• Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn Kiến Thức tổng hợp No.1 VNKienThuc.com - Định hướng VN Kiến Thức
    -
    HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN

Nguyễn Trãi (1380 - 1442)

Chị Lan

New member
Nguyễn Trãi (1380 - 1442)

Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, sinh năm 1380 tại kinh thành Thăng Long. Ông vốn ở làng Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời về làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc, xã Sơn Nam Thượng (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây).

Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, hiệu Nhị Khê, nhà thơ xuất sắc cuối Trần đầu Hồ, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) dưới triều Trần, ra làm quan dưới triều Hồ và đổi tên là Nguyễn Phi Khanh.

Mẹ của Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con của Trần Nguyên Đán và là một học trò của Nguyễn Ứng Long.

Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán, hiệu Băng Hồ, dòng dõi tôn thất, nhà thơ và nhà chính trị nổi tiếng, làm tới chức Tư đồ (tể tướng) cuối đời Trần.

Nguyễn Trãi đã sống qua tuổi thơ trong gia đình ông ngoại. Năm 1385, Trần Nguyên Đán về nghỉ hưu ở Côn Sơn, đem cả con gái và cháu ngoại về theo. Được ít lâu, Trần Thị Thái qua đời, khi đó bà chưa đầy 40 tuổi và Nguyễn Trãi lúc đó mới lên 5. Rồi đến năm 1390, Trần Nguyên Đán cũng mất, Nguyễn Trãi phải trở lại nơi quê hương nghèo khó là làng Nhị Khê để sống cùng cha.

Từ nhỏ được nuôi dạy trong nhà ông ngoại, lớn lên lại được theo học với cha, cả cha và ông ngoại đều là những nhà nho uyên bác, Nguyễn Trãi hồi trẻ đã nổi tiếng học giỏi.

Nguyễn Trãi ra đời và lớn lên giữa lúc đất nước rối ren về chính trị và xã hội. Nhà Trần trong thời kỳ suy thoái, ngày một mục nát. Nhân dân điêu đứng, lầm than. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nô tỳ và nông dân nghèo nổ ra liên tiếp. Nhân hoàn cảnh đó, năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, lật đổ nhà Trần và lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu. Lúc này Nguyễn Trãi đã 20 tuổi, ông thi đỗ thái học sinh, khoa thi đầu tiên dưới triều Hồ. Năm 1401 ông được bổ dụng chức Ngự sử đài chánh chưởng. Cùng năm này, Nguyễn Phi Khanh cha ông cũng ra làm quan, nhận chức Hàn lâm học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám.

Nhà Hồ cầm quyền chưa được bao lâu đã phải đương đầu với họa xâm lăng của phong kiến phương Bắc. Tháng 11 năm 1406, đội quân xâm lược của nhà Minh ồ ạt kéo vào. Mặc dù đã có sự chuẩn bị đối phó và không phải không có ý chí chống giặc, song nhà Hồ không chiếm được lòng dân, không huy động được sức mạnh toàn dân chống giặc nên chỉ sau nửa năm, cuộc kháng chiến nhà Hồ đã bị thất bại. Cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều quan chức trong triều bị sa vào tay giặc. Nguyễn Phi Khanh cũng bị giặc bắt và đày đi Trung Quốc.

Theo bước chân tù đày của cha đến ải Nam Quan, Nguyễn Trãi muốn đi tiếp để phụng dưỡng cha dọc đường, nhưng người cha khuyên con hãy quay về “tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu”. Không may trên đường về, Nguyễn Trãi lại bị giặc bắt và bị giam lỏng tại thành Đông Quan. Tại đây ông phải tạm thời im hơi lặng tiếng để che mắt địch, tuy nhiên vẫn chăm chú theo dõi thời cục, nát óc suy tính kế hoạch cứu dân, cứu nước.

Sau khi tìm cách ra khỏi Đông Quan, ông đã trải qua nhiều năm phiêu bạt, qua rất nhiều vùng đất quê hương đã trở nên tiêu điều xơ xác trong hoàn cảnh nước mất nhà tan. Ông thấu hiểu những nỗi cơ cực khốn cùng của nhân dân, chứng kiến những tội ác tầy trời của lũ giặc xâm lăng. Cuối cùng, vượt qua bao nhiêu gian nan vất vả, ông tìm đến được Lam Sơn, kịp có mặt tại hội thề Lũng Nhai do Lê Lợi tổ chức vào năm 1416 để chuẩn bị khởi nghĩa.

Sự nghiệp vinh quang bắt đầu từ đây để đưa ông lên đỉnh cao của thời đại, ông dâng lên Lê Lợi tập Bình Ngô sách trong đó vạch rõ những đường lối, phương châm cơ bản của cuộc chiến tranh chính nghĩa giành độc lập. Ông trở thành nhà tham mưu chiến lược đầy tài năng, giàu nhiệt huyết, giúp Lê Lợi trù tính mọi việc, cùng Lê Lợi và tướng lĩnh nghĩa quân Lam Sơn đưa cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng phát triển ngày càng mạnh mẽ, vững chắc.

Tư tưởng chi phối toàn bộ hoạt động của Nguyễn Trãi là tư tưởng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi nói: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, mà theo Nguyễn Trãi thì yêu cầu đầu tiên của nhân nghĩa là yêu dân, thương dân và giúp dân trừ bạo.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.


Và con đường đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi, chính là con đường:

Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.


Nguyễn Trãi có ý thức rất sâu sắc về sức mạnh to lớn và vai trò quyết định của nhân dân trong lịch sử. Sức mạnh của nhân dân như sức mạnh của nước. Nước có thể đẩy thuyền đi, nhưng cũng có thể lật đổ thuyền. Con đường cứu nhân dân chính là con đường nhân dân tự cứu mình, bằng chính sức mạnh của mình. Bởi vậy Lê Lợi và Nguyễn Trãi luôn luôn nhất quán chủ trương dựa vào dân để đánh giặc.

Giương cao ngọn cờ nhân nghĩa và chiến tranh chính nghĩa, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã tập hợp được đông đảo quần chúng lao khổ trong toàn quốc quy tụ lại, gắn bó mật thiết với nhau để cùng giết giặc, cứu nước.

Dựng gậy làm cờ, tụ hợp bốn phương manh lệ,
Rượu hoà nước lã, dưới trên một dạ cha con.


Chính vì vậy mà suốt quá trình kháng chiến, lực lượng nghĩa quân phát triển không ngừng. Quân tiến tới đâu, dân chúng nô nức đứng lên hưởng ứng tới đấy. Quân dân đoàn kết. Trên dưới một lòng. Càng đánh càng thắng.

