sai mà là hữu ích” (Poincaré). Ta cũng nên ghi nhận rằng không một nhà phê bình Pháp nào chủ quán lệ (conventionaliste), ngay cả Poincaré. Họ cố gắng nói lên rằng khoa học đã thôi là lý tưởng xác thật mà người ta cùng gán cho nó ở thế kỷ XIX. Các nhà phê bình duy thực Đức đi xa hơn và tán thành một tương đối luận (relativisme) gần với chủ nghĩa hoài nghi (scepticisme).</p><p></p><p>Trên đại thể, khoa học đã đánh mất phần lớn thẩm quyền của nó trong những tâm hồn triết gia, như thế lại làm nghiêm trọng thêm những gì mà cuộc khủng hoảng trong vật lý học khởi đầu thúc đẩy. Từ đó về sau người ta không thể giữ chặt một quan điểm Newton về thiên nhiên giống như người ta tìm thấy ở những cội rễ của chủ thuyết Kant và của tất cả tư tưởng Âu châu từ trước.</p><p></p><p><strong>D. KHỦNG HOẢNG TOÁN HOÁN: LUẬN LÝ TOÁN HỌC</strong></p><p></p><p>Đến hết thể kỷ XIX, sự tiến bộ của toán học dẫn đến một khủng hoảng với hậu quả trầm trọng không ít so với cuộc khủng hoảng của vật lý học. Giữa những khám phá trong bình diện toán học, khoa hình học phi-Euclide và lý thuyết về toàn bộ (théorie des ensembles) đặc biệt có ảnh hưởng đến triết học. Cả hai khám phá này chứng tỏ rằng những gì trước kia được chấp nhận không e dè như là những tiền đề giản dị của toán học thực sự không hoàn toàn chắc chắn nữa. Chúng hướng sự chú ý đến phân tích chính xác về những khái niệm có vẻ giản dị và đến sự kiến thiết định đề cho những hệ thống. Trong phạm vi của lý thuyết về toàn bộ, ngay vào cuối thế kỷ XIX, người ta khám phá những điều gọi là nghịch lý (paradoxe), nghĩa là, những mâu thuẫn được phát xuất do những phương pháp đúng đắn của suy luận từ những giả định vó vẻ giản dị và hiển nhiên. Với điều này, những căn bản vững chắc của toán học gần như sụp đổ.</p><p></p><p>Gắn chặt với sự phát triển này, khoa luận lý học hình thức (logique formelle) tái sinh, đặc biệt trong hình thức mệnh danh chủ luận lý (logistique) – luận lý học ký hiệu hay toán học. Như đã nói, trong thời đại này, triết học cận đại đã để cho luận lý rời vào quên lãng và thực sự vào một tình trạng của sự suy đồi “man rợ”. Về những triết gia dẫn đầu chủ có Leibniz là luận lý gia lỗi lạc. Những vị khác – Kant và Descartes đều là những điển hình quan trọng – ít biết đến những yếu tố của luận lý học hình thức. Nhưng trong năm 1847 xuất hiện những tác phẩm của hai toán học gia nước Anh, hoàn toàn biệt lập: Augustus de Morgan (1806-1878) và Geroge Boole (1815-1864), và chúng kể như là những ấn phẩm đầu tiên của luận lý toán học cận đại. Công việc của họ được tiếp tục do Ernst Schöder (1841-1902), Giuseppe Peano (1858-1932), và nhất là Gottlob Frege (1848-1925), một tư tưởng gia và là một luận lý gia ngoại hạng. Thế nhưng luận lý toán học vẫn còn khá mù tịt đối với các triết gia cho đến bắt đầu thế kỷ XX. Chỉ khi Bertrand Russell đến tiếp xúc với Peano năm 1900 và xuất bản <em>Những nguyên tắc toán học</em> (Principles of Mathematics) của ông năm 1903 thì các triết gia, ít ra là những vị ở các xứ nói tiếng Anh, mới chú ý đến những khảo cứu này. Sự phát triển của môn học mới mẻ này được tiến bộ khả quan do sự xuất bản cuốn <em>Principia Mathematica</em> năm 1910-1913 của Whitehead và Russell, một tác phẩm tối quan trọng.</p><p></p><p>Luận lý toán học đã ảnh hưởng đến triết học trong hai lối. Trước hết, nó chứng tỏ là một khí cụ minh xác nhất cho sự phân tích những khái niệm và những chứng cứ, mà theo sự tin tưởng của những người ủng hộ nó, là có thể ứng dụng ngay cả trong những phạm vi nào không thể toán học hóa - ứng dụng được bởi vì thứ luận lý mệnh danh “toán học” chỉ toán học “trong căn nguyên” nhưng trong thực tiễn nó không diễn ra với toán học mà là với những khái niệm rất thông thường. Thứ hai, qua những khảo cứu luận lý toán học này nhiều vấn đề triết học cũ lại trở nên hiện hành, tỉ dụ, vấn đề nguyên tắc triệt tam, chân lý của những định đề, văn phạm triết học (bây giờ gọi là “ký hiệu”: sémiotique) và nhất là vấn đề những tổng thể (universaux).</p><p></p><p><strong>E. PHƯƠNG PHÁP HIỆN TƯỢNG HỌC</strong></p><p></p><p>Một phong trào khác, dù với những giả định và mục đích hoàn toàn khác biệt đã đem lại sự đoạn tuyệt với thế kỷ XIX và sự phát triển của triết học hiện đại, đó là hiện tượng học (phénoménologique). Theo nghĩa hẹp, danh từ này đặc biệt chỉ cho phương pháp và chủ thuyết của Edmund Husserl, nhưng nó cũng được dùng cho cả một nhóm những tư tưởng gia khác họ trình bày một quan điểm tương tự. Sáng lập viên của phong trào này là Franz Brentano (1838-1917). Trước tiên là một tu sĩ dòng Saint-Dominique, ông ta lìa bỏ nhà tu và sau này bỏ cả giáo hội. Nhưng trong mọi cách ông vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Aristote – Thomas, tỉ dụ, trong khách quan luận của ông, sự coi trọng những phân tích đa biệt của ông, và ở luận lý học của ông. Ông ta có rất nhiều môn đệ. Ba người có ảnh hưởng đặc biệt: Kazimiers Twardowski, Alois Meinong, và Edmund Husserl. Twardowski (1866-1938) dù ông không phải là một luận lý gia, đã trở thành