Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Cơ Sở
LỚP 9
Lịch sử 9
Kiến thức cơ bản và nâng cao-Bài 8 Cách mạng tháng 8/1945-Lịch sử 9
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Trang Dimple" data-source="post: 204371" data-attributes="member: 288054"><p style="text-align: center"><strong>BÀI 8. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945</strong></p><p></p><p><strong>1. Tình hình Việt Nam dưới ách thống trị của Pháp – Nhật Bản</strong></p><p></p><p>- Tháng 9 – 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Phát xít Đức đánh chiếm hàng loạt các nước châu Âu. Tháng 6 – 1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức.</p><p></p><p>- Ở châu Á, tháng 9 – 1940, quân phiệt Nhật Bản tiến đánh Việt Nam ở Lạng Sơn, rồi từng bước xâm chiếm toàn bộ Đông Dương. Quân Pháp kháng cự yếu ớt rồi đầu hàng, câu kết với quân Nhật ra sức bóc lột nhân dân Đông Dương. Việt Nam chịu ách thống trị của cả Pháp và Nhật Bản.</p><p></p><p>- Về chính trị, cả Nhật Bản và Pháp đều tiến hành phát xít hoá bộ máy cai trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, thủ tiêu các quyền lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong những năm 1936-1939.</p><p></p><p>- Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách "Kinh tế chỉ huy”, tăng cường các loại thuế,... quân Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, thu mua lương thực theo lối cưỡng bức với giá rẻ mạt,... Những thủ đoạn tàn ác này đã gây nên nạn đói nghiêm trọng ở Bắc Kì và Bắc Trung Kì vào cuối năm 1944 - đầu năm 1945.</p><p></p><p>- Chính sách thống trị của Pháp - Nhật đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và tay sai trở nên gay gắt. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng cấp thiết. Một số cuộc nổi dậy đầu tiên đã diễn ra, đó là khởi nghĩa Bắc Sơn (Lạng Sơn, 9–1940), khởi nghĩa Nam Kì (11- 1940) và binh biến Đô Lương (Nghệ An, 1 – 1941).</p><p></p><p><strong>2. Công cuộc chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc</strong></p><p><strong></strong></p><p><strong>a) Sự chuyển hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương</strong></p><p></p><p>- Trước những chuyển biến to lớn của tình hình thế giới và trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời tổ chức các hội nghị để vạch ra đường lối lãnh đạo cách mạng.</p><p></p><p>- Tháng 11 - 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra tại Bà Điểm (TP Hồ Chí Minh) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai để giành độc lập.</p><p></p><p>- Tháng 5 - 1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám được triệu tập tại Pác Bó (tỉnh Cao Bằng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì. Hội nghị đã hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, được đề ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939.</p><p></p><p>- Trên cơ sở đó, Hội nghị xác định: giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Đông Dương; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm, xác định hình thái cuộc khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa; dự báo về thời cơ của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền....</p><p></p><p><strong>b) Chuẩn bị về lực lượng</strong></p><p></p><p>- Ngày 19-5-1941, theo chủ trương để ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) được thành lập nhằm <em>“liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng”.</em> Mặt trận bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là Hội Cứu quốc.</p><p></p><p>- Mặt trận Việt Minh ra đời đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là ở Cao Bằng, tham gia vào các hội Cứu quốc. Dưới ngọn cờ Việt Minh, công cuộc chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền được xúc tiến gấp rút.</p><p></p><p>- Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại Cao Bằng. Ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã đánh thẳng hai trận liên tiếp tại Phay Khắt và Nà Ngần (tỉnh Cao Bằng).</p><p></p><p>- Ngày 15-4-1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kì được triệu tập. Hội nghị quyết định thống nhất <strong><em>Cứu quốc quân </em></strong>(được thành lập bắt đầu từ năm 1941) và <strong><em>Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quâ</em></strong><em>n</em> thành <strong><em>Việt Nam Giải phóng quân</em></strong>, phát triển hơn nữa các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang, xây dựng căn cứ địa kháng Nhật,...