Luôn đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến đấu, Nguyễn Trãi từng tham gia trực tiếp chỉ đạo nghĩa quân phá trận, diệt viện, vây thành. Đặc biệt trên mặt trận đấu tranh chính trị - ngoại giao - địch vận mà ông đặc trách, ông đề ra và trực tiếp thực hiện kế hoạch “tâm công” một cách sáng tạo, linh hoạt và rất hiệu nghiệm. “Mưu đánh vào lòng, không chiến mà thắng”, ông thay Lê Lợi viết nhiều thư từ gửi bọn chỉ huy quân Minh, nhằm những đối tượng cụ thể và thời điểm cụ thể mà có đối sách khác nhau. Ông nêu cao chính nghĩa tất thắng của quân dân ta, phân tích bản chất phi nghĩa và nguy cơ bại vong của quân giặc, vạch mặt gian tham, tàn bạo, ngoan cố của chúng, đồng thời chỉ đường sống, mở lối thoát cho chúng. Nhiều bức thư này được các học giả đời sau gom lại dưới cái tên Quân trung từ mệnh tập, một tập thư luận chiến sắc sảo mà có người cho là “có sức mạnh của 10 vạn quân” (Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí).
Nguyễn Trãi còn đích thân đi dụ hàng một số thành. Ông thuyết phục được nhiều tướng giặc ra hàng, trong đó có Thái Phúc, Đô đốc trấn thủ thành Nghệ An, về sau đã giúp nghĩa quân trong việc binh vận. Có lần Nguyễn Trãi đã cùng Thái Phúc đứng dưới chân thành bắc loa kêu gọi bọn chỉ huy ngoan cố ở thành Xương Giang. Khi quân ta, với lực lượng áp đảo, vây hãm thành Đông Quan, sào huyệt lớn của giặc, thì Nguyễn Trãi đã 5 lần đến thương thuyết với Tổng binh Vương Thông, dụ hắn ra hàng. Kết quả là vào ngày 10-12-1427, tại hội thề Đông Quan, Vương Thông với 10 vạn bại quân phải làm lễ cúi đầu nhận tội, xin được khoan hồng và xin thề trước sông núi nước Nam là không chỉ rút nhanh, rút hết mà còn thề sẽ không bao giờ quay trở lại.

Khi đất nước đã sạch bóng quân thù, Nguyễn Trãi vinh dự được viết thay Lê Lợi bản Bình Ngô đại cáo bất hủ. Ông viết bằng cả tâm huyết, tài năng, trí tuệ của mình. Ông viết trong không khí hào hùng của dân tộc chiến thắng, trong khung cảnh hùng tráng của “giang sơn từ nay đổi mới”. Bình Ngô đại cáo được người đời ghi nhận là bản “tuyên ngôn độc lập thứ hai”, là một áng “thiên cổ hùng văn” là bản tổng kết tuyệt vời về lịch sử dân tộc và lịch sử kháng chiến chống Minh. Qua Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nêu cao chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân đạo và niềm tự hào dân tộc, vừa phản ánh sự nghiệp lẫy lừng của Lê Lợi và nghĩa quân, vừa thể hiện tâm hồn khí phách của dân tộc Việt Nam.

Đất nước hồi sinh trong độc lập và thanh bình. Công cuộc xây dựng đất nước có điều kiện tiến triển thuận lợi. Bao năm mong đợi, Nguyễn Trãi đã tưởng nay là lúc có thể mang hết tâm huyết và tài năng làm cho đất nước được phồn vinh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Song tình thế đã diễn ra không như ông mong muốn. Chế độ phong kiến quan liêu được ổn định và củng cố thì nó cũng ngày càng bộc lộ những mặt tiêu cực với những mâu thuẫn không thể giải quyết.
Nghe những lời xiểm nịnh và cũng vì lo bảo vệ vương nghiệp của mình, Lê Thái Tổ đã giết hại khai quốc công thần là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Gần thời điểm này, Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ và bị bắt giam một thời gian.
Từ ngày được tha, Nguyễn Trãi vẫn không được tin dùng. Mặc dù trước đó ông đã được ban họ vua, được phong tước Quan Phục hầu và giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư..., song chức thì cao mà quyền lại không trọng. Ông không thể thi thố tài năng và phải chịu bó tay trước mọi điều ngang tai chướng mắt. Tình hình đó ngày càng xấu đi đối với ông, nhất là từ khi Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông kế ngôi mới hơn 10 tuổi, nhân đó bọn gian thần chấp chính càng được thể lộng hành.

Đã bao lần, ông kiến nghị với vua những kế sách giúp dân, dựng nước nhưng chẳng được vua nghe theo.

Ông muốn triều đình không nên quá nặng về sưu thuế và trừng phạt mà chỉ nên chăm lo sao cho dân được làm ăn và học hành tốt hơn.

Trước cảnh đói khổ của nhân dân, đã có lúc ông nổi giận bảo vào mặt bọn triều thần: “Sở dĩ có tai nạn ấy, chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của dân cho nhiều”.

Về mặt hình phạt, ông không đồng ý một lúc chém bảy tên ăn trộm. Theo ông, nhà vua phải lấy nhân nghĩa làm chính, xây dựng pháp luật và chế độ trên cơ sở tình thương yêu nhân dân.

Một lần ông được vua giao việc soạn nhạc cung đình cùng với Lương Đăng. Lúc đầu ông gắng sức làm, nhưng càng về sau thì giữa hai người càng có những ý kiến bất đồng. Lương Đăng soạn nhạc, thường chỉ hoàn toàn mô phỏng theo nhạc của triều Minh. Còn ông, khi dâng biểu về khánh đá, ông đã nói lên được phần nào quan điểm của mình đối với âm nhạc: “Xin bệ hạ yêu nuôi nhân dân, khiến cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận, than sầu đó là không mất cái gốc của nhạc vậy!”.

Cuối những năm 30 thế kỷ XV, triều đình ngày càng thối nát với sự tranh giành ngày càng dữ dội giữa các phe phái. Những thủ đoạn nham hiểm nhất đã được sử dụng để hãm hại lẫn nhau. Ông cảm thấy ghê sợ trước sự dối trá và độc ác của những con người mà lòng dạ “khó hiểu hơn vực sâu”, miệng nói “sắc nhọn hơn chông mác”.

Cuối cùng, để thoả mãn nguyện vọng cáo quan của ông, và cũng để gạt ông ra khỏi việc nước, triều đình đã thuận cho ông về nghỉ tại Côn Sơn. Ông như người trút được gánh nặng. Từ đây không ai quấy rầy ông nữa: “Trúc có nghìn cây để ngăn khách tục. Bụi không nửa điểm bợn đến căn nhà trên núi”. Tưởng chừng ông rất thanh thản với cuộc sống thanh cao, không vướng bận bụi đời, nhưng sâu thẳm trong ông vẫn là “tấc lòng ưu ái” không bao giờ nguôi trước cuộc sống thực tế đang diễn biến phức tạp trên đất nước yêu quý của mình.

Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.


Vào năm 1439, Lê Thái Tông bấy giờ đã lớn khôn, có ý thức củng cố lại triều đình. Nhà vua xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra nhận lại mọi chức tước cũ, lại phong thêm chức Môn hạ sảnh tả ty Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, Đề cử chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, đặc trách trông coi hai đạo Đông và Bắc. Đầu năm 1442, với danh nghĩa Thừa chỉ Viện hàn lâm kiêm Quốc tử giám, ông được chỉ định vào ban giám khảo khoa thi tiến sĩ đầu tiên dưới thời Lê Thái Tông.

Thực hành những việc được giao, khi ở trong triều, khi đến với quân dân hai đạo, Nguyễn Trãi đã có được một quãng thời gian làm việc với tâm trạng thoải mái hơn. Nhưng chẳng được bao lâu thì tai hoạ bỗng dưng ập đến. Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Phả Lại, Chí Linh, có ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, khi về có Nguyễn Thị Lộ vợ Nguyễn Trãi đi theo xa giá, ngày 7-9-1442 đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh). Vua ngủ lại và mất đột ngột trong đêm hôm đó.

