Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VNK X
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
BhnongFood X
-
Bhnong groups
-
Đặt mua Bánh Bhnong
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Đông
Hegel- hiện tượng học tinh thần
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="PHÚC KEYNES" data-source="post: 95828" data-attributes="member: 147652"><p><strong>Hegel- hiện tượng học tinh thần (phần 2)</strong></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">G. W. G. Hegel</span></span></strong></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN</span></span></strong></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>Bùi Văn Nam Sơn </strong>dịch và chú giải</span></span></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Nxb. Văn học, 2006</span></span></strong></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">--- o0o ---</span></span></strong></span></p><p></p><p style="text-align: center"></p> <p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN</span></span></strong></span></p> <p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">[Phần 2]</span></span></strong></span></p><p></p><p></p><p><strong><strong><span style="font-family: 'times new roman'"><em><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">II</span></span></em></span></strong></strong></p><p></p><p style="text-align: center"><strong><span style="font-family: 'times new roman'"><em><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">TRI GIÁC</span></span></em></span></strong></p> <p style="text-align: center"></p> <p style="text-align: center"><strong><span style="font-family: 'times new roman'"><em><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">HAY LÀ</span></span></em></span></strong></p> <p style="text-align: center"><strong><span style="font-family: 'times new roman'"><em><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">SỰ VẬT VÀ SỰ LỪA DỐI [CỦA NÓ]</span></span></em></span></strong></p> <p style="text-align: center"></p> <p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 111</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Sựxác tín trực tiếp không chiếm lĩnh được<strong>cái đúng thật</strong>, vì sự thật của nó là <strong>cái phổ biến</strong>, trong khi nó lại muốn nắm lấy cái <strong>Này</strong> [cá biệt]. Ngược lại, <strong>tri giác</strong> nắm lấy cái đang tồn tại đối với nó, như là <strong>cái phổ biến</strong>. Cũng như tính phổ biến là <strong>nguyên tắc</strong> của tri giác nói chung, các yếu tố tự phân biệt trực tiếp trong chính nó cũng đều có tính phổ biến: cái Tôi như là một cái Tôi phổ biến; và đối tượng cũng là một đối tượng phổ biến</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(203)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Nguyên tắc này là được <strong>hình thành nên (entstanden)</strong> <strong>cho ta </strong>[người theo dõi tiến trình kinh nghiệm], do đó, phương cách ta nắm lấy trong tri giác không còn là một cái gì đơn thuần diễn ra cho ta [một chuỗi bất tất các hành vi lãnh hội] như trong sự xác tín cảm tính nữa, mà là một sự tiếp thu <strong>tất yếu</strong> [một quá trình tất yếu có tính lô-gíc]</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(204)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Cùng với sự ra đời của nguyên tắc này, cả hai yếu tố cũng đồng thời trở thành tồn tại; chúng chỉ <strong>tách rời ra khỏi nhau</strong> ở trong sự xuất hiện ra của chúng như là hiện tượng (Erscheinung) [cho cái biết], đó là: một yếu tố tồn tại như là tiến trình vận động của việc chỉ ra; yếu tố kia cũng là cùng một tiến trình ấy nhưng như là một [sự kiện] đơn giản; <strong>yếu tố trước là hành vi tri giác, yếu tố sau là đối tượng [được tri giác]</strong>. Về bản chất, đối tượng là giống hệt như tiến trình, [chỉ có điều], tiến trình là sự triển khai [phô bày ra] và là sự phân biệt của hai yếu tố [tham gia vào tiến trình tri giác], còn đối tượng cũng chính là các yếu tố ấy nhưng được tập hợp chung lại [như một toàn bộ được lãnh hội]. <strong>Cho ta</strong> [người quan sát] hay là <strong>tự-mình</strong>, cái phổ biến, – <strong>với tư cách</strong> là nguyên tắc, – là <strong>cái bản chất</strong> của tri giác; và trái ngược với sự trừu tượng này, cả hai yếu tố được phân biệt trên – cái tri giác và cái được tri giác – lại là những cái <strong>không có tính bản chất </strong>[không cốt yếu]</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(205)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Nhưng, trong thực tế, vì bản thân hai yếu tố này đều là cái phổ biến hay cái bản chất cả, nên cả hai đều có tính bản chất; tuy nhiên trong khi chúng quan hệ với nhau như là giữa các cái đối lập, thì chỉ có một yếu tố là có thể có tính bản chất ở trong mối quan hệ [tạo nên tri giác] mà thôi, và việc phân biệt cái bản chất với cái không-bản chất phải được chia đều ra nơi chúng. Một bên được xác định như cái [sự kiện] đơn giản – tức đối tượng – là cái bản chất, bất kể nó có được tri giác hay không; còn hành vi tri giác – như là tiến trình vận động – là yếu tố bất ổn định, có thể có, có thể không, và là cái không-bản chất</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(206)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 112</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Bây giờ, <strong>đối tượng này</strong> cần được xác định rõ hơn, và sự xác định [định nghĩa] phải được phát triển ngắn gọn từ kết quả đã đạt được; một sự phát triển nhiều chi tiết hơn không thuộc về chỗ này. Vì lẽ nguyên tắc của đối tượng, tức cái phổ biến, – trong tính đơn giản của đối tượng – là một nguyên tắc <strong>được trung giới</strong>, nên đối tượng phải diễn tả cái bản tính tự nhiên [được trung giới] này nơi chính bản thân nó. | Bằng cách làm như vậy, <strong>đối tượng</strong> tự cho thấy mình là <strong>SỰ VẬT CÓ NHIỀU THUỘC TÍNH (DAS DING VON VIELEN EIGENSCHAF-TEN)</strong>. <strong>Sự phong phú của cái biết cảm tính là thuộc về tri giác chứ không phải thuộc về sự xác tín trực tiếp, là nơi sự phong phú chỉ đơn thuần là trò phụ diễn (Beiherspielen) [ngẫu nhiên bất tất], vì chỉ tri giác mới có sự phủ định, sự khác biệt, hay tính đa tạp bên trong bản chất của nó(207).</strong></span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 113</span></span></strong></span></p> <p style="text-align: center"></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">[I. Khái niệm đơn giản về sự vật:]</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Do đó, cái <strong>này</strong> được thiết định như cái không phải-này hay như một cái <strong>này</strong> bị thủ tiêu [vượt bỏ]; song [kết quả] không phải là cái hư vô, mà là <strong>một</strong> cái hư vô <strong>nhất định</strong>, hay là một cái hư vô của <strong>một nội dung</strong>, tức của <strong>CÁI</strong> này. Qua quá trình ấy, bản thân cái [nhân tố] cảm tính vẫn còn có mặt, nhưng không phải theo cách được giả định trong sự xác tín trực tiếp nữa, không phải như cái cá biệt chỉ được “cho rằng”, mà như là cái phổ biến, hay như là cái <strong>sẽ được xác định như là THUỘC TÍNH(208)</strong>. <strong>Sự vượt bỏ (das Aufheben)</strong> diễn tả ý nghĩa kép [nhân đôi] đúng thực của nó như ta đã thấy nơi cái phủ định: vừa là một <strong>sự phủ định (ein Negieren)</strong> và đồng thời là một <strong>sự bảo lưu (ein Aufbewahren)</strong>; cái hư vô, như là cái hư vô của cái <strong>này</strong>, bảo lưu tính trực tiếp; do vậy, bản thân nó vẫn là cảm tính, nhưng lại là một <strong>tính trực tiếp phổ biến (allgemeineUnmit-telbarkeit)(209)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Nhưng, tồn tại là một cái phổ biến nhờ có bên trong nó sự trung giới hay là cái phủ định. | Khi cái tồn tại <strong>diễn tả(210) </strong>điều này trong tính trực tiếp của nó, nó là <strong>một thuộc tính nhất định, được phân biệt</strong>. Kết quả là có <strong>nhiều </strong>thuộc tính như thế được thiết định đồng thời với nhau, thuộc tính này là cái phủ định [sự phân biệt] đối với thuộc tính khác. Bởi chúng được diễn tả trong tính đơn giản của cái phổ biến, nên các tính quy định này (Bestimmheiten) – thật ra, chúng chỉ thực sự trở thành <strong>các thuộc tính</strong> là còn phải nhờ có thêm một sự quy định sau này nữa</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(211)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"> – [chỉ] tự quan hệ với chính mình, là dửng dưng đối với nhau, mỗi cái tồn tại cho riêng mình, độc lập</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(212)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"> với những cái khác còn lại. Tuy nhiên, bản thân <strong>tính phổ biến đơn giản, ngang bằng với chính mình [tự-đồng nhất]</strong>, đến lượt mình, thì lại phân biệt và thoát ly khỏi các thuộc tính nhất định này của nó; nó là sự tự quan hệ thuần túy của mình với chính mình, hay là cái <strong>“môi trường” (Medium)</strong>, trong đó mọi tính quy định trên đây đều có mặt, như một nhất thể đơn giản, trong đó các tính quy định ấy <strong>thâm nhập vào nhau</strong> nhưng <strong>không đụng chạm lẫn nhau</strong>, và chỉ vì đều tham gia vào trong tính phổ biến này nên chúng dửng dưng đối với nhau, mỗi đặc điểm tồn tại cho riêng mình.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Cái “môi trường” phổ biến trừu tượng này – có thể được gọi là <strong>“vật-tính” (Dingheit)</strong> nói chung hay là <strong>“bản chất thuần túy” </strong>– không khác gì cái Ở đây và cái Bây giờ đã tự chứng tỏ cho thấy [xem chương I] là một <strong>tập hợp </strong>đơn giản của cái đa thể, song cái nhiều này [trong cấp độ tri giác hiện nay], do <strong>tính được quy định </strong>của nó, là bản thân <strong>những cái phổ biến đơn giản</strong>. Hạt muối này là cái Ở đây <strong>đơn giản</strong>, và đồng thời là <strong>đa tạp</strong>: nó là trắng, và <strong>cũng </strong>là mặn, <strong>cũng</strong> có hình lập phương, lại cũng có một trọng lượng riêng và v.v.. Tất cả các thuộc tính đa tạp này tồn tại trong <strong>một </strong>cái Ở đây đơn giản duy nhất, do đó, là nơi chúng thâm nhập vào nhau; nhưng không thuộc tính nào trong chúng lại có một cái Ở đây khác với các thuộc tính khác, trái lại, mỗi cái có mặt khắp nơi trong cùng một cái Ở đây, là nơi cái khác cũng cùng tồn tại. | Và đồng thời, tuy không bị chia cắt bởi nhiều cái Ở đây khác nhau, chúng không tác động lẫn nhau trong sự thâm nhập này; cái trắng không tác động hay biến đổi cái vuông; cả hai không tác động cái mặn và v.v.., trái lại, vì bản thân mỗi cái là quan hệ đơn giản của mình với chính mình, nên nó để mặc các cái khác và chỉ quan hệ với những cái còn lại thông qua một cái <strong>CŨNG</strong> dửng dưng. Vậy, <strong>chính cái CŨNG này là bản thân cái phổ biến thuần túy, hay là, cái “môi trường”, cái “vật tính” tập hợp tất cả chúng lại bằng cách ấy(213).</strong></span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 114</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Trong mối quan hệ vừa nảy sinh trên đây chỉ mới có tính chất của <strong>tính phổ biến khẳng định (positive Allgemeinheit)</strong> [mặt khẳng định của tính phổ biến] là được quan sát và phát triển; nhưng còn <strong>một mặt</strong> nữa cần phải xét tới [mặt phủ định]. Mặt phủ định này là: nếu nhiều thuộc tính đa tạp là hoàn toàn dửng dưng với nhau và nếu chúng chỉ đều hoàn toàn tự quan hệ với chính mình thôi, ắt chúng <strong>không</strong> phải là các thuộc tính <strong>nhất định (bestimmt) </strong>[được quy định, xác định]; bởi chúng chỉ có thể như vậy trong chừng mực <strong>chúng