</p><p></p><p><strong>c) Sự ra đời của căn cứ địa (điều chỉnh theo SGK mới 2026-2027)</strong></p><p></p><p>- Từ những năm 1941 - 1944, Trung ương Đảng đã chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng, sau đó phát triển thành hai chiến khu: Cao - Bắc - Lạng và Thái - Tuyên - Hà.</p><p></p><p>- Tháng 5 - 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang). Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, "trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước. Khu giải phóng được xem là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới".</p><p></p><p><strong>* Vai trò của Mặt trận Việt Minh :</strong></p><p></p><p>- Mặt trận Việt Minh đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tập hợp đông đảo quần chúng, hình thành lực lượng chính trị hùng hậu dưới sự lãnh đạo của Đảng.</p><p></p><p>- Phân hóa và cô lập kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào đấu tranh chống Pháp - Nhật và tay sai.</p><p></p><p>- Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang cách mạng từng bước được hình thành và phát triển, cùng với lực lượng chính trị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.</p><p></p><p>- Mặt trận Việt Minh còn làm tốt chức năng của một chính quyền nhà nước khi ta chưa giành được chính quyền : như chuẩn bị lực lượng cho tổng khởi nghĩa, tổ chức và lãnh đạo tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến; góp phần cùng phe Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa phát xít.</p><p></p><p><strong> </strong></p><p><strong></strong></p><p> <strong></strong></p><p><strong></strong></p><p><strong>c) Cao trào kháng Nhật cứu nước và những hoạt động chuẩn bị cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa (từ tháng 3 đến giữa tháng 8-1945)</strong></p><p></p><p>- Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Đông Dương, thực dân Pháp ráo riết hoạt động, chờ cơ hội phản công quân Nhật, mâu thuẫn Nhật - Pháp trở nên gay gắt.</p><p></p><p>- Tối 9-3-1945, Nhật tiến hành đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương.</p><p></p><p>- Ngày 12 - 3, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị <em>“Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta",</em> phát động cao trào “<em>Kháng Nhật cứu nước"</em> làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>- Cao trào "<em>Kháng Nhật cứu nước"</em> đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên cả nước.</p><p></p><p>+ Ở khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện.</p><p></p><p>+ Ở Bắc Kì và Bắc Trung Ki, phong trào <em>"Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”</em> diễn ra quyết liệt chưa từng có.</p><p></p><p>+ Khởi nghĩa từng phần dâng lên ở nhiều nơi như: Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh), Bần Yên Nhân (tỉnh Hưng Yên), Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi)....</p><p></p><p><strong>* Ý nghĩa cao trào kháng Nhật cứu nước:</strong></p><p></p><p>- Qua cao trào kháng Nhật, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang được tăng cường. Là cơ sở quan trọng để Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.</p><p></p><p>- Làm cho kẻ thù ngày càng suy yếu, thúc đẩy thời cơ tổng khởi nghĩa mau đến.</p><p></p><p>- Lôi cuốn được hàng triệu quần chúng vào trận tuyến đấu tranh với quân thù, rèn luyện họ qua nhiều hình thức đấu tranh. Giúp cho quần chúng ở tư thế sẵn sàng tiến lên tổng khởi nghĩa, tạo ra đầy đủ những điều kiện chủ quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>- Là cuộc tập dượt vĩ đại cuối cùng, là tiền đề mạnh mẽ cho cho cuộc tổng khởi nghĩa. Làm cho toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng chủ động tiến lên chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p><strong> </strong></p><p><strong></strong></p><p><strong>3. Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà</strong></p><p><strong></strong></p><p><strong>a. Điều kiện lịch sử</strong></p><p><strong></strong></p><p><strong>* Thế giới </strong>(ĐK Khách quan)</p><p></p><p>- CTTG thứ hai đang tới những ngày cuối. Tháng 5-1945, phát xít Đức đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện. Đầu tháng 8 – 1945, quân Đồng minh tấn công quân đội Nhật Bản ở châu Á – Thái Bình Dương.