Triều đình lập tức vu cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ âm mưu giết vua. Với bản án tru di tam tộc, chỉ 12 ngày sau đó, ngày 19-9-1442, cả gia đình Nguyễn Trãi đã bị sát hại. Riêng người vợ lẽ là bà Phạm Thị Mẫn may trốn thoát khi đang có mang, sau sinh ra Nguyễn Anh Vũ.

Cái chết bi thảm của Nguyễn Trãi là một bản cáo trạng đối với chế độ quân chủ chuyên chế triều Lê, là hậu quả tất yếu và đầy nghịch lý mà một con người “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá” (Phạm Văn Đồng) phải hứng chịu trong hoàn cảnh đối mặt với những cuộc tranh giành ngôi thứ, bè phái, hãm hại nhau giữa một lũ gian thần nhỏ nhen, độc ác.

Mãi 22 năm sau khi ông qua đời, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông, truy phong chức Đặc tiền kim tử vinh lộc đại phu, tước Tán Trù bá, bổ dụng Nguyễn Anh Vũ con trai ông làm tri huyện và cấp 100 mẫu ruộng dùng vào việc thờ cúng ông. “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (tấm lòng Ức Trai ngời sáng tựa sao Khuê). Nhà vua anh minh đã phát biểu về Nguyễn Trãi như vậy. Năm 1467, nhà vua còn xuống chiếu cho Trần Khắc Kiệm tìm lại các tác phẩm của Nguyễn Trãi. Đến năm 1480, Trần Khắc Kiệm đã hoàn thành sưu tập và đề tựa tập thơ chữ Hán Ức Trai di tập.
Nguyễn Trãi không còn nữa, nhưng tinh thần và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi với non sông đất nước và mãi mãi không phai mờ trong tâm trí của mỗi người Việt Nam.

Ông là người anh hùng vĩ đại trọn đời chiến đấu hy sinh cho dân tộc, nhà chiến lược thiên tài mà công lao to lớn đã góp phần quyết định trong cuộc đánh thắng quân Minh, giải phóng đất nước.

Ông là nhà văn nhà thơ lỗi lạc đã để lại một di sản lớn về văn học với nhiều kiệt tác. Ngoài những tác phẩm nhằm trực tiếp phục vụ cuộc chiến đấu giành độc lập mà tiêu biểu là Quân trung tùy mệnh và Bình Ngô đại cáo, ông còn viết Phú núi Chí Linh và Văn bia Vĩnh Lăng nêu bật công tích của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, viết Dư địa chí, cuốn địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta, v.v. Ông sáng tác hơn 100 bài thơ chữ Hán, hơn 250 bài thơ chữ Nôm về sau được sưu tập thành hai cuốn Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập.

Ông là nhà trí thức uyên bác, tài đức vẹn toàn. Là nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới làm rạng rỡ non sông đất nước.

Ông là tinh hoa dân tộc, tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Ông vươn tới đỉnh cao nhất trong phạm vi thời đại của ông, làm đầy đủ nhất những việc mà người trí thức trong hoàn cảnh của ông có thể làm. Ông hoàn toàn xứng đáng với lòng khâm phục và tự hào của dân tộc.

Theo Danh nhân Hà Nội, Vũ Khiêu, Nxb Hà Nội, 2004, tr285-290​
 
Nguyễn Trãi - nhân tài kiệt xuất của Việt Nam - Những thăng trầm trong cuộc đời

Nguyễn Trãi - nhân tài kiệt xuất của Việt Nam - Những thăng trầm trong cuộc đời

Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, hiệu Nhị Khê, nhà thơ xuất sắc cuối Trần đầu Hồ, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) dưới triều Trần, ra làm quan dưới triều Hồ và đổi tên là Nguyễn Phi Khanh

Mẹ của Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con của Trần Nguyên Đán và là một học trò của Nguyễn Ứng Long.

Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán, hiệu Băng Hồ, dòng dõi tôn thất, nhà thơ và nhà chính trị nổi tiếng, làm tới chức Tư đồ (tể tướng) cuối đời Trần.

Nguyễn Trãi đã sống qua tuổi thơ trong gia đình ông ngoại. Năm 1385, Trần Nguyên Đán về nghỉ hưu ở Côn Sơn, đem cả con gái và cháu ngoại về theo. Được ít lâu, Trần Thị Thái qua đời, khi đó bà chưa đầy 40 tuổi và Nguyễn Trãi lúc đó mới lên 5. Rồi đến năm 1390, Trần Nguyên Đán cũng mất, Nguyễn Trãi phải trở lại nơi quê hương nghèo khó là làng Nhị Khê để sống cùng cha.

Từ nhỏ được nuôi dạy trong nhà ông ngoại, lớn lên lại được theo học với cha, cả cha và ông ngoại đều là những nhà nho uyên bác, Nguyễn Trãi hồi trẻ đã nổi tiếng học giỏi.

Nguyễn Trãi ra đời và lớn lên giữa lúc đất nước rối ren về chính trị và xã hội. Nhà Trần trong thời kỳ suy thoái, ngày một mục nát. Nhân dân điêu đứng, lầm than. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nô tỳ và nông dân nghèo nổ ra liên tiếp. Nhân hoàn cảnh đó, năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, lật đổ nhà Trần và lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu. Lúc này Nguyễn Trãi đã 20 tuổi, ông thi đỗ thái học sinh, khoa thi đầu tiên dưới triều Hồ. Năm 1401 ông được bổ dụng chức Ngự sử đài chánh chưởng. Cùng năm này, Nguyễn Phi Khanh cha ông cũng ra làm quan, nhận chức Hàn lâm học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám.

Nhà Hồ cầm quyền chưa được bao lâu đã phải đương đầu với họa xâm lăng của phong kiến phương Bắc. Tháng 11 năm 1406, đội quân xâm lược của nhà Minh ồ ạt kéo vào. Mặc dù đã có sự chuẩn bị đối phó và không phải không có ý chí chống giặc, song nhà Hồ không chiếm được lòng dân, không huy động được sức mạnh toàn dân chống giặc nên chỉ sau nửa năm, cuộc kháng chiến nhà Hồ đã bị thất bại. Cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều quan chức trong triều bị sa vào tay giặc. Nguyễn Phi Khanh cũng bị giặc bắt và đày đi Trung Quốc.

Theo bước chân tù đày của cha đến ải Nam Quan, Nguyễn Trãi muốn đi tiếp để phụng dưỡng cha dọc đường, nhưng người cha khuyên con hãy quay về “tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu”. Không may trên đường về, Nguyễn Trãi lại bị giặc bắt và bị giam lỏng tại thành Đông Quan. Tại đây ông phải tạm thời im hơi lặng tiếng để che mắt địch, tuy nhiên vẫn chăm chú theo dõi thời cục, nát óc suy tính kế hoạch cứu dân, cứu nước.