tự phân biệt với nhau và tự quan hệ với các thuộc tính khác như là với các cái đối lập của chúng</strong>. Thế nhưng, nếu dựa theo tính đối lập nhau này thì chúng lại không thể cùng tồn tại chung trong cái nhất thể đơn giản của cái “môi trường” của chúng [trước đây] nữa, – sự thống nhất của “môi trường” này cũng thiết yếu [có tính bản chất] đối với chúng giống như sự phủ định. | Vậy, [tiến trình] phân biệt của nhất thể này, – trong chừng mực nhất thể ấy không phải là một nhất thể dửng dưng mà là một nhất thể loại trừ và phủ nhận sự vật khác, – phải rơi ra bên ngoài cái “môi trường” đơn giản này; và vì thế, “môi trường” này không chỉ đơn thuần là một cái <strong>CŨNG</strong> [nói trên đây], tức một nhất thể dửng dưng, mà còn là cái <strong>MỘT</strong>, tức cái nhất thể <strong>loại trừ </strong>[cái khác]</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(214)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. <strong>Cái MỘT là yếu tố của sự phủ định</strong>, – như là cái tự quan hệ với chính mình một cách đơn giản, và loại trừ sự vật khác – <strong>qua đó, VẬT TÍNH (DIE DINGHEIT) ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ LÀ SỰ VẬT (DING)</strong>. Trong thuộc tính [của một sự vật], sự phủ định [có hình thái] như là một <strong>sự quy định</strong>; sự quy định này trực tiếp là <strong>một</strong> với tính trực tiếp của tồn tại [của sự vật], song tính trực tiếp này đến lượt nó, – nhờ thông qua sự thống nhất nói trên <strong>với</strong> sự phủ định – nên là tính phổ biến. | Tuy nhiên, sự phủ định, khi được giải phóng khỏi sự thống nhất này <strong>với</strong> cái đối lập, tồn tại như là cái <strong>Một</strong>, và tồn tại tự-mình và cho-mình (an und für sich selbst).</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 115</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Các yếu tố này gộp chung lại mới hình thành hoàn tất <strong>SỰ VẬT</strong> như là <strong>cái đúng thật (das Wahre)</strong> của [tiến trình] tri giác, trong chừng mực được phát triển ở đây với mức độ cần thiết. Đó là:</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">1. <strong>tính phổ biến</strong>thụ động, dửng dưng, tức cái <strong>CŨNG </strong>của nhiều thuộc tính đa tạp, hay nói đúng hơn, của các <strong>“chất liệu” (Materien)(215)</strong>;</span></span></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">2. <strong>sự phủ định</strong>, cũng ở trong hình thái đơn giản tương tự; hay là cái <strong>MỘT</strong>, loại trừ các thuộc tính đối lập, và</span></span></span></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">3. <strong>bản thân nhiều thuộc tính đa tạp</strong>, mối quan hệ của hai yếu tố đầu tiên này; hay sự phủ định – như nó đang quan hệ với yếu tố (Element) dửng dưng, và triển khai trong đó thành một số lượng các cái khác biệt; tụ điểm của <strong>tính cá biệt</strong> ở trong môi trường của sự tự tồn (Bestehen) tỏa chiếu thành tính đa thể. Trong chừng mực các cái khác biệt này cùng thuộc về “môi trường” dửng dưng, thì bản thân chúng cũng có tính phổ biến, chỉ quan hệ với chính mình và không tác động đến nhau; nhưng xét về phương diện: chúng cùng thuộc về sự thống nhất [nhất thể] phủ định, chúng đồng thời lại loại trừ [các thuộc tính khác]; nhưng tất yếu có mối quan hệ này của sự đối lập đối với các thuộc tính ở cách xa cái <strong>CŨNG</strong> của <strong>CHÚNG</strong>. Vậy, tính phổ biến cảm tính, hay sự thống nhất trực tiếp của cái tồn tại <strong>với</strong> cái phủ định chỉ trở thành một <strong>THUỘC TÍNH</strong>, khi cái Một và tính phổ biến thuần túy được phát triển từ nó và được phân biệt với nhau, cũng như khi tính phổ biến cảm tính nối kết chúng lại [tính phổ biến thuần túy khẳng định và cái Một phủ định]. | Chính mối quan hệ này giữa tính phổ biến với các yếu tố bản chất thuần túy mới là cái hoàn tất <strong>SỰ VẬT(216)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 116</span></span></strong></span></p> <p style="text-align: center"></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">[II. Sự tri giác đầy mâu thuẫn về sự vật:]</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Vậy, đó là phương cách mà bây giờ SỰ VẬT của tri giác được tạo nên; và ý thức được xác định như là đang ở cấp độ tri giác, trong chừng mực <strong>SỰ VẬT</strong> này là đối tượng của nó. | Ý thức chỉ <strong>đơn thuần “nắm lấy”</strong> đối tượng [<strong>nehmen</strong>, lat: capio ®per-cipio ®wahr-nehmen: nắm lấy cái đúng thật = tri giác] và hành xử như là <strong>sự lãnh hội thuần túy (reines Auffassen)</strong>, và qua đó cái được mang lại cho ý thức là <strong>cái đúng thật (das Wahre)</strong>. Nếu bản thân ý thức, trong hành vi “nắm lấy” này, lại làm thêm một việc gì khác, thì do việc <strong>thêm vào</strong> hay <strong>rút bớt đi</strong> điều gì, nó sẽ làm biến đổi sự thật. Nhưng, vì đối tượng là cái đúng thật và là cái phổ biến, cái ngang bằng với chính nó, còn ý thức, ngược lại, là cái khả biến và không-bản chất, nên điều có thể xảy ra cho ý thức là nó <strong>lãnh hội</strong> đối tượng <strong>không đúng </strong>và <strong>tự lừa dối mình</strong>. Người tri giác có ý thức về khả năng xảy ra sự lừa dối [nhầm lẫn], vì ở trong tính phổ biến vốn là nguyên tắc của tri giác, bản thân <strong>cái tồn tại-khác</strong> [của cái phổ biến] cũng trực tiếp có mặt <strong>cho</strong> ý thức, nhưng có mặt như là cái hư vô, cái bị thủ tiêu. Tiêu chuẩn của người tri giác về tính chân lý, do đó, là sự ngang bằng-với-chính-mình của đối tượng (die Sichselbst-gleichheit), nên thái độ hành xử của người ấy là lãnh hội đối tượng như là cái ngang bằng [đồng nhất] với-chính-mình. [Nhưng] vì tính khác biệt cũng đồng thời có mặt một cách minh nhiên <strong>cho</strong> người tri giác, nên cách hành xử của người tri giác là mang các yếu tố khác biệt nhau ở trong sự lãnh hội vào mối quan hệ với nhau. | Nhưng nếu trong tiến trình so sánh này nảy sinh một sự không ngang bằng, thì đây <strong>không</strong> phải là một sự không đúng-sự thật (Unwahrheit) của đối tượng, – bởi đối tượng, đối với người tri giác, là cái ngang bằng với chính nó –, mà chỉ [có thể] là sự không-đúng sự thật của phía [người] tri giác</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(217)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 117</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Bây giờ ta hãy nhìn xem ý thức trải qua <strong>kinh nghiệm</strong> gì trong tiến trình tri giác hiện thực của nó. <strong>Cho ta</strong> [đối với ta, người quan sát], kinh nghiệm này <strong>đã</strong> được chứa đựng trong sự phát triển của đối tượng và của thái độ hành xử của ý thức trước đối tượng cho tới nay; và như thế, kinh nghiệm này chỉ là việc phát triển <strong>những mâu thuẫn</strong> đã hiện diện ở trong đó. [Sự phát triển này diễn ra như sau]:</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Đối tượng – được cái Tôi lãnh hội – tự trình diện ra một cách thuần túy như cái <strong>Một</strong>; còn tôi cũng tri giác trong đó một <strong>thuộc tính.</strong> | Thuộc tính là cái gì ở trong đối tượng có tính <strong>phổ biến</strong>, nên qua đó nó <strong>vượt ra khỏi</strong> <strong>tính cá biệt</strong>. Vậy, [hình thái] tồn tại đầu tiên của bản chất khách quan như là của cái <strong>Một</strong> đã không phải là sự tồn tại đúng thật của nó; song vì lẽ <strong>đối tượng </strong>là cái đúng thật (das Wahre), nên sự không-đúng-sự thật (Unwahrheit) là rơi vào nơi tôi [thuộc về phía tôi], và sự lãnh hội, như thế, đã là không đúng. Do phải tính đến tính phổ biến [này] của thuộc tính, tôi đúng ra phải nắm lấy cái bản chất khách quan trong tính toàn bộ như một <strong>cộng đồng </strong>nói chung <strong>(ein