</p><p></p><p>- Ngày 15 - 8 - 1945, Quân phiệt Nhật Bản đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.</p><p></p><p>- Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang cực độ, lính Nhật mất hết tinh thần chiến đấu. Điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc Tổng khởi nghĩa đã đến.</p><p></p><p>- Ngay khi Chiến tranh thứ hai kết thúc, quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa Đồng minh chuẩn bị vào nước ta để giải giáp quân đội Nhật, song thực chất là tiêu diệt chính quyền cách mạng, đàn áp Đảng Cộng sản.</p><p></p><p>-> Như vậy, điều kiện khách quan thuận lợi đã đến, đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, kẻ thù mới chưa kịp đến.</p><p></p><p><strong>* Trong nước </strong>(ĐK Chủ quan)</p><p></p><p>- Trong khi đó, Đảng ta có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối, lực lượng, căn cứ địa cách mạng... sẵn sàng lãnh đạo cách mạng.</p><p></p><p>- Lực lượng cách mạng của ta được rèn luyện và trưởng thành qua nhiều phong trào cách mạng trong suốt 15 năm (phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1954), nhân dân sẵn sàng nổi dậy.</p><p></p><p>- Đặc biệt, từ tháng 3 đến tháng 8 – 1945, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã diễn ra trong cả nước, góp phần chuẩn bị lực lượng, tập dượt cho quần chúng đấu tranh, sẵn sàng tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.</p><p></p><p>- Lúc này, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, tầng lớp trung gian đã nhận rõ bộ mặt của phát xít Nhật nên đã ngả về phe cách mạng làm lực lượng cách mạng tăng thêm sức mạnh.</p><p></p><p>Như vậy, điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền đã chín muồi, “<em>thời cơ ngàn năm có một” đã đến</em>.</p><p></p><p><strong>b. Chủ trương của Đảng</strong></p><p></p><p>- Ngày 13-8-1945, <strong><em>Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc</em></strong> đã được thành lập, ban bố <em>Quân lệnh số 1</em>, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước.</p><p></p><p>- Ngày 14 và 15-8-1945<strong>, <em>Hội nghị toàn quốc của Đảng</em></strong> họp ở Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang), thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, quyết định những vấn đề quan trọng trong chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền.</p><p></p><p>- Ngày 16 và 17-8-1945, <strong><em>Đại hội Quốc dân</em></strong> được triệu tập. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (sau này là Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Trang Dimple, post: 204371, member: 288054"] [CENTER][B]BÀI 8. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945[/B][/CENTER] [B]1. Tình hình Việt Nam dưới ách thống trị của Pháp – Nhật Bản[/B] - Tháng 9 – 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Phát xít Đức đánh chiếm hàng loạt các nước châu Âu. Tháng 6 – 1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. - Ở châu Á, tháng 9 – 1940, quân phiệt Nhật Bản tiến đánh Việt Nam ở Lạng Sơn, rồi từng bước xâm chiếm toàn bộ Đông Dương. Quân Pháp kháng cự yếu ớt rồi đầu hàng, câu kết với quân Nhật ra sức bóc lột nhân dân Đông Dương. Việt Nam chịu ách thống trị của cả Pháp và Nhật Bản. - Về chính trị, cả Nhật Bản và Pháp đều tiến hành phát xít hoá bộ máy cai trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, thủ tiêu các quyền lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong những năm 1936-1939. - Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách "Kinh tế chỉ huy”, tăng cường các loại thuế,... quân Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, thu mua lương thực theo lối cưỡng bức với giá rẻ mạt,... Những thủ đoạn tàn ác này đã gây nên nạn đói nghiêm trọng ở Bắc Kì và Bắc Trung Kì vào cuối năm 1944 - đầu năm 1945. - Chính sách thống trị của Pháp - Nhật đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và tay sai trở nên gay gắt. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng cấp thiết. Một số cuộc nổi dậy đầu tiên đã diễn ra, đó là khởi nghĩa Bắc Sơn (Lạng Sơn, 9–1940), khởi nghĩa Nam Kì (11- 1940) và binh biến Đô Lương (Nghệ An, 1 – 1941). [B]2. Công cuộc chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc a) Sự chuyển hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương[/B] - Trước những chuyển biến to lớn của tình hình thế giới và trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời tổ chức các hội nghị để vạch ra đường lối lãnh đạo cách mạng. - Tháng 11 - 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra tại Bà Điểm (TP Hồ Chí Minh) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai để giành độc lập. - Tháng 5 - 1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ tám được triệu tập tại Pác Bó (tỉnh Cao Bằng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì. Hội nghị đã hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, được đề ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939. - Trên cơ sở đó, Hội nghị xác định: giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Đông Dương; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm, xác định hình thái cuộc khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa; dự báo về thời cơ của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.... [B]b) Chuẩn bị về lực lượng[/B] - Ngày 19-5-1941, theo chủ trương để ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) được thành lập nhằm [I]“liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng”.[/I] Mặt trận bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là Hội Cứu quốc. - Mặt trận Việt Minh ra đời đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là ở Cao Bằng, tham gia vào các hội Cứu quốc. Dưới ngọn cờ Việt Minh, công cuộc chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền được xúc tiến gấp rút. - Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại Cao Bằng. Ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã đánh thẳng hai trận liên tiếp tại Phay Khắt và Nà Ngần (tỉnh Cao Bằng). - Ngày 15-4-1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kì được triệu tập. Hội nghị quyết định thống nhất [B][I]Cứu quốc quân [/I][/B](được thành lập bắt đầu từ năm 1941) và [B][I]Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quâ[/I][/B][I]n[/I] thành [B][I]Việt Nam Giải phóng quân[/I][/B], phát triển hơn nữa các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang, xây dựng căn cứ địa kháng Nhật,... [B]c) Sự ra đời của căn cứ địa (điều chỉnh theo SGK mới 2026-2027)[/B] - Từ những năm 1941 - 1944, Trung ương Đảng đã chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và Cao Bằng, sau đó phát triển thành hai chiến khu: Cao - Bắc - Lạng và Thái - Tuyên - Hà. - Tháng 5 - 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh rời Pác Bó về Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang). Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, "trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước. Khu giải phóng được xem là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới". [B]* Vai trò của Mặt trận Việt Minh :[/B] - Mặt trận Việt Minh đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tập hợp đông đảo quần chúng, hình thành lực lượng chính trị hùng hậu dưới sự lãnh đạo của Đảng. - Phân hóa và cô lập kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào đấu tranh chống Pháp - Nhật và tay sai. - Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang cách mạng từng bước được hình thành và phát triển, cùng với lực lượng chính trị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. - Mặt trận Việt Minh còn làm tốt chức năng của một chính quyền nhà nước khi ta chưa giành được chính quyền : như chuẩn bị lực lượng cho tổng khởi nghĩa, tổ chức và lãnh đạo tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến; góp phần cùng phe Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. [B] c) Cao trào kháng Nhật cứu nước và những hoạt động chuẩn bị cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa (từ tháng 3 đến giữa tháng 8-1945)[/B] - Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Đông Dương, thực dân Pháp ráo riết hoạt động, chờ cơ hội phản công quân Nhật, mâu thuẫn Nhật - Pháp trở nên gay gắt. - Tối 9-3-1945, Nhật tiến hành đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương. - Ngày 12 - 3, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị [I]“Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta",[/I] phát động cao trào “[I]Kháng Nhật cứu nước"[/I] làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. - Cao trào "[I]Kháng Nhật cứu nước"[/I] đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên cả nước. + Ở khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện. + Ở Bắc Kì và Bắc Trung Ki, phong trào [I]"Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”[/I] diễn ra quyết liệt chưa từng có. + Khởi nghĩa từng phần dâng lên ở nhiều nơi như: Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh), Bần Yên Nhân (tỉnh Hưng Yên), Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi).... [B]* Ý nghĩa cao trào kháng Nhật cứu nước:[/B] - Qua cao trào kháng Nhật, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang được tăng cường. Là cơ sở quan trọng để Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. - Làm cho kẻ thù ngày càng suy yếu, thúc đẩy thời cơ tổng khởi nghĩa mau đến. - Lôi cuốn được hàng triệu quần chúng vào trận tuyến đấu tranh với quân thù, rèn luyện họ qua nhiều hình thức đấu tranh. Giúp cho quần chúng ở tư thế sẵn sàng tiến lên tổng khởi nghĩa, tạo ra đầy đủ những điều kiện chủ quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa. - Là cuộc tập dượt vĩ đại cuối cùng, là tiền đề mạnh mẽ cho cho cuộc tổng khởi nghĩa. Làm cho toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng chủ động tiến lên chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa. [B] 3. Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà a. Điều kiện lịch sử * Thế giới [/B](ĐK Khách quan) - CTTG thứ hai đang tới những ngày cuối. Tháng 5-1945, phát xít Đức đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện. Đầu tháng 8 – 1945, quân Đồng minh tấn công quân đội Nhật Bản ở châu Á – Thái Bình Dương. - Ngày 15 - 8 - 1945, Quân phiệt Nhật Bản đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. - Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang cực độ, lính Nhật mất hết tinh thần chiến đấu. Điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc Tổng khởi nghĩa đã đến. - Ngay khi Chiến tranh thứ hai kết thúc, quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa Đồng minh chuẩn bị vào nước ta để giải giáp quân đội Nhật, song thực chất là tiêu diệt chính quyền cách mạng, đàn áp Đảng Cộng sản. -> Như vậy, điều kiện khách quan thuận lợi đã đến, đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, kẻ thù mới chưa kịp đến. [B]* Trong nước [/B](ĐK Chủ quan) - Trong khi đó, Đảng ta có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối, lực lượng, căn cứ địa cách mạng... sẵn sàng lãnh đạo cách mạng. - Lực lượng cách mạng của ta được rèn luyện và trưởng thành qua nhiều phong trào cách mạng trong suốt 15 năm (phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1954), nhân dân sẵn sàng nổi dậy. - Đặc biệt, từ tháng 3 đến tháng 8 – 1945, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã diễn ra trong cả nước, góp phần chuẩn bị lực lượng, tập dượt cho quần chúng đấu tranh, sẵn sàng tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. - Lúc này, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, tầng lớp trung gian đã nhận rõ bộ mặt của phát xít Nhật nên đã ngả về phe cách mạng làm lực lượng cách mạng tăng thêm sức mạnh. Như vậy, điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền đã chín muồi, “[I]thời cơ ngàn năm có một” đã đến[/I]. [B]b. Chủ trương của Đảng[/B] - Ngày 13-8-1945, [B][I]Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc[/I][/B] đã được thành lập, ban bố [I]Quân lệnh số 1[/I], chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. - Ngày 14 và 15-8-1945[B], [I]Hội nghị toàn quốc của Đảng[/I][/B] họp ở Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang), thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, quyết định những vấn đề quan trọng trong chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền. - Ngày 16 và 17-8-1945, [B][I]Đại hội Quốc dân[/I][/B] được triệu tập. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (sau này là Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Cơ Sở
LỚP 9
Lịch sử 9
Kiến thức cơ bản và nâng cao-Bài 8 Cách mạng tháng 8/1945-Lịch sử 9
Top