Sau khi tìm cách ra khỏi Đông Quan, ông đã trải qua nhiều năm phiêu bạt, qua rất nhiều vùng đất quê hương đã trở nên tiêu điều xơ xác trong hoàn cảnh nước mất nhà tan. Ông thấu hiểu những nỗi cơ cực khốn cùng của nhân dân, chứng kiến những tội ác tầy trời của lũ giặc xâm lăng. Cuối cùng, vượt qua bao nhiêu gian nan vất vả, ông tìm đến được Lam Sơn, kịp có mặt tại hội thề Lũng Nhai do Lê Lợi tổ chức vào năm 1416 để chuẩn bị khởi nghĩa.

Sự nghiệp vinh quang bắt đầu từ đây để đưa ông lên đỉnh cao của thời đại, ông dâng lên Lê Lợi tập Bình Ngô sách trong đó vạch rõ những đường lối, phương châm cơ bản của cuộc chiến tranh chính nghĩa giành độc lập. Ông trở thành nhà tham mưu chiến lược đầy tài năng, giàu nhiệt huyết, giúp Lê Lợi trù tính mọi việc, cùng Lê Lợi và tướng lĩnh nghĩa quân Lam Sơn đưa cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng phát triển ngày càng mạnh mẽ, vững chắc.

Tư tưởng chi phối toàn bộ hoạt động của Nguyễn Trãi là tư tưởng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi nói: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, mà theo Nguyễn Trãi thì yêu cầu đầu tiên của nhân nghĩa là yêu dân, thương dân và giúp dân trừ bạo.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.


Và con đường đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi, chính là con đường:

Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.


Nguyễn Trãi có ý thức rất sâu sắc về sức mạnh to lớn và vai trò quyết định của nhân dân trong lịch sử. Sức mạnh của nhân dân như sức mạnh của nước. Nước có thể đẩy thuyền đi, nhưng cũng có thể lật đổ thuyền. Con đường cứu nhân dân chính là con đường nhân dân tự cứu mình, bằng chính sức mạnh của mình. Bởi vậy Lê Lợi và Nguyễn Trãi luôn luôn nhất quán chủ trương dựa vào dân để đánh giặc.

Giương cao ngọn cờ nhân nghĩa và chiến tranh chính nghĩa, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã tập hợp được đông đảo quần chúng lao khổ trong toàn quốc quy tụ lại, gắn bó mật thiết với nhau để cùng giết giặc, cứu nước.

Dựng gậy làm cờ, tụ hợp bốn phương manh lệ,
Rượu hoà nước lã, dưới trên một dạ cha con.


Chính vì vậy mà suốt quá trình kháng chiến, lực lượng nghĩa quân phát triển không ngừng. Quân tiến tới đâu, dân chúng nô nức đứng lên hưởng ứng tới đấy. Quân dân đoàn kết. Trên dưới một lòng. Càng đánh càng thắng.

Luôn đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến đấu, Nguyễn Trãi từng tham gia trực tiếp chỉ đạo nghĩa quân phá trận, diệt viện, vây thành. Đặc biệt trên mặt trận đấu tranh chính trị - ngoại giao - địch vận mà ông đặc trách, ông đề ra và trực tiếp thực hiện kế hoạch “tâm công” một cách sáng tạo, linh hoạt và rất hiệu nghiệm. “Mưu đánh vào lòng, không chiến mà thắng”, ông thay Lê Lợi viết nhiều thư từ gửi bọn chỉ huy quân Minh, nhằm những đối tượng cụ thể và thời điểm cụ thể mà có đối sách khác nhau. Ông nêu cao chính nghĩa tất thắng của quân dân ta, phân tích bản chất phi nghĩa và nguy cơ bại vong của quân giặc, vạch mặt gian tham, tàn bạo, ngoan cố của chúng, đồng thời chỉ đường sống, mở lối thoát cho chúng. Nhiều bức thư này được các học giả đời sau gom lại dưới cái tên Quân trung từ mệnh tập, một tập thư luận chiến sắc sảo mà có người cho là “có sức mạnh của 10 vạn quân” (Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí).
Nguyễn Trãi còn đích thân đi dụ hàng một số thành. Ông thuyết phục được nhiều tướng giặc ra hàng, trong đó có Thái Phúc, Đô đốc trấn thủ thành Nghệ An, về sau đã giúp nghĩa quân trong việc binh vận. Có lần Nguyễn Trãi đã cùng Thái Phúc đứng dưới chân thành bắc loa kêu gọi bọn chỉ huy ngoan cố ở thành Xương Giang. Khi quân ta, với lực lượng áp đảo, vây hãm thành Đông Quan, sào huyệt lớn của giặc, thì Nguyễn Trãi đã 5 lần đến thương thuyết với Tổng binh Vương Thông, dụ hắn ra hàng. Kết quả là vào ngày 10-12-1427, tại hội thề Đông Quan, Vương Thông với 10 vạn bại quân phải làm lễ cúi đầu nhận tội, xin được khoan hồng và xin thề trước sông núi nước Nam là không chỉ rút nhanh, rút hết mà còn thề sẽ không bao giờ quay trở lại.

Khi đất nước đã sạch bóng quân thù, Nguyễn Trãi vinh dự được viết thay Lê Lợi bản Bình Ngô đại cáo bất hủ. Ông viết bằng cả tâm huyết, tài năng, trí tuệ của mình. Ông viết trong không khí hào hùng của dân tộc chiến thắng, trong khung cảnh hùng tráng của “giang sơn từ nay đổi mới”. Bình Ngô đại cáo được người đời ghi nhận là bản “tuyên ngôn độc lập thứ hai”, là một áng “thiên cổ hùng văn” là bản tổng kết tuyệt vời về lịch sử dân tộc và lịch sử kháng chiến chống Minh. Qua Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nêu cao chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân đạo và niềm tự hào dân tộc, vừa phản ánh sự nghiệp lẫy lừng của Lê Lợi và nghĩa quân, vừa thể hiện tâm hồn khí phách của dân tộc Việt Nam.

Đất nước hồi sinh trong độc lập và thanh bình. Công cuộc xây dựng đất nước có điều kiện tiến triển thuận lợi. Bao năm mong đợi, Nguyễn Trãi đã tưởng nay là lúc có thể mang hết tâm huyết và tài năng làm cho đất nước được phồn vinh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Song tình thế đã diễn ra không như ông mong muốn. Chế độ phong kiến quan liêu được ổn định và củng cố thì nó cũng ngày càng bộc lộ những mặt tiêu cực với những mâu thuẫn không thể giải quyết.
Nghe những lời xiểm nịnh và cũng vì lo bảo vệ vương nghiệp của mình, Lê Thái Tổ đã giết hại khai quốc công thần là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Gần thời điểm này, Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ và bị bắt giam một thời gian.
Từ ngày được tha, Nguyễn Trãi vẫn không được tin dùng. Mặc dù trước đó ông đã được ban họ vua, được phong tước Quan Phục hầu và giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư..., song chức thì cao mà quyền lại không trọng. Ông không thể thi thố tài năng và phải chịu bó tay trước mọi điều ngang tai chướng mắt. Tình hình đó ngày càng xấu đi đối với ông, nhất là từ khi Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông kế ngôi mới hơn 10 tuổi, nhân đó bọn gian thần chấp chính càng được thể lộng hành.

Đã bao lần, ông kiến nghị với vua những kế sách giúp dân, dựng nước nhưng chẳng được vua nghe theo.

Ông muốn triều đình không nên quá nặng về sưu thuế và trừng phạt mà chỉ nên chăm lo sao cho dân được làm ăn và học hành tốt hơn.