Gemeinschaft überhaupt)</strong>. Thêm vào đó, bây giờ, tôi tri giác thuộc tính như là thuộc tính <strong>nhất định</strong>, đối lập và loại trừ thuộc tính khác. Vậy là, trong thực tế, tôi đã lãnh hội không đúng về bản chất khách quan, khi tôi đã xác định nó như là <strong>một cộng đồng </strong>với những cái khác hay như là sự liên tục; và – để tính tới tính quy định của thuộc tính – tôi lại phải phá vỡ tính liên tục và thiết định bản chất khách quan như là “cái Một” loại trừ [cái khác]</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(218)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Nơi cái Một bị tách rời này, tôi tìm thấy nhiều thuộc tính có cùng đặc tính như thế, tức chúng không tác động mà dửng dưng với nhau; vậy, tôi cũng đã không tri giác đối tượng một cách đúng đắn khi tôi đã lãnh hội nó như một cái loại trừ, trái lại, nó, – như trước đó chỉ là sự liên tục nói chung –, thì bây giờ là một <strong>“môi trường” cộng đồng phổ biến</strong>, trong đó nhiều thuộc tính hiện diện, như là <strong>các tính phổ biến </strong>cảm tính, mỗi cái tồn tại cho-mình, và với tư cách là <strong>cái được quy định</strong>, loại trừ những cái khác. Nhưng, từ kết quả này, cái đơn giản và cái đúng thật mà tôi tri giác cũng không phải là một “môi trường” phổ biến, mà là <strong>thuộc tính cá biệt </strong>“cho-mình”; là cái, trong hình thái này, [một lần nữa] vừa không phải là một thuộc tính, vừa không phải là một sự tồn tại nhất định, vì nó không tồn tại nơi một cái Một lẫn không ở trong quan hệ với những cái khác. Chỉ khi thuộc về cái Một, thuộc tính mới là một <strong>thuộc tính</strong>, và chỉ trong quan hệ với những cái khác, nó mới <strong>được quy định</strong> [như một thuộc tính <strong>nhất định</strong>]. Còn với tư cách là cái quan hệ thuần túy này của chính mình với chính mình, nó vẫn chỉ là <strong>cái tồn tại cảm tính nói chung</strong>, vì nó không còn chứa đựng tính cách của <strong>tính phủ định </strong>nữa; và [hình thái] ý thức nắm lấy đối tượng của nó như là một cái tồn tại cảm tính thì chỉ [trở lại] là [hình thái] của việc <strong>“cho rằng” (Meinen)</strong> “của tôi”, nghĩa là, ý thức đã hoàn toàn đi ra khỏi việc <strong>tri giác</strong> và đã rút lui lại vào trong chính nó. Nhưng bản thân cái tồn tại cảm tính và sự “cho rằng” <strong>của tôi</strong> về “cái này” (trước đây) đều đã quá độ sang sự tri giác, còn <strong>tôi</strong> thì bị ném ngược lại điểm xuất phát và lại một lần nữa bị cuốn vào <strong>cùng </strong>cái <strong>vòng quay tròn </strong>tự thủ tiêu chính mình trong mọi yếu tố và [tự thủ tiêu chính mình] như là cái toàn bộ.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 118</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Vậy, ý thức <strong>tất yếu</strong> phải trải qua vòng quay tròn này một lần nữa, nhưng đồng thời <strong>không</strong> phải trải qua <strong>cùng một kiểu</strong> như nó đã làm trong lần thứ nhất. Lý do là vì, ý thức <strong>đã có</strong> kinh nghiệm trong việc tri giác rằng: kết quả và cái đúng thật của hành vi tri giác là sự giải thể (Auflưsung) của hành vi này, hay là sự phản tư của nó vào trong chính nó, thoát ly khỏi cái đúng thật</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(219)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Bằng cách này, ý thức đi đến chỗ xác định rõ việc tri giác của nó có bản chất thực sự như thế nào, đó là: tri giác không phải là một sự lãnh hội <strong>thuần túy</strong> và <strong>đơn giản</strong>, trái lại, trong sự lãnh hội của mình, ý thức đồng thời cũng <strong>được phản tư ra khỏi cái đúng thật và đi vào trong chính mình</strong>. Sự quay trở lại của ý thức vào trong chính mình được trộn lẫn trực tiếp với sự lãnh hội thuần túy [về đối tượng], – vì lẽ sự quay trở lại vào chính mình này đã tự cho thấy là có tính bản chất [cốt yếu] đối với việc tri giác – <strong>làm biến đổi cái đúng thật</strong>. Ý thức đồng thời nhận thức phương diện này [sự quay trở lại, sự phản tư vào chính mình] như là phương diện của riêng nó và chịu trách nhiệm về phương diện này; khi làm như thế, ý thức [hy vọng] sẽ đạt được đối tượng đúng thật trong tính thuần túy của nó.