sáng lập viên của trường phái luận lý học Ba Lan, trường phái giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của luận lý toán học. Alois Meinong (1835-1921) đã phát triển lý thuyết mệnh danh về “những sở tri” (théorie de l’objet) và thiết lập một trường phái riêng nhỏ nhưng có ảnh hưởng. Một trong những môn đệ xuất sắc của Brentano là Edmund Husserl (1859-1938) đã là kiến trúc sư chính yếu của phương pháp hiện tượng học. Phương pháp này chính yếu là ở chỗ phân tích yếu tính (essence) của các dữ kiện, tức hiện tượng đã trở nên phương pháp quảng bá của phân tích triết học, song song với phương pháp toán học, đặc biệt là sau Thế chiến II. Ảnh hưởng quan trọng nhất giữa hiện tượng học và luận lý toán học là sự kiện hiện tượng học hoàn toàn loại bỏ diễn dịch, ít bận tâm đến ngôn ngữ, dù cả điển hình chính Husserl, và không phân tích sự kiện thường nghiệm mà là những yếu tính. Ta cũng nên ghi nhận rằng tác phẩm chính của Meinong, <em>Ueber die Annahmen</em>, xuất hiện năm 1902, và của Husserl, <em>Logische Unterchungen</em>, một trong những tác phẩm ảnh hưởng nhất của tiền bán thế kỷ XX, xuất bản năm 1900-1901.</p><p></p><p>Phương pháp mệnh danh “phân tích” của G. E. Moore (1873) có quan hệ chặt chẽ hơn với phương pháp hiện tượng học. Với Bertrand Russell nó trở thành phân tích của luận lý toán học nhưng ở Moore nó khoác một đặc điểm khác. Trong <em>Principia Ethica</em> của ông, năm 1903, Moore gần với Meinong ở phương pháp và hình như chính đã chịu ảnh hưởng ông đến một độ nào đó. Meinong cũng đã ảnh hưởng đến Russell trong nhiều lối, trong khi luận lý toán học về sau này mượn Husserl rất nhiều.</p><p></p><p><strong>F. CHỦ NGOẠI LÝ DUY SINH</strong></p><p></p><p>Trước hết, luận lý toán học và hiện tượng học là những phương pháp chứ không phải những chủ thuyết. Cả hai xuất phát từ sự phản tỉnh trên những nền tảng của các khoa học và cố đem lại cho chúng một nền tảng mới với sự giúp đỡ của phương pháp thuần lý. Lại nữa cả hai lập trường đều là chủ đa nguyên và đều đối lập với khuynh hướng xây dựng hệ thống. Chúng đã lột trần và phá hủy nhiều giản lược hóa quá thô kệch của thế kỷ XIX. Thêm nữa, cả hai lập trường, đều duy thực, ít ra là ở khởi điểm. Trong cả Moore và Husserl biểu lộ một cảm tình nào đó với chủ Platon (Platonisme), trong một hình thức hoàn toàn mới. Nhưng chúng ta hãy lặp lại rằng cả luận lý toán học và cả hiện tượng học, ít ra là trong <em>Principia Mathemathics</em> và trong <em>Logische Unterchungen</em>, đều không thực sự xây dựng lên những nền triết học.</p><p></p><p>Trong tương phản với những điều này, cùng lúc khởi lên hai phong trào triết học mới về nội dung: chủ ngoại lý duy sinh (irrationalisme vitaliste) và siêu hình học duy thực (métaphysique réaliste) kiểu mới. Một trong những hậu quả của cuộc khủng hoảng tinh thần ở thời đại này là sự bành trướng ngạo nghễ của những khuynh hướng chủ ngoại lý, đặc điểm của cuối thế kỷ. Mặc dù Kant đã từ chối là lý tính không thể đạt đến thế giới đằng sau hiện tượng, ông ta vẫn còn chủ trương rằng thế giới thường nghiệm lệ thuộc những định luật thuần lý, những định luật có thể khám phá được. Phê bình về khoa học và cuộc khủng hoảng ở trong vật lý học hình như chứng tỏ minh nhiên rằng không phải là như vậy, mà đó là vì khái quát thái độ hoài nghi của Kant thành giá trị của lý tính cơ giới (raison mécaniste) của các khoa học; vì vậy, cuộc khủng hoảng khoa học đã tạo ra một khủng hoảng trong chủ lý (rationalisme).</p><p></p><p>Nhưng đấy không phải là nguồn mạch độc nhất của những khuynh hướng mới. Ngược lại, duy nghiệm luận đã giữ một phần trọng yếu trong sự phát triển các khuynh hướng của chúng bắt nguồn từ sự kiện rằng cái nhìn cơ giới của nó về đời sống đã vay mượn hình thức của chủ thuyết Darwin (Darwinisme). Sự mở đầu của thế kỷ XX đã chứng kiến điều quái dị là học thuyết đó với ý tưởng căn bản của nó là cắt nghĩa cái cao hơn từ phương diện thấp hơn, đã chuyển hướng đến những phạm vi tâm lý học và xã hội học. Theo đó, tất cả đời sống hữu thức, gồm cả những khả năng lý luận, đã được giản lược vào những yếu tố thấp nhất của nó và được đặt vào những định luật bản năng về sự tiến hóa, không có gì thường tại, không có gì bất biến, cả những nguyên lý vĩnh cửu, mà chỉ có đà sống thúc đẩy sự tiến hóa của đời sống.</p><p></p><p>Sau hết cũng chính những nguyên nhân đã làm nảy sinh chủ lãng mạn vào đầu thế kỷ XIX bấy giờ được ảnh hưởng của truyền thống củng cố thêm, chúng cũng nhận lãnh một vai trò: quan điểm nhất nguyên luận và tất định luận được khoa học quảng bá trước 1900 rất là chuyên chế đến độ thúc đẩy cảm thấy có nhiệm vụ bảo tồn những quyền năng của sự sống của thế vị con người (persone humaine) và những giá trị tinh thần.