Trước cảnh đói khổ của nhân dân, đã có lúc ông nổi giận bảo vào mặt bọn triều thần: “Sở dĩ có tai nạn ấy, chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của dân cho nhiều”.

Về mặt hình phạt, ông không đồng ý một lúc chém bảy tên ăn trộm. Theo ông, nhà vua phải lấy nhân nghĩa làm chính, xây dựng pháp luật và chế độ trên cơ sở tình thương yêu nhân dân.

Một lần ông được vua giao việc soạn nhạc cung đình cùng với Lương Đăng. Lúc đầu ông gắng sức làm, nhưng càng về sau thì giữa hai người càng có những ý kiến bất đồng. Lương Đăng soạn nhạc, thường chỉ hoàn toàn mô phỏng theo nhạc của triều Minh. Còn ông, khi dâng biểu về khánh đá, ông đã nói lên được phần nào quan điểm của mình đối với âm nhạc: “Xin bệ hạ yêu nuôi nhân dân, khiến cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận, than sầu đó là không mất cái gốc của nhạc vậy!”.

Cuối những năm 30 thế kỷ XV, triều đình ngày càng thối nát với sự tranh giành ngày càng dữ dội giữa các phe phái. Những thủ đoạn nham hiểm nhất đã được sử dụng để hãm hại lẫn nhau. Ông cảm thấy ghê sợ trước sự dối trá và độc ác của những con người mà lòng dạ “khó hiểu hơn vực sâu”, miệng nói “sắc nhọn hơn chông mác”.

Cuối cùng, để thoả mãn nguyện vọng cáo quan của ông, và cũng để gạt ông ra khỏi việc nước, triều đình đã thuận cho ông về nghỉ tại Côn Sơn. Ông như người trút được gánh nặng. Từ đây không ai quấy rầy ông nữa: “Trúc có nghìn cây để ngăn khách tục. Bụi không nửa điểm bợn đến căn nhà trên núi”. Tưởng chừng ông rất thanh thản với cuộc sống thanh cao, không vướng bận bụi đời, nhưng sâu thẳm trong ông vẫn là “tấc lòng ưu ái” không bao giờ nguôi trước cuộc sống thực tế đang diễn biến phức tạp trên đất nước yêu quý của mình.

Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.


Vào năm 1439, Lê Thái Tông bấy giờ đã lớn khôn, có ý thức củng cố lại triều đình. Nhà vua xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra nhận lại mọi chức tước cũ, lại phong thêm chức Môn hạ sảnh tả ty Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, Đề cử chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, đặc trách trông coi hai đạo Đông và Bắc. Đầu năm 1442, với danh nghĩa Thừa chỉ Viện hàn lâm kiêm Quốc tử giám, ông được chỉ định vào ban giám khảo khoa thi tiến sĩ đầu tiên dưới thời Lê Thái Tông.
Thực hành những việc được giao, khi ở trong triều, khi đến với quân dân hai đạo, Nguyễn Trãi đã có được một quãng thời gian làm việc với tâm trạng thoải mái hơn. Nhưng chẳng được bao lâu thì tai hoạ bỗng dưng ập đến. Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Phả Lại, Chí Linh, có ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, khi về có Nguyễn Thị Lộ vợ Nguyễn Trãi đi theo xa giá, ngày 7-9-1442 đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh). Vua ngủ lại và mất đột ngột trong đêm hôm đó.

Triều đình lập tức vu cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ âm mưu giết vua. Với bản án tru di tam tộc, chỉ 12 ngày sau đó, ngày 19-9-1442, cả gia đình Nguyễn Trãi đã bị sát hại. Riêng người vợ lẽ là bà Phạm Thị Mẫn may trốn thoát khi đang có mang, sau sinh ra Nguyễn Anh Vũ.

Cái chết bi thảm của Nguyễn Trãi là một bản cáo trạng đối với chế độ quân chủ chuyên chế triều Lê, là hậu quả tất yếu và đầy nghịch lý mà một con người “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá” (Phạm Văn Đồng) phải hứng chịu trong hoàn cảnh đối mặt với những cuộc tranh giành ngôi thứ, bè phái, hãm hại nhau giữa một lũ gian thần nhỏ nhen, độc ác.

Mãi 22 năm sau khi ông qua đời, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông, truy phong chức Đặc tiền kim tử vinh lộc đại phu, tước Tán Trù bá, bổ dụng Nguyễn Anh Vũ con trai ông làm tri huyện và cấp 100 mẫu ruộng dùng vào việc thờ cúng ông. “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (tấm lòng Ức Trai ngời sáng tựa sao Khuê). Nhà vua anh minh đã phát biểu về Nguyễn Trãi như vậy. Năm 1467, nhà vua còn xuống chiếu cho Trần Khắc Kiệm tìm lại các tác phẩm của Nguyễn Trãi. Đến năm 1480, Trần Khắc Kiệm đã hoàn thành sưu tập và đề tựa tập thơ chữ Hán Ức Trai di tập.
Nguyễn Trãi không còn nữa, nhưng tinh thần và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi với non sông đất nước và mãi mãi không phai mờ trong tâm trí của mỗi người Việt Nam.

Ông là người anh hùng vĩ đại trọn đời chiến đấu hy sinh cho dân tộc, nhà chiến lược thiên tài mà công lao to lớn đã góp phần quyết định trong cuộc đánh thắng quân Minh, giải phóng đất nước.

Ông là nhà văn nhà thơ lỗi lạc đã để lại một di sản lớn về văn học với nhiều kiệt tác. Ngoài những tác phẩm nhằm trực tiếp phục vụ cuộc chiến đấu giành độc lập mà tiêu biểu là Quân trung tùy mệnh và Bình Ngô đại cáo, ông còn viết Phú núi Chí Linh và Văn bia Vĩnh Lăng nêu bật công tích của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, viết Dư địa chí, cuốn địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta, v.v. Ông sáng tác hơn 100 bài thơ chữ Hán, hơn 250 bài thơ chữ Nôm về sau được sưu tập thành hai cuốn Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập.

Ông là nhà trí thức uyên bác, tài đức vẹn toàn. Là nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới làm rạng rỡ non sông đất nước.

Ông là tinh hoa dân tộc, tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Ông vươn tới đỉnh cao nhất trong phạm vi thời đại của ông, làm đầy đủ nhất những việc mà người trí thức trong hoàn cảnh của ông có thể làm. Ông hoàn toàn xứng đáng với lòng khâm phục và tự hào của dân tộc.