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Như vậy bây giờ, trong trường hợp tri giác, cũng giống hệt như đã xảy ra trong trường hợp của sự xác tín cảm tính [trước đây], <strong>có mặt cái phương diện của ý thức bị đẩy trở ngược lại vào trong chính nó </strong>[xem lại: §100], nhưng trước hết, không có <strong>nghĩa </strong>giống như điều này đã xảy ra trong trường hợp xác tín cảm tính, tức không phải như thể tính chân lý [sự thật, Wahrheit] của tri giác là rơi vào bên trong ý thức, trái lại, ý thức nhận rõ rằng <strong>chính sự không phải-chân lý (Unwahrheit)</strong> xuất hiện trong tri giác mới là cái <strong>rơi vào bên trong nó</strong>. Nhưng, <strong>chính nhận thức này làm cho ý thức đồng thời có năng lực vượt bỏ (aufheben) sự không phải-chân lý này</strong>: ý thức phân biệt sự lãnh hội của nó về cái đúng thật với sự không phải-chân lý của sự tri giác của nó, <strong>sửa chữa</strong> sự không phải-chân lý này, và trong chừng mực ý thức tự mình ra tay sửa chữa, thì tính chân lý, với tư cách là tính chân lý của sự tri giác, lại đương nhiên rơi <strong>vào trong chính ý thức</strong>. Vậy, sự hành xử của ý thức được ta xem xét bây giờ đây, có đặc điểm là: ý thức không còn <strong>đơn thuần</strong> tri giác nữa, mà trái lại, cũng đã <strong>có ý thức về</strong> <strong>sự phản tư</strong> của nó vào trong chính nó, và <strong>tách rời </strong>sự phản tư này ra khỏi bản thân sự lãnh hội đơn giản</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(220)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. [Sự vận hành như sau]:</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 119</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Trước tiên, tôi tri giác sự vật như một <strong>cái Một </strong>và phải bám giữ chặt sự vật trong sự quy định đúng thật này. | Nếu trong tiến trình vận động của tri giác có điều gì tỏ ra mâu thuẫn với quy định ấy, thì tôi nhận rằng đó là [do] sự phản tư <strong>của tôi</strong>. Bây giờ, trong tri giác, cũng có mặt nhiều thuộc tính khác nhau, <strong>có vẻ</strong> là các thuộc tính của [bản thân] sự vật; thế nhưng [vì] sự vật là cái Một, nên ta ý thức rằng tính dị biệt (Verschie-denheit) này – tính dị biệt qua đó sự vật sẽ ngừng không còn là cái Một nữa – là rơi vào trong ta [thuộc về phía ta]. Như vậy, trong thực tế, sự vật này chỉ có màu trắng cho mắt <strong>ta</strong>; chỉ có vị mặn cho lưỡi <strong>ta</strong>, và cũng chỉ có hình lập phương là cho xúc giác <strong>ta</strong> và v.v.. Toàn bộ tính dị biệt của <strong>các mặt</strong> này của sự vật không do ta rút ra từ sự vật, mà <strong>từ</strong> chính ta, và chúng hoàn toàn tách rời nhau bằng cách ấy cho ta, vì mắt là hoàn toàn khác với lưỡi v.v.. Như thế <strong>chính ta </strong>là <strong>cái môi trường phổ biến</strong>, trong đó các yếu tố như thế được tách rời nhau và mỗi cái tồn tại <strong>cho</strong> riêng <strong>mình (für sich)</strong>. Vậy, qua việc ta xem tính quy định là một môi trường phổ biến như là đến từ sự phản tư <strong>của ta</strong>, ta bảo tồn (erhalten) tính ngang bằng với chính mình của sự vật và tính chân lý của sự vật như là một <strong>cái Một(221)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 120</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Tuy nhiên, các mặt dị biệt này – mỗi mặt được xem là tồn tại “cho-mình” ở trong môi trường phổ biến do ý thức chịu trách nhiệm – lại đều <strong>được xác định</strong> một cách đặc thù; trắng chỉ là trắng trong sự đối lập với đen, và v.v..; và sự