</p><p></p><p>Thế lực này xuất hiện một cách bất ngờ và dữ dội với hai triết gia đại diện là James và Bergson đứng đầu phong trào triết học này. Spencer, đại diện kiểu mẫu nhất của duy nghiệm cơ giới, vẫn còn tồn tại khi cả hai xuất hiện hầu như đồng thời <em>Les Données immédiates de la conscience</em> (1889) và <em>Principles of Psychology</em>(1890) tiếp theo ngay đó: <em>Matière et Memoire</em> (1896) và <em>The Will to Believe</em> (1897). Cả hai triết gia này vẫn còn gây ảnh hưởng đến hoàn cảnh chúng ta ngay hiện thời mà chúng ta sẽ bàn đầy đủ hơn (xem những tiết 11 và 12). Thế cũng đủ để ghi nhận ở đây rằng cả hai đều là chủ ngoại lý công khai và lấy khái niệm về sự sống làm chìa khóa cho tư tưởng triết lý của mình.</p><p></p><p><strong>G. SIÊU HÌNH HỌC DUY THỰC TÁI SINH</strong></p><p></p><p>Cùng lúc, một khuynh hướng khác sâu sắc hơn được kết tinh; chủ duy thực và siêu hình học trở về và lần đầu tiên làm vỡ cái khung những nguyên lý Kant đã chế ngự toàn thể triết học trong một thời gian dài. Khó mà tìm ra những cội rễ về những nguyên nhân sâu xa của chúng, vì những cống hiến của chúng vào siêu hình học rất đồ sộ và xuất hiện từ những góc cạnh khác nhau. Trên đại thể, có thể nói, những nguồn mạch của Kant bắt đầu cạn từ lối 1900; chúng không còn sung mãn nữa, chúng không còn được thỏa mãn nữa, và tư tưởng quay về những giải quyết khác. Khuynh thứ nhất đáng ghi nhớ là hướng đến một <em>chủ duy thực “phê bình”</em>(réalisme “critique”) kiểu mới vẫn chưa bỏ hẳn cái khung của Kant. Alois Riehl (1844-1924) là một trong những đại diện. Trường phái Würzburg cùng đi trên những đường ấy với tốc độ và năng lực lớn hơn; vị tổ của nó là Oswald Küpe (1862-1915) và những đồ đệ của ông gồm một số những tên tuổi xuất sắc. Nhưng sự hồi sinh thực sự của duy thực, giống như phương pháp hiện tượng luận, xuất phát từ Brentano và các môn đệ, đặc biệt là từ Meinong và Husserl. Chắc chắn Husserl không hoàn toàn đi đến duy thực, triết học về thể tính (philosophique de l’être) lại càng ít, nhưng sự kiện ông quay sự chú tâm của mình ra khỏi những vấn đề nhận thức vô hiệu đến sự phân tích về các dữ kiện thì thật là quan trọng vô cùng đối với chủ nghĩa duy thực và siêu hình học cận đại. Ảnh hưởng của Meinong trong chiều hướng này cũng khá hiển nhiên.</p><p></p><p>Ngoài phong trào này, <em>Siêu hình học duy thực</em> cắm sào trên nhiều chỗ dưới thúc đẩy của nhiều yếu tố tinh thần sai biệt. Thomisme tái sinh vào khoảng 1880 (Giáo lệnh <em>Aeterni patris</em> ban hành năm 1879) và gây thành một trường phái lớn, mạnh mẽ ngay từ đầu. Năm 1893, tạp chí <em>La Revue Thomiste</em>, cơ quan ở Freiburg và 1894, tờ <em>La Revue Néo-scolastique de Philosophique</em> ở Louvain. Nó trình bày duy thực trực tiếp và siêu hình học cổ truyền.</p><p></p><p>Tuy nhiên, Thomisme không đứng một mình: ở Anh, G.E.Moore xuất bản tập tiểu luận danh tiếng, <em>The Refutation of Idealism</em> vào năm 1903 và song song với Bertrand Russell ông ta tiến tới một thứ triết học gần gũi với Platon. Các tư tưởng gia Pháp, Boutroux và Bergson, cả hai ủng hộ duy thực trong nhiều đường lối khác nhau, trong khi ở Đức điển hình chủ yếu là thuyết của Hans Driesch (1867-1941) khởi sắc nhờ chất Aristote của nó.</p><p></p><p> Phong trào duy thực mới này không hoàn thành tính chất phổ biến của chủ ngoại lý nhưng nó có cùng hiệu quả. Siêu hình học, ở thế kỷ XIX chỉ là một phong trào phụ và yếu, trở thành học thuyết chỉ đạo của thời này.</p><p></p><p><strong>H. TRỞ VỀ TƯ BIỆN. ĐA NGUYÊN LUẬN</strong></p><p></p><p>Đến cuối thế kỷ XIX, triết học suy vi dưới sự đè nặng của chủ nghia thực chứng (positivisme). Có lẽ phần lớn triết gia không dám trình bày tư tưởng của họ, và kết quả là phần lớn các trường đại học bị chế ngự bởi một thứ óc duy lịch sử (historicisme) tự giới hạn trong một bản liệt kê đích xác những học thuyết quá khứ. Một trong những sắc thái nổi bật nhất của thế kỷ XX là sự trở về tư biện có hệ thống (spéculation systematique) xâm nhập trong các trường phái chủ ngoại lý và cũng như siêu hình.</p><p></p><p>Nhưng triệu chứng có ý nghĩa nhất và không thể nhầm lẫn là chắc chắn trở về với đa nguyên luận duy ngã (pluralisme personnaliste). Nếu thế kỷ XIX đã là chủ nhất nguyên trong hầu hết tất cả những biểu lộ của nó, thì trái lại, hầu hết tất cả những phong trào ở cuối thế kỷ đều là chủ đa nguyên. Họ khám phá ra những sai biệt trong nhiều cấp độ khác nhau của thể tính và nhấn mạnh tính chất đa nguyên của những thể tính tự hữu. James đưa ra một biểu lộ cho hình thức cực đoan nhất của đa nguyên luận này bằng cách đi xa đến chỗ bày tỏ cảm tình với đa thần luận. Nó tìm thấy sự tán thưởng hầu như phổ biến trong đôi mắt của các nhà hiện tượng học tân duy thực Anh, và Thomiste. Thế vị con người đang lấy lại những đặc quyền xưa của nó và phút chốc trở thành tâm điểm của hứng khởi triết học từ đó về sau tư tưởng thực sự trở thành quyến rũ với những bận tâm sâu xa về tâm linh. Nếu thế kỷ XIX đã là một thời đại dẫn đầu bởi chủ nhất nguyên và chủ duy vật, thì hiển nhiên từ cuộc khủng hoảng năm 1900 là một thời đại mới chắc chắn được trao lại cho thuyết nhân vị duy tâm (personnalisme spiritualiste) trên một căn bản rộng rãi nhất.</p><p></p><p>Dĩ nhiên những ý tưởng này còn quá xa với những giả định phổ cập vào khoảng 1900; thực vậy, tiền bán thế kỷ dự phòng việc đề ra một lối về với những thể tài thuở xưa. Nhưng những ý tưởng mới đã có đó, đã biểu lộ rồi, và đã được phần lớn các tư tưởng gia Âu châu sau thế chiến I hưởng ứng.</p><p></p><p>Nguồn: J. M. Bochenski. <em>Triết học Tây phương hiện đại</em>. Tuệ Sỹ dịch. Nxb. Ca Dao, 1969. Phiên bản điện tử do bạn Phạm Tấn Xuân Cao, sinh viên khoa Triết trường Đại học Huế, thực hiện.</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="uocmo_kchodoi, post: 178313, member: 165510"] [CENTER][B][COLOR=#ff0000][B]NGUỒN GỐC TRIẾT HỌC CẬN ĐẠI[/B][/COLOR] [COLOR=#5900b3]Phần 2: Những khủng hoảng [/COLOR][/B][/CENTER] [B]A. NHỮNG CHUYỂN HƯỚNG[/B] Cuối thế kỷ XIX, sự kiện hiển nhiên đã xảy ra là một cuộc khủng hoảng triết lý trầm trọng; triệu chứng của nó là sự phát khởi của những phong trào chống lại hai thế lực mạnh mẽ trong triết học cận đại, duy vật cơ giới luận (mécanisme matérialiste) và chủ quan luận (subjectivisme). Sự phản kháng vượt xa ngoài môi trường triết học và có thể so sánh với cuộc khủng hoảng lớn đã làm nảy sinh nền văn hóa cận đại ở thời phục hưng. Rất khó mà đưa ra một khuôn hình toàn diện của nó với những nguyên nhân phụ trợ nhưng chính những sự kiện hiển nhiên cũng đủ làm sáng tỏ vấn đề. Vào thời này, Âu châu đang trải qua một chuyển hướng quan trọng trong tư tưởng xã hội và đang chịu đựng những nhiễu loạn kinh tế nghiêm trọng; có những mối phân vân đáng chú ý trong tư tưởng tôn giáo và những cải cách triệt để trong nghệ thuật. Trên đại thể, ai cũng đồng ý rằng sự khởi đầu của thế kỷ XX không phải chỉ là sự chấm dứt của một thời kỳ ngắn ngủi, mà đúng hơn là màn chót diễn ra trên một thời kỳ lớn đang khép lại, khiến cho thời đại chúng ta không thể được liệt vào thời cận đại (moderne) nữa. Hẳn không phải là không có lý khi người ta nhận định rằng cuộc cách mạng sau cùng này triệt để hơn những gì đã xảy ra ở thời phục hưng. Dù sao, những khái niệm cơ bản trong mọi môi trường của cuộc sống đã bị chấn động, và những trận chiến hiện đại bùng nổ đã thúc giục đà tan vỡ đưa đến khủng hoảng. Dĩ nhiên một biến chuyển căn để như vậy trong đời sống tinh thần có quan hệ sâu xa với những biến chuyển trong những tương quan xã hội, biến chuyển ấy thực sự dù sao cũng là do những tương quan ấy tạo nên. Tuy nhiên, trong tình trạng khoa học ngày nay, người ta không thể đẩy mối quan hệ song hành đó đi đến chi tiết. Vì vậy, chúng ta phải tự hạn chế vào việc thiết lập những nguyên nhân trực tiếp về tinh thần và những giới hạn của sự biến chuyển này. Người có thể phân chúng thành ba nhóm. Thứ nhất là sự khủng hoảng ở vật lý học và toán học mà một đằng đưa đến sự phát triển cao độ của tư tưởng phân tích và đằng khác tinh thần kiểu mẫu của thế kỷ XIX. Nhóm thứ hai là hai phương pháp bắt đầu phát triển trong thời đại này, phương pháp toán học và phương pháp hiện tượng học. Sau hết, nhóm thứ ba được thiết lập do một vài khái niệm về thế giới, quan trọng nhất là chủ ngoại lý (irrationalisme) và siêu hình học duy thực kiểu mới (nouvelle métaphysique réaliste). Những phong trào đa biệt về tinh thần này đều có liên hệ với nhau trong nhiều đường hướng. Tỉ dụ như luận lý toán học có liên hệ mật thiết với cuộc khủng hoảng siêu hình học, trong khi đó cuộc khủng hoảng vật lý học tăng cường chủ ngoại lý; [41]và thường chính những tư tưởng gia này trở thành những sáng lập viên của phương pháp hiện tượng học và của duy thực kiểu mới. Có những hỗ tương ảnh hưởng giữa các nhà tiền phong của hiện tượng học và của luận lý toán học. Dù có những mối hỗ tương quan hệ này, nhưng khó mà thiết lập sự song hành cho cuộc phát khởi của những phong trào đồng thời này, cả hai khác nhau rõ rệt trong những nguồn mạch lịch sử cũng như trong những chủ đích của chúng. Thực sự, các phong trào ấy mở ra một biến chuyển toàn bộ của triết học. [B]B. KHỦNG HOẢNG VẬT LÝ HỌC NEWTON[/B] Phần lớn các triết gia thế kỷ XIX xem vật lý học Newton như là một khuôn hình tuyệt đối chân thật của thiên nhiên. Họ nhìn thấy trong đó một mô tả minh nhiên về thực tại mà nơi đây mọi vật có thể được giản lược vào một vị trí và một động lực của những nguyên tử vật chất ([I]cơ giới luận[/I]). Giả sử rằng tình trạng hiện tại đã được đưa ra và những thế lực ảnh hưởng trên các phân tử vật chất đã được nhận ra, người ta tin tưởng là có thể tính toán được tất cả sự tiến hóa trước và sau của thế giới bằng những định luật cơ khí (tất định thuyết của Laplace). Các nguyên tắc và cả các lý thuyết về vật lý học đều được thừa nhận là tuyệt đối đúng ([I]tuyệt đối luận[/I]). Vật chất có vẻ như là dữ kiện đơn thuần và, về phương diện luân lý, mọi vật đều phải được giản lược vào dữ kiện đơn thuần này ([I]duy vật luận[/I]). Thêm nữa, khoa vật lý học đã là tối cổ của những khoa học thiên nhiên và đã chứng tỏ giá trị của nó trong kỹ thuật học (technologie). Những ngành khác của tri thức, được nảy nở sau này ở thế kỷ XIX, nhất là sử học, chưa hoàn toàn nổi bật. Nhưng vào cuối thế kỷ, hình ảnh vật lý về thiên nhiên này đã dẫn đến chỗ nghi ngờ. Dĩ nhiên, không