Theo Danh nhân Hà Nội, Vũ Khiêu, Nxb Hà Nội, 2004, tr285-290.​
 
Nguyễn Trãi (1380-1442), 560 năm sau vụ án Lệ Chi viên

Nguyễn Trãi (1380-1442), 560 năm sau vụ án Lệ Chi viên

1. Nguyễn Trãi sinh năm 1380, lớn lên trong 20 năm cuối thế kỷ XIV và dấn thân vào các hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội trong gần nửa đầu thế kỷ XV. Ðó là một thời kỳ đầy biến động và thử thách của đất nước. Khởi nghĩa của nông nô, nông dân nghèo bùng nổ, triều Trần suy đồi rồi sụp đổ. Triều Hồ thành lập đang tiến hành một loạt cải cách về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hôị theo hướng tiến bộ nhằm đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng cuối đời Trần, củng cố chế độ quân chủ tập quyền. Giữa lúc đó, nhà Minh vào lúc cường thịnh dưới triều Minh Thành Tổ (1403-1424), đang ráo riết thực hiện một kế hoạch bành trưởng mở rộng ảnh hưởng xuống vùng Ðông Nam Á và Nam Á. Nhà hàng hải nổi tiếng Trịnh Hoà (1371-1434) được lệnh chuẩn bị một hạm đội mạnh, tổ chức những cuộc vượt biển xuống vùng này nhằm "chiêu dụ" các nước "thần phục" và triều cống "Thiên triều" theo phương thức "tuyên chiếu Thiên tử, ban cấp cho quân trưởng, không phục thì dùng vũ lực uy hiếp" (Minh sử, Q. 304, tờ 3a). Ðó là một phương thức bành trướng mà nhà Trung Quốc học người Pháp nhận xét là "họ không tiến hành những cuộc chinh phục đơn thuần nhằm bóc lột kinh tế mà buộc phải thừa nhận sức mạnh và đặc quyền của đế chế Minh ở Ðông Nam Á và ấn Ðộ Dương" (Jacques Gernet: Le monde chinois, Paris 1972, tr. 347). Hạm đội Trịnh Hoà đã qua các nước vùng Ðông Nam á, sang ấn Ðộ, các nước Rập, xuống tận Somalie ở Ðông Phi. Sau 7 lần vượt biển trong 28 năm (1405-1433), Trịnh Hoà đã chiêu dụ được, theo Minh sử, 30 nước về thần phục triều Minh. Ðiều đáng lưu ý là nước Ðại Việt ở sát Ðại Minh lại không nằm trong phạm vi hoạt động của hạm đội Trịnh Hoà. Do vị trí chiến lược trọng yếu của nước ta đối với khu vực Ðông Nam á, nhà Minh đã trù hoạch một kế hoạch riêng nhằm khuất phục và xâm lược Ðại Việt. Sau nhiều lần phái sứ sang đe doạ dụ dỗ không có hiệu quả, nhà Minh đã sắp đặt một cuộc vũ trang xâm lược đại qui mô. Cuối năm 1406 nhà Minh huy động 80 vạn quân, trong đó có 21 vạn quân chủ lực tinh nhuệ. Sau nửa năm chiến đấu, cuộc kháng chiến chống Minh do triều Hồ lãnh đạo bị thất bại và đất nước bị nhà Minh đô hộ trong 20 năm (1407-1427). Chiến thắng này của nhà Minh đã gây chấn động khắp Ðông Nam á, hỗ trợ nhiều cho kế hoạch của Trịnh Hoà như Minh sử nhận xét: " Lúc bấy giờ Giao Chỉ đã bị phá và bị diệt, chia đất làm quận huyện, các nước bị chấn động nhiều nên đến triều cống ngày càng đông" (Minh sử Q. 304, tờ 3b)

Nguyễn Trãi đỗ Tiến sĩ trong khoa thi hội đầu tiên của triều Hồ (1400) và hai cha con cùng tham gia chính quyền nhà Hồ. Cha là Nguyễn Phi Khanh giữ chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, Nguyễn Trãi làm Ngự sử đài chánh chưởng. Tuy là cháu ngoại của một đại quý tộc Trần, nhưng Nguyễn Trãi không giữ thái độ chống đối mà còn hợp tác với chính quyền mới, hẳn ông hi vọng ở triều Hồ có thể mở ra một hướng phát triển mới cho đất nước. Nhưng rồi quân Minh xâm lược, nhà Hồ thất bại, đất nước lâm vào hoạ diệt vong trước nguy cơ đồng hoá mà nhà sử học đương thời là Ngô Sĩ Liên đã nhận xét: "Xét những cuộc loạn trong cõi nước Việt ta, chưa bao giờ tột cùng như lúc này...Hơn 20 năm, thay đổi phong tục nước ta theo tóc dài, răng trắng, biến người nước ta thành người Ngô cả. Than ôi, hoạ loạn tột cùng đến thế ư!" (Ðại Việt sử ký toàn thư, Q.10, tờ 53a). Gia đình Nguyễn Trãi cũng tan nát, cha bị đày sang Trung Quốc, bản thân ông bị giam lỏng trong thành Ðông Quan.

Tất cả những biến cố đó đã tác động sâu sắc vào nhận thức, tư tưởng của Nguyễn Trãi, thôi thúc ông suy tư ngẫm nghĩ, tìm ra những lý do sâu xa của những sự kiện mang tính nghịch lý của lịch sử và rút ra những bài học bổ ích cho công cuộc cứu nước. Nhà Hồ là một vương triều tiến bộ, Hồ Quý Ly và những người đứng đầu đất nước lúc đó đều là những người yêu nước, có tinh thần dân tộc, trước sau chủ trương kiên quyết đánh giặc và có gần 6 năm để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Nhà Hồ lại có quân đội đông, vũ khí tốt và một hệ thống phong tuyến xây dựng công phu. Thế mà chỉ nửa năm, cuộc kháng chiến thất bại đau xót, cơ nghiệp nhà Hồ tan vỡ.

Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỷ thiên niên.
(Hoạ phúc gây mầm không một chốc,
Anh hùng để hận mấy nghìn năm)


Với một tri thức uyên bác, một phương pháp tư duy sắc sảo, Nguyễn Trãi đã tìm ra câu trả lời

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm gian thiết toả diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ.
(Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,
Khóa sông xích sắt cũng vầy thôi,
Lật thuyền mới rõ dân như nước)


Và do "trải nhiều biến thì mưu kế sâu, tính việc xa thì thành công lạ" (Phú núi Chí Linh) và "ngẫm nay suy trước xét cùng mọi lẽ hưng vong" (Bình Ngô đại cáo), Nguyễn Trãi đã đúc rút các bài học thành bại của lịch sử, cố tìm ra con đường và phương thức cứu nước cho dân tộc. Sau khi thoát khỏi thành Ðông Quan, ông đã ẩn náu ở Côn Sơn rồi bôn ba qua nhiều nơi của đất nước trong cảnh "thập niên phiêu chuyển thán bồng bình" (mười năm xiêu dạt thân như cánh bèo, cỏ bồng) và theo một số bài thơ còn lưu lại trong ức Trai di tập thì hình như ông sang cả Trung Quốc, từ Quảng Ðông, Quảng Tây, lên Giang Tây, An Huy rồi trở về nước. Ðáng lưu ý là lúc bấy giờ khắp nơi trong nước đang bùng lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống Minh, lớn nhất là khởi nghĩa của Giản Ðịnh đế Trần Ngỗi (1407-1409), Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng (1409-1413) do những quý tộc Trần lãnh đạo mà thư tịch cổ gọi là nhà Hậu Trần, nhưng Nguyễn Trãi không tham gia.