vật là cái Một chính là vì nó đối lập với các sự vật khác. Nhưng nó không phải như là một cái Một loại trừ những cái khác, bởi cái Một là mối liên hệ phổ biến của mình với chính mình, và sự kiện nó là cái Một thực ra làm cho nó ngang bằng với mọi cái khác; [do đó] chính thông qua tính <strong>được quy định</strong> của nó mà sự vật mới loại trừ những sự vật khác</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(222)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Cho nên bản thân những sự vật là <strong>được xác định tự mình và cho mình</strong>: chúng có <strong>các thuộc tính</strong> nhờ đó chúng tự phân biệt với những cái khác. Vì lẽ <strong>thuộc tính</strong> là thuộc tính <strong>riêng</strong> của sự vật, hay là, một tính quy định trong bản thân sự vật, nên sự vật <strong>có nhiều</strong> thuộc tính. Vì, <strong>thứ nhất</strong>, sự vật là cái đúng thật, nó <strong>tồn tại tự mình (an sich selbst)</strong>; và cái gì <strong>tồn tại nơi nó (an ihm) </strong>thì tồn tại như là cái bản chất của riêng nó, không tính tới những sự vật khác</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(223)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. | Từ đó, <strong>thứ hai</strong> là, các thuộc tính nhất định [được xác định] không chỉ vì những sự vật khác hay <strong>cho</strong> những sự vật khác, mà là nơi bản thân sự vật (an ihm selbst). | Tuy nhiên, chúng chỉ là các thuộc tính nhất định <strong>nơi sự vật (an ihm)</strong> khi chúng là <strong>nhiều</strong> thuộc tính tự phân biệt <strong>với nhau</strong>. | Và, <strong>thứ ba</strong>, trong khi chúng tồn tại như thế trong cái <strong>vật-tính (Dingheit)</strong>, chúng tồn tại tự mình và cho mình, dửng dưng với nhau. Do đó, trong tính chân lý, chính <strong>bản thân sự vật</strong> là trắng, và <strong>cũng</strong> là lập phương, và <strong>cũng</strong> là mặn v.v.., hay nói khác đi, <strong>sự vật</strong> là cái <strong>CŨNG </strong>hay cái “môi trường” phổ biến, trong đó nhiều thuộc tính tồn tại <strong>bên ngoài</strong> nhau, không đụng chạm và không thủ tiêu lẫn nhau; và nếu được “nắm lấy” như vậy, thì sự vật được nắm lấy như cái đúng thật.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 121</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Bây giờ, khi tri giác như thế, ý thức <strong>đồng thời</strong> cũng ý thức rằng nó <strong>cũng</strong> phản tư vào trong chính nó và rằng, trong việc tri giác, <strong>yếu tố đối lập </strong>với cái <strong>CŨNG</strong> xuất hiện ra. Nhưng yếu tố [đối lập] này là <strong>sự thống nhất</strong> [nhất thể] của sự vật với chính nó, một sự thống nhất loại trừ sự khác biệt ra khỏi nó. Do đó, chính sự thống nhất này là cái mà bây giờ ý thức nhận về phía mình, vì bản thân sự vật là sự <strong>cùng tồn tại của nhiều thuộc tính khác nhau và độc lập với nhau</strong>. Cho nên ta mới nói về sự vật rằng: nó là trắng, và <strong>cũng</strong> là lập phương và <strong>cũng</strong> là mặn và v.v.. Nhưng, <strong>trong chừng mực</strong> nó là trắng, thì nó <strong>không</strong> phải là lập phương, và <strong>trong chừng mực</strong> nó là lập phương và trắng, thì nó không phải là mặn và v.v.. Việc thiết định các thuộc tính này thành cái Một (Ineinsetzen)</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(224)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"> chỉ là công việc của riêng ý thức nhằm để tránh việc chúng trở thành cái Một ở trong sự vật. Nhằm mục đích này, ý thức đưa ra [ý tưởng về] cái <strong>“trong chừng mực”</strong>, nhờ đó bảo tồn các thuộc tính như là tách rời nhau và duy trì sự vật [trong ý nghĩa] như là cái <strong>CŨNG</strong>. Đúng thực ra, chính ý thức thoạt đầu làm cho mình tự chịu trách nhiệm về cái “tồn tại như là Một” này bằng cách là: cái trước đây được gọi là thuộc tính thì nay được [ý thức] hình dung