phải đúng như người ta thường giả thuyết, rằng khoa vật lý học mới không chấp nhận vật chất, nghĩa là hoàn toàn loại bỏ tất định luận (déterminisme), hay nó không chấp nhận một vài mệnh đề nào đó là chính xác. Song còn có nhiều điều kể như là tuyệt đối chính xác bất ngờ hình như đáng được bàn lại. Bây giờ thì không nghi ngờ gì nữa, vật chất không phải là cái chỉ đơn thuần mà là quá ư phức tạp và vẫn còn nhiều chướng ngại lớn đối với việc công thức nó trên phương diện khoa học. Ngoài ra, nó đã chứng tỏ là cố suy tính vị trí và thế lực của một phần tử vật chất là không thể được. Dù sao, tất định thuyết dưới hình thức Laplace của nó đã trở thành bất vững. Phải chăng tất định thuyết, trên phương diện tổng quát, bây giờ đã mất hiệu lực hay nó vẫn còn có thể tồn tại dưới một hình thức khác? Đó là câu hỏi còn được đặt ra cho những nhà vật lý học lỗi lạc. Eddington, nhà thiên thể lý học (autrophysiste) bậc nhất, đã nói rằng “ông ta là một nhà tất định luận và cùng lúc ông ta là kẻ chống lại thuyết thế-giới-làm-bằng-miếng-pho-mát-xanh; không có sự kiện hiển nhiên cho cả hai giả thuyết.” Cơ giới luận mãi sau này đã thừa nhận một hình thức mới. Whitehead, một trong những người sành sỏi nhất về tình trạng này, nhận xét rất đúng rằng vật lý học cũ coi thế giới như một đồng cỏ mà nơi đó những con ngựa tự do phi nước đại, trong khi vật lý học mới coi nó như một nơi có những thiết lộ ngang qua mà trên đó các con tàu chạy theo lối cũ của chúng. Như thế, tân “cơ giới luận” tiến rất gần đến một khái niệm hữu cơ về thực tại. Sau hết, lý thuyết tương đối tính thuyết lượng tử (theorie de quanta), cũng như những khám phá khác trong vật lý học, đã đặt lại vấn đề tất cả những thành quả được coi là tuyệt đối đúng. Những đảo ngược tư tưởng này trong lĩnh vực vật lý học đã tạo nên một ảnh hưởng trên triết học ở hai chiều hướng. Chính các nhà vật lý học không còn đồng ý nhau là cơ giới luận và tất định luận có thể còn nên duy trì hay không và trong mức độ nào. Thêm nữa, họ thảy đều tỏ ra quan tâm đến việc làm thế nào người ta có thể công thức hóa vật chất một cách khoa học, mà bấy giờ hình như lại càng quá phức tạp hơn, và họ cố sức để nhận thấy những đặc điểm tương đối trong những lý thuyết của mình. Những sự kiện này khiến nó không thể đặt cơ giới luận và tất định luận trên thẩm quyền của vật lý học và quả thực chúng đã chứng minh mọi cố gắng cắt nghĩa trong môi trường vật chất đều đáng nghi ngờ tột độ.([URL='https://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/nhap-mon-triet-hoc/nguon-goc-cua-triet-hoc-can-dai_444.html#_ftn1'][1][/URL]) Dù sao, một hậu quả khác, và còn khẩn yếu hơn, của cuộc khủng hoảng vật lý học đã xuất hiện lộ liễu, đó là những khái niệm và những mệnh đề của vật lý không thể tiếp nhận từ triết học mà không có sự phân tích, và phương pháp đi đến những kết luận về thiên nhiên vật lý từ lập trường triết học không thể coi như là có giá trị tiên thiên ([I]a priori[/I]). Hiển nhiên, Descartes và Kant trong mối liên hệ này đã phạm phải một sai lầm hoàn toàn ngây thơ. Nhưng từ tất cả điều này chúng ta thấy rằng sự khủng hoảng của vật lý học về phương diện khác đã đánh thức phương cách gọi là phân tích của tư tưởng mà người ta cho là kiểu mẫu của triết học ở thế kỷ XX. [B]C. PHÊ BÌNH KHOA HỌC[/B] Tình trạng vừa được mô tả không phải là hậu quả của những phát triển khoa học thuần kỹ thuật. Các tư tưởng gia trong nhiều bình diện khác nữa cũng đã phụ sức gây nên, họ phân tích và đôi khi đặt vấn đề những phương sách của khoa học thiên nhiên qua một thời gian dài trước khi cuộc khủng hoảng bùng nổ. Các lãnh tụ về phía gọi là “phê bình khoa học” này là các triết gia Pháp, đáng kể là Émile Boutroux (1845-1921), [I]De la contigence de loi de la nature[/I], 1847; [I]De l’idée des loi naturelle[/I], 1894, Pierre Duhem (1861-1916) tác phẩm quan trọng đầu tiên: ([I]La Mixte et la combinaison chimique[/I], 1902) và Henri Poincaré (1853-1912), [I]La science et l’hypothèse [/I](1902). Trường phái này song hành đồng thời với những cố gắng của thuyết [I]phê bình duy nghiệm[/I] (empiriocriticisme), thuyết này đi đến những kết luận từ một lập trường duy thực. Richard Avenarius (1843-1916) cho ra quyển[I]Kritik der reinen Erfahrung[/I] giữa năm 1888 và 1890 và Ernst Mach (1838-1916) cho ra đời tác phẩm chính yếu của ông năm 1900, trong đó trình bày một chủ thuyết phê bình rất là gắt gao về thuyết cho rằng khoa học có một giá trị tuyệt đối. Phê bình khoa học nhắm đến giá trị của các khái niệm cũng như các hệ thống khoa học. Những phân tích sâu sắc và những khảo cứu lịch sử chứng tỏ rằng cả hai phần lớn đều chủ quan tự bản chất bởi vì con người của khoa học không phải chỉ phân chiết thực tại một cách tự do, mà cũng còn tiếp tục dùng những khái niệm vốn khởi lên trong tâm mình. Và về những lý thuyết lớn, phân tích đến cuối thì chúng chỉ là những khí cụ thích hợp để diễn tả kinh nghiệm: “không đúng, cũng không sai mà là hữu ích” (Poincaré). Ta cũng nên ghi nhận rằng không một nhà phê bình Pháp