Người minh chủ mà Nguyễn Trãi tìm kiếm và gửi gắm niềm tin của mình là Lê Lợi, một hào trưởng đất Lam Sơn, một người yêu nứớc xuất thân thứ dân, không có bằng cấp, quan tước, nhưng có tài cao chí cả và uy tín, ảnh hưởng rộng lớn khắp vùng. Những tài liệu phát hiện càng ngày càng xác nhận Nguyễn Trãi đã có mặt trong Hội thề Lũng Nhai năm 1416 khi Lê Lợi cùng 18 người bạn tâm huyết nhất nguyện sống chết có nhau mưu cầu sự nghiệp cứu nước cứu dân. Sau hội thề, Nguyễn Trãi lại tiếp tục chu du qua nhiều nơi rồi mới trở lại Lam Sơn. Trong lần gặp ở Lỗi Giang, Nguyễn Trãi đã dâng lên Lê Lợi tập Bình Ngô sách vạch ra "ba kế sách dẹp giặc Ngô" (Lê Quý Ðôn: Toàn Việt thi lục, Q.7) mà tư tưởng chủ yếu là "tâm công" có nghĩa là đánh vào lòng người bao hàm cả vận động đòan kết toàn dân đánh giặc và kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, chính trị, địch vận. Từ đó, Nguyễn Trãi luôn luôn có mặt bên cạnh Bình Ðịnh Vương Lê Lợi từ khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Lam Sơn cho đến khi kết thúc thắng lợi bằng Hội thề Ðông Quan. Nguyễn Trãi tìm thấy ở Lê Lợi một vị minh chủ có dủ tài đức đưa sự nghiệp giải phong đất nước đến thắng lợi, và Lê Lợi cũng coi Nguyễn Trãi như một "mưu sĩ" (Quân trung từ mệnh tập), "nói tất nghe mà kế tất theo" (Biểu tạ ơn). Lê Tháng Tông cũng nhìn nhận Nguyễn Trãi là người "giúp việc trù hoạch mưu lược ở nơi màn trướng" (Quỳnh uyển cửu ca).
Trong sự nghiệp bình Ngô, Nguyễn Trãi giữ vai trò quan trọng và có nhiều cống hiến lớn lao trong việc đề ra đường lới cứu nước, khắc phục những sai lầm của triều Hồ và các cuộc khởi nghĩa khác, phò tá Lê Lợi trong trù hoạch mưu lược đưa cuộc khởi nghĩa phát triển thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mang tính nhân dân sâu rộng trên qui mô cả nước. Nguyễn Trãi còn được Lê Lợi giao cho trọng trách tổ chức và chỉ đạo cuộc đấu tranh địch vận "ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất" (ta đánh bằng mưu nên đánh vào lòng người khiến không đánh mà chúng phải khuất phục). Vào giai đoạn kết thúc chiến tranh, Nguyễn Trãi là người đảm đương cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao nhằm phát huy những thắng lợi quân sự để sớm chấm dứt chiến tranh "sửa hoà hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh" và có lúc "miệng hổ lăn minh, quyết nghị hoà để hai nước can qua đều khỏi". Ông là người soạn thảo Văn hội thề Ðông Quan và viết bài Bình Ngô đại cáo, một bản tuyên ngôn độc lập bất hủ, một tổng kết tuyệt vời về cuộc chiến tranh bình Ngô và toàn bộ lịch sử Việt Nam cho đến lúc đó.

Với vai trò và những cống hiến lớn lao trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã trở thành một anh hùng cứư nước. Ông hoàn toàn toại nguyện khi thấy nước Ðại Việt lại hổi sinh trong độc lập và thanh bình với biết bao ước vọng "để mở nền muôn thuở thái bình", " bốn bể phẳng lặng, sạch hết đục nhơ, tuyên bố mệnh duy tân khắp nước" (Bình Ngô đại cáo).

2. Dưới triều Lê mà vị vua khai sáng là anh hùng Lam Sơn Lê Lợi tức Lê Thái Tổ (1428-1433), Nguyễn Trãi lại hăm hở mong đem tài sức ra phò vua, giúp dân, dựng nước. Nhưng từ đây, lý tưởng xây dựng đất nước của ông gặp rất nhiều khó khăn. Triều Lê thành lập sau thắng lợi của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nên buổi đầu trọng võ hơn văn. Nguyễn Trãi được phong tước Quan phục hầu, giữ chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư bộ Lại, kiêm coi công việc Viện khu mật, có lúc giữ chức Trung thư, coi việc Môn hạ sảnh và Tam quán. Trong hàng ngũ văn quan, cương vị của ông khá cao, nhưng triều Lê bị các võ quan chi phối và ông không thể thi thố hết tài năng. Giữa các võ quan cũng hình thành các thế lực theo quan hệ địa phương hoặc thân thuộc. Vua Lê Thái Tổ có nhiều cố gắng trong xây dựng triều chính và phục hưng đất nước, nhưng bản thân nhà vua cũng không khống chế được các thế lực võ quan, lại nghi kỵ một số công thần khai quốc có uy tín lớn. Năm 1429 nhà vua ra lệnh bắt Trần Nguyên Hãn khiến ông phải tự sát. Năm 1430 lại giết hại Phạm Văn Xảo. Nguyễn Trãi cũng bị nghi ngờ và bị hạ ngục. Sau đó,ông được tha và trong bài thơ Oan thán, ông đã thổ lộ nỗi u uất của mình:

Hư danh thực hoạ thù kham tiếu,
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
(Danh hư thực họa nên cười quá,
Bao kẻ dèm pha xót người trung)


Cũng do thái độ nghi kỵ và hành động sát hại công thần của Lê Thái Tổ, một số đại thần cương trực đã từ quan xin về quê ẩn dật trong đó có Nguyễn Tuấn Thiện vốn là người em kết nghĩa của Bình Ðịnh Vương thời khởi nghĩa, đã từng giữ chức Ðô tổng quản, Thái bảo quận công và Bế Khắc Thiệu là người tham gia phái bộ Bình Ðịnh Vương trong Hội thề Ðông Quan cuối năm 1427. Nguyễn Trãi chứng kiến tất cả những bi kịch cung đình đó, nhưng hoàn toàn bất lực và gần như bị vô hiệu hoá.

Khi Lê Thái Tông(1433-1442) lên nối ngôi mới 10 tuổi. Trong cương vị giúp rập nhà vua trẻ tuổi, Nguyễn Trãi tận dụng mọi cơ hội để hướng nhà vua vào mục tiêu xây dựng một đất nước cường thịnh, chăm lo đến cuộc sống của muôn dân.
Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi khuyên nhà vua: "Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than" (Ðại Việt sử ký toàn thư, Q. 11, tờ 36a). Năm 1335, ông soạn Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước. Vua Lê Thái Tông mới 12 tuổi mà đã phê vào sách: "Than ôi, đức Thánh Tổ ta (Lê Lợi) kinh dinh bốn phương, dấu chân đi khắp thiên hạ, quạt gió uống mưa, nằm tròng gối giáo, thật cũng gian nan thay! Thu góp non sông để giao phó cho ta, thật cũng lớn lao thay! Tiên sinh giúp đức Thần khảo ta thay trời làm việc, sánh được với Thượng đế. Ðến sách này lại muốn bắt chước như đời Ngu, đời hạ. Khuyên chớ bỏ ta, dẫn ta tiến đến như Nghiêu, Thuấn, thật cũng lớn lao kỳ vĩ thay!". Nguyễn Trãi cảm động và phấn khởi tâu: " Nhà vua nói như thế, thật là sự may mắn cho nước nhà vậy." (Dư địa chí trong Nguyễn Trãi toàn tập, Hà Nội 1976, tr. 245). Nhưng lợi dụng nhà vua còn ít tuổi, bọn quyền thần càng lũng đoạn triều chính, bọn quan lại xu nịnh, tham nhũng càng ra sức hoành hành. Nguyễn Trãi đã đấu tranh quyết liệt với bọn chúng, nhưng điều trớ trêu, đau đớn là trong cuộc đấu tranh đó, chân lý thuộc về Nguyễn Trãi nhưng quyền lực lại trong tay bọn quyền thần và ông hoàn toàn bị cô lập. Ðây là những năm tháng đau buồn nhất của Nguyễn Trãi mà nhiều lúc đã bộc lộ trong những câu thơ nôm chua chát:

Ðã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,
Cho hay đường lợi cực quuanh co.