nào chủ quán lệ (conventionaliste), ngay cả Poincaré. Họ cố gắng nói lên rằng khoa học đã thôi là lý tưởng xác thật mà người ta cùng gán cho nó ở thế kỷ XIX. Các nhà phê bình duy thực Đức đi xa hơn và tán thành một tương đối luận (relativisme) gần với chủ nghĩa hoài nghi (scepticisme). Trên đại thể, khoa học đã đánh mất phần lớn thẩm quyền của nó trong những tâm hồn triết gia, như thế lại làm nghiêm trọng thêm những gì mà cuộc khủng hoảng trong vật lý học khởi đầu thúc đẩy. Từ đó về sau người ta không thể giữ chặt một quan điểm Newton về thiên nhiên giống như người ta tìm thấy ở những cội rễ của chủ thuyết Kant và của tất cả tư tưởng Âu châu từ trước. [B]D. KHỦNG HOẢNG TOÁN HOÁN: LUẬN LÝ TOÁN HỌC[/B] Đến hết thể kỷ XIX, sự tiến bộ của toán học dẫn đến một khủng hoảng với hậu quả trầm trọng không ít so với cuộc khủng hoảng của vật lý học. Giữa những khám phá trong bình diện toán học, khoa hình học phi-Euclide và lý thuyết về toàn bộ (théorie des ensembles) đặc biệt có ảnh hưởng đến triết học. Cả hai khám phá này chứng tỏ rằng những gì trước kia được chấp nhận không e dè như là những tiền đề giản dị của toán học thực sự không hoàn toàn chắc chắn nữa. Chúng hướng sự chú ý đến phân tích chính xác về những khái niệm có vẻ giản dị và đến sự kiến thiết định đề cho những hệ thống. Trong phạm vi của lý thuyết về toàn bộ, ngay vào cuối thế kỷ XIX, người ta khám phá những điều gọi là nghịch lý (paradoxe), nghĩa là, những mâu thuẫn được phát xuất do những phương pháp đúng đắn của suy luận từ những giả định vó vẻ giản dị và hiển nhiên. Với điều này, những căn bản vững chắc của toán học gần như sụp đổ. Gắn chặt với sự phát triển này, khoa luận lý học hình thức (logique formelle) tái sinh, đặc biệt trong hình thức mệnh danh chủ luận lý (logistique) – luận lý học ký hiệu hay toán học. Như đã nói, trong thời đại này, triết học cận đại đã để cho luận lý rời vào quên lãng và thực sự vào một tình trạng của sự suy đồi “man rợ”. Về những triết gia dẫn đầu chủ có Leibniz là luận lý gia lỗi lạc. Những vị khác – Kant và Descartes đều là những điển hình quan trọng – ít biết đến những yếu tố của luận lý học hình thức. Nhưng trong năm 1847 xuất hiện những tác phẩm của hai toán học gia nước Anh, hoàn toàn biệt lập: Augustus de Morgan (1806-1878) và Geroge Boole (1815-1864), và chúng kể như là những ấn phẩm đầu tiên của luận lý toán học cận đại. Công việc của họ được tiếp tục do Ernst Schöder (1841-1902), Giuseppe Peano (1858-1932), và nhất là Gottlob Frege (1848-1925), một tư tưởng gia và là một luận lý gia ngoại hạng. Thế nhưng luận lý toán học vẫn còn khá mù tịt đối với các triết gia cho đến bắt đầu thế kỷ XX. Chỉ khi Bertrand Russell đến tiếp xúc với Peano năm 1900 và xuất bản [I]Những nguyên tắc toán học[/I] (Principles of Mathematics) của ông năm 1903 thì các triết gia, ít ra là những vị ở các xứ nói tiếng Anh, mới chú ý đến những khảo cứu này. Sự phát triển của môn học mới mẻ này được tiến bộ khả quan do sự xuất bản cuốn [I]Principia Mathematica[/I] năm 1910-1913 của Whitehead và Russell, một tác phẩm tối quan trọng. Luận lý toán học đã ảnh hưởng đến triết học trong hai lối. Trước hết, nó chứng tỏ là một khí cụ minh xác nhất cho sự phân tích những khái niệm và những chứng cứ, mà theo sự tin tưởng của những người ủng hộ nó, là có thể ứng dụng ngay cả trong những phạm vi nào không thể toán học hóa - ứng dụng được bởi vì thứ luận lý mệnh danh “toán học” chỉ toán học “trong căn nguyên” nhưng trong thực tiễn nó không diễn ra với toán học mà là với những khái niệm rất thông thường. Thứ hai, qua những khảo cứu luận lý toán học này nhiều vấn đề triết học cũ lại trở nên hiện hành, tỉ dụ, vấn đề nguyên tắc triệt tam, chân lý của những định đề, văn phạm triết học (bây giờ gọi là “ký hiệu”: sémiotique) và nhất là vấn đề những tổng thể (universaux). [B]E. PHƯƠNG PHÁP HIỆN TƯỢNG HỌC[/B] Một phong trào khác, dù với những giả định và mục đích hoàn toàn khác biệt đã đem lại sự đoạn tuyệt với thế kỷ XIX và sự phát triển của triết học hiện đại, đó là hiện tượng học (phénoménologique). Theo nghĩa hẹp, danh từ này đặc biệt chỉ cho phương pháp và chủ thuyết của Edmund Husserl, nhưng nó cũng được dùng cho cả một nhóm những tư tưởng gia khác họ trình bày một quan điểm tương tự. Sáng lập viên của phong trào này là Franz Brentano (1838-1917). Trước tiên là một tu sĩ dòng Saint-Dominique, ông ta lìa bỏ nhà tu và sau này bỏ cả giáo hội. Nhưng trong mọi cách ông vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Aristote – Thomas, tỉ dụ, trong khách quan luận của ông, sự coi trọng những phân tích đa biệt của ông, và ở luận lý học của ông. Ông ta có rất nhiều môn đệ. Ba người có ảnh hưởng đặc biệt: Kazimiers Twardowski, Alois Meinong, và Edmund Husserl. Twardowski (1866-1938) dù ông không phải là một luận lý gia, đã trở thành sáng lập viên của trường phái luận lý học Ba Lan, trường phái giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của luận lý toán học. Alois Meinong (1835-1921) đã phát triển lý thuyết mệnh danh về “những sở tri” (théorie de l’objet) và thiết lập một trường phái riêng nhỏ nhưng có ảnh hưởng. Một trong những môn đệ xuất sắc của Brentano là Edmund Husserl (1859-1938) đã là kiến trúc sư chính yếu của phương pháp hiện tượng học. Phương pháp này chính yếu là ở chỗ phân tích yếu tính (essence) của các dữ kiện, tức hiện tượng đã trở nên phương pháp quảng bá của phân tích triết học, song song với phương pháp toán học, đặc biệt là sau Thế chiến II. Ảnh hưởng quan trọng nhất giữa hiện tượng học và luận lý toán học là sự kiện hiện tượng học hoàn toàn loại bỏ diễn dịch, ít bận tâm đến ngôn ngữ, dù cả điển hình chính Husserl, và không phân tích sự kiện thường nghiệm mà là những yếu tính. Ta cũng nên ghi nhận rằng tác phẩm chính của Meinong, [I]Ueber die Annahmen[/I], xuất hiện năm 1902, và của Husserl, [I]Logische Unterchungen[/I], một trong những tác phẩm ảnh hưởng nhất của tiền bán thế kỷ XX, xuất bản năm 1900-1901. Phương pháp mệnh danh “phân tích” của G. E. Moore (1873) có quan hệ chặt chẽ hơn với phương pháp hiện tượng học. Với Bertrand Russell nó trở thành phân tích của luận lý toán học nhưng ở Moore nó khoác một đặc điểm khác. Trong [I]Principia Ethica[/I] của ông, năm 1903, Moore gần với Meinong ở phương pháp và hình như chính đã chịu ảnh hưởng ông đến một độ nào đó. Meinong cũng đã ảnh hưởng đến Russell trong nhiều lối, trong khi luận lý toán học về sau này mượn Husserl rất nhiều. [B]F. CHỦ NGOẠI LÝ DUY SINH[/B] Trước hết, luận lý toán học và hiện tượng học là những phương pháp chứ không phải những chủ thuyết. Cả hai xuất phát từ sự phản tỉnh trên những nền tảng của các khoa học và cố đem lại cho chúng một nền tảng mới với sự giúp đỡ của phương pháp thuần lý. Lại nữa cả hai lập trường đều là chủ đa nguyên và đều đối lập với khuynh hướng xây dựng hệ thống. Chúng đã lột trần và phá hủy nhiều giản lược hóa quá thô kệch của thế kỷ XIX. Thêm nữa, cả hai lập trường, đều duy thực, ít ra là ở khởi điểm. Trong cả Moore và Husserl biểu lộ một cảm tình nào đó với chủ Platon (Platonisme), trong một hình thức hoàn toàn mới. Nhưng chúng ta hãy lặp lại rằng cả luận lý toán học và cả hiện tượng học, ít ra là trong [I]Principia Mathemathics[/I] và trong [I]Logische Unterchungen[/I], đều không thực sự xây dựng lên những nền triết học. Trong tương phản với những điều này, cùng lúc khởi lên hai phong trào triết học mới về nội dung: chủ ngoại lý duy sinh (irrationalisme vitaliste) và siêu hình học duy thực (métaphysique réaliste) kiểu mới. Một trong những hậu quả của cuộc khủng hoảng tinh thần ở thời đại này là sự bành trướng ngạo nghễ của những khuynh hướng chủ ngoại lý, đặc điểm của cuối thế kỷ. Mặc dù Kant đã từ chối là lý tính không thể đạt đến thế giới đằng sau hiện tượng, ông ta vẫn còn chủ trương rằng thế giới thường nghiệm lệ thuộc những định luật thuần lý, những định luật có thể khám phá được. Phê bình về khoa học và cuộc khủng hoảng ở trong vật lý học hình như chứng tỏ minh nhiên rằng không phải là như vậy, mà đó là vì khái quát thái độ hoài nghi của Kant thành giá trị của lý tính cơ giới (raison mécaniste) của các khoa học; vì vậy, cuộc khủng hoảng khoa học đã tạo ra một khủng hoảng trong chủ lý (rationalisme). Nhưng đấy không phải là nguồn mạch độc nhất của những khuynh hướng mới. Ngược lại, duy nghiệm luận đã giữ một phần trọng yếu trong sự phát triển các khuynh hướng của chúng bắt nguồn từ sự kiện rằng cái nhìn cơ giới của nó về đời sống đã vay mượn hình thức của chủ thuyết Darwin (Darwinisme). Sự mở đầu của thế kỷ XX đã chứng kiến điều quái dị là học thuyết đó với ý tưởng căn bản của nó là cắt nghĩa cái cao hơn từ phương diện thấp hơn, đã chuyển hướng đến những phạm vi tâm lý học và xã hội học. Theo đó, tất cả đời sống hữu thức, gồm cả những khả năng lý luận, đã được giản lược vào những yếu tố thấp nhất của nó và được đặt vào những định luật bản năng về sự tiến hóa, không có gì thường tại, không có gì bất biến, cả những nguyên lý vĩnh cửu, mà chỉ có đà sống thúc đẩy sự tiến hóa của đời sống. Sau hết cũng chính những nguyên nhân đã làm nảy sinh chủ lãng mạn vào đầu thế kỷ XIX bấy giờ được ảnh hưởng của truyền thống củng cố thêm, chúng cũng nhận lãnh một vai trò: quan điểm nhất nguyên luận và tất định luận được khoa học quảng bá trước 1900 rất là chuyên chế đến độ thúc đẩy cảm thấy có nhiệm vụ bảo tồn những quyền năng của sự sống của thế vị con người (persone humaine) và những giá trị tinh thần. Thế lực này xuất hiện một cách bất ngờ và dữ dội với hai triết gia đại diện là James và Bergson đứng đầu phong trào triết học này. Spencer, đại diện kiểu mẫu nhất của duy nghiệm cơ giới, vẫn còn tồn tại khi cả hai xuất hiện hầu như đồng thời [I]Les Données immédiates de la conscience[/I] (1889) và [I]Principles of Psychology[/I](1890) tiếp theo ngay đó: [I]Matière et Memoire[/I] (1896) và [I]The Will to Believe[/I] (1897). Cả hai triết gia này vẫn còn gây ảnh hưởng đến hoàn cảnh chúng ta ngay hiện thời mà chúng ta sẽ bàn đầy đủ hơn (xem những tiết 11 và 12). Thế cũng đủ để ghi nhận ở đây rằng cả hai đều là chủ ngoại lý công khai và lấy khái niệm về sự sống làm chìa khóa cho tư tưởng triết lý của mình. [B]G. SIÊU HÌNH HỌC DUY THỰC TÁI SINH[/B] Cùng lúc, một khuynh hướng khác sâu sắc hơn được kết tinh; chủ duy thực và siêu hình học trở về và lần đầu tiên làm vỡ cái khung những nguyên lý Kant đã chế ngự toàn thể triết học trong một thời gian dài. Khó mà tìm ra những cội rễ về những nguyên nhân sâu xa của chúng, vì những cống hiến của chúng vào siêu hình học rất đồ sộ và xuất hiện từ những góc cạnh khác nhau. Trên đại thể, có thể nói, những nguồn mạch của Kant bắt đầu cạn từ lối 1900; chúng không còn sung mãn nữa, chúng không còn được thỏa mãn nữa, và tư tưởng quay về những giải quyết khác. Khuynh thứ nhất đáng ghi nhớ là hướng đến một [I]chủ duy thực “phê bình”[/I](réalisme “critique”) kiểu mới vẫn chưa bỏ hẳn cái khung của Kant. Alois Riehl (1844-1924) là một trong những đại diện. Trường phái Würzburg cùng đi trên những đường ấy với tốc độ và năng lực lớn hơn; vị tổ của nó là Oswald Küpe (1862-1915) và những đồ đệ của ông gồm một số những tên tuổi xuất sắc. Nhưng sự hồi sinh thực sự của duy thực, giống như phương pháp hiện tượng luận, xuất phát từ Brentano và các môn đệ, đặc biệt là từ Meinong và Husserl. Chắc chắn Husserl không hoàn toàn đi đến duy thực, triết học về thể tính (philosophique de l’être) lại càng ít, nhưng sự kiện ông quay sự chú tâm của mình ra khỏi những vấn đề nhận thức vô hiệu đến sự phân tích về các dữ kiện thì thật là quan trọng vô cùng đối với chủ nghĩa duy thực và siêu hình học cận đại. Ảnh hưởng của Meinong trong chiều hướng này cũng khá hiển nhiên. Ngoài phong trào này, [I]Siêu hình học duy thực[/I] cắm sào trên nhiều chỗ dưới thúc đẩy của nhiều yếu tố tinh thần sai biệt. Thomisme tái sinh vào khoảng 1880 (Giáo lệnh [I]Aeterni patris[/I] ban hành năm 1879) và gây thành một trường phái lớn, mạnh mẽ ngay từ đầu. Năm 1893, tạp chí [I]La Revue Thomiste[/I], cơ quan ở Freiburg và 1894, tờ [I]La Revue Néo-scolastique de Philosophique[/I] ở Louvain. Nó trình bày duy thực trực tiếp và siêu hình học cổ truyền. Tuy nhiên, Thomisme không đứng một mình: ở Anh, G.E.Moore xuất bản tập tiểu luận danh tiếng, [I]The Refutation of Idealism[/I] vào năm 1903 và song song với Bertrand Russell ông ta tiến tới một thứ triết học gần gũi với Platon. Các tư tưởng gia Pháp, Boutroux và Bergson, cả hai ủng hộ duy thực trong nhiều đường lối khác nhau, trong khi ở Đức điển hình chủ yếu là thuyết của Hans Driesch (1867-1941) khởi sắc nhờ chất Aristote của nó. Phong trào duy thực mới này không hoàn thành tính chất phổ biến của chủ ngoại lý nhưng nó có cùng hiệu quả. Siêu hình học, ở thế kỷ XIX chỉ là một phong trào phụ và yếu, trở thành học thuyết chỉ đạo của thời này. [B]H. TRỞ VỀ TƯ BIỆN. ĐA NGUYÊN LUẬN[/B] Đến cuối thế kỷ XIX, triết học suy vi dưới sự đè nặng của chủ nghia thực chứng (positivisme). Có lẽ phần lớn triết gia không dám trình bày tư tưởng của họ, và kết quả là phần lớn các trường đại học bị chế ngự bởi một thứ óc duy lịch sử (historicisme) tự giới hạn trong một bản liệt kê đích xác những học thuyết quá khứ. Một trong những sắc thái nổi bật nhất của thế kỷ XX là sự trở về tư biện có hệ thống (spéculation systematique) xâm nhập trong các trường phái chủ ngoại lý và cũng như siêu hình. Nhưng triệu chứng có ý nghĩa nhất và không thể nhầm lẫn là chắc chắn trở về với đa nguyên luận duy ngã (pluralisme personnaliste). Nếu thế kỷ XIX đã là chủ nhất nguyên trong hầu hết tất cả những biểu lộ của nó, thì trái lại, hầu hết tất cả những phong trào ở cuối thế kỷ đều là chủ đa nguyên. Họ khám phá ra những sai biệt trong nhiều cấp độ khác nhau của thể tính và nhấn mạnh tính chất đa nguyên của những thể tính tự hữu. James đưa ra một biểu lộ cho hình thức cực đoan nhất của đa nguyên luận này bằng cách đi xa đến chỗ bày tỏ cảm tình với đa thần luận. Nó tìm thấy sự tán thưởng hầu như phổ biến trong đôi mắt của các nhà hiện tượng học tân duy thực Anh, và Thomiste. Thế vị con người đang lấy lại những đặc quyền xưa của nó và phút chốc trở thành tâm điểm của hứng khởi triết học từ đó về sau tư tưởng thực sự trở thành quyến rũ với những bận tâm sâu xa về tâm linh. Nếu thế kỷ XIX đã là một thời đại dẫn đầu bởi chủ nhất nguyên và chủ duy vật, thì hiển nhiên từ cuộc khủng hoảng năm 1900 là một thời đại mới chắc chắn được trao lại cho thuyết nhân vị duy tâm (personnalisme spiritualiste) trên một căn bản rộng rãi nhất. Dĩ nhiên những ý tưởng này còn quá xa với những giả định phổ cập vào khoảng 1900; thực vậy, tiền bán thế kỷ dự phòng việc đề ra một lối về với những thể tài thuở xưa. Nhưng những ý tưởng mới đã có đó, đã biểu lộ rồi, và đã được phần lớn các tư tưởng gia Âu châu sau thế chiến I hưởng ứng. Nguồn: J. M. Bochenski. [I]Triết học Tây phương hiện đại[/I]. Tuệ Sỹ dịch. Nxb. Ca Dao, 1969. Phiên bản điện tử do bạn Phạm Tấn Xuân Cao, sinh viên khoa Triết trường Đại học Huế, thực hiện. [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Sự ra đời của triết học cận đại
Top