Hay:

Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui (chỉ) một lòng người cực hiểm thay.


Chán nản đến thất vọng, Nguyễn Trãi đành phải từ quan về sống ẩn dật tại Côn Sơn, giữa núi non hùng vĩ của đất trời với biết bao kỷ niệm của thời thơ ấu khi sống với ông ngoại Trần Nguyên Ðán, nơi náu mình trên đường cứu nước thời Minh thuộc. Nguyễn Trãi cố gắng vui với thơ ca, với non nước, với cuộc sống thanh bạch, an nhàn. Nhưng với một con người nặng lòng yêu nước thương dân tha thiết, nuôi lý tưởng đuổi giặc cứu nước để xây dựng một quốc gia độc lập và giàu mạnh, để thực thi tư tưởng nhân nghĩa đưa lại thanh bình và yên vui cho mọi người, một con người giàu nghị lực và ý chí như Nguyễn Trãi thì ẩn dật đâu phải lẽ sống của ông. Vì vậy khi nhà vua trưởng thành, bắt đầu nắm triều chính, trừng phạt một số quyền thần, năm 1439 mời Nguyễn Trãi trở lại giữ chức vụ trong triều. Tuy đã tuổi 60, ông vẫn hăm hở đem tài sức ra cống hiến cho đất nước với niềm hi vọng:

Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi,
Cho thần như qua năm rét, càng dạn tuyết sương.
Quần môn mặc kệ dèm pha,
Thánh ý cư bền tín nhiệm
(Biểu tạ ơn)


Nguyễn Trãi lại đảm nhiệm chức vụ cũ, kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Ðông, Bắc (cả nước chia làm 5 đạo). Ðó là những chức vụ quan trọng mở ra khả năng cho phép Nguyễn Trãi thực hiện hoài bão dựng nứơc của mình. Nhưng chỉ 3 năm sau, một tai hoạ khủng khiếp xẩy ra dẫn đến cái chết bi thảm của Nguyễn Trãi. Nhân vua Lê Thái Tông sau khi duyệt binh ở Chí Linh, ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn và trên đường trở về kinh bị từ trần đột ngột ở Lệ Chi Viên, bọn quyền thần dựng lên một vụ án kết tội ông cùng vợ là Nguyễn Thị Lộ đã ám hại nhà vua. Ngày16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (19-9-1442), Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Thị Lộ và nhiều người thân thuộc bị hành quyết tại pháp trường Thăng Long.

3. 560 năm đã trôi qua kể từ thảm kịch đó. Chính sử triều Lê dĩ nhiên chép theo quan điểm chính thống, kết tội Nguyễn Thị Lộ đã "giết vua" và Nguyễn Trãi phải liên luỵ, kèm theo Lời bàn :"Nữ sắc làm hại người ta quá lắm. Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái Tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?" (Ðại Việt sử ký toàn thư Q. XI, tờ 56a).

Sau đó không bao lâu, vua Lê Nhân Tông (1443-1459) đã khẳng định lại công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi: "Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng" (Nguyễn Trãi toàn tập, đd, tr. 246). Nhưng không rõ vì lý do gì, nhà vua vẫn chưa minh oan cho ông.

Phải đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) mới chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi, ca ngợi "ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" (tấm lòng ức Trai sáng như sao Khuê), truy tặng tước Tán Trù bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan, năm 1467 ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Chưa rõ vì những uẩn khúc gì mà một vị vua được coi là anh minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần sáng lập vương triều Lê, một người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con nhà vua lúc gian nan thủa hàn vi, mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn tước hầu vốn được Lê Thái Tổ ban phong. Còn nhiều điều bí ẩn bị che đẩy đằng sau vụ án oan khốc và bi thảm này.

Trong mấy thế kỷ qua, nhiều nhà sử học, văn học đã dày công thu thập những tác phẩm còn lại của Nguyễn Trãi và gần đây không ít người đã cố gắng phá vụ án Lệ Chi Viên. Nhiều tình tiết nằm trong những bí ẩn cung đình được phát hiện, nhiều giả thuyết được đưa ra, nhưng cũng chỉ là tình tiết có liên quan, những giả thuyết chắp nối các sự kiện mang tính suy đoán lô gích hay những giả thuyết được chứng minh một phần.

Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá..., lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc.

Nguyễn Trãi đã đi vaò lịch sử và lòng dân như một anh hùng cứu nước vĩ đại, một danh nhân văn hoá kiệt xuất. Ông là một nhà tư tưởng, một nhà chính trị, một nhà chiến lược quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học, nhà địa lý... , biết bao tài năng đã chung đúc nên người con ưu tú đó của dân tộc. Và ông đã đem tất cả tài năng đó phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc, cùng với Lê Lợi lập nên thắng lợi của sự nghiệp bình Ngô. Trong cứu nước cứu dân khỏi hoạ đô hộ và đồng hoá của ngoại bang, ông đã thành công rực rỡ. Trong sự nghiệp xây dựng lại đất nước, ông cũng có nhiều cống hiến to lớn nhưng gặp rất nhiều gian nan, khó khăn, không thể thi thố hết tài năng, thực hiện hoài bão và lý tưởng cao đẹp của mình. Dù cuối cùng cuộc đời kết thúc bằng một bi kịch đau xót, những Nguyễn Trãi đã để lại cho lịch sử và hậu thế một tấm gương sáng về phẩm giá một người trí thức trọn đời vì nước vì dân, đấu tranh không biết mệt mỏi cho độc lập dân tộc và hoà hiếu với lân bang, cho một đất nước giàu mạnh có vua sáng tôi hiền, có cuộc sống ấm no cho mọi người, và một sự nghiệp văn hoá đồ sộ với biết bao trước tác trên nhiều lĩnh vực phản chiếu lẽ sống, nhân cách và tài năng sáng tạo của ông.

Ngày nay, tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Trãi còn toả sáng ra khỏi biên giới quốc gia, được UNESCO công nhận là một Danh nhân văn hoá thế giới. Nguyễn Trãi là một trong những con người tiêu biểu ở đỉnh cao nhất tâm hồn và trí tuệ của dân tộc, tài năng và phẩm giá của con người Việt Nam được nhân loại trân trọng.

GS. Phan Huy Lê
 

Chủ đề mới

VnKienthuc lúc này

Không có thành viên trực tuyến.

Định hướng

Diễn đàn VnKienthuc.com là nơi thảo luận và chia sẻ về mọi kiến thức hữu ích trong học tập và cuộc sống, khởi nghiệp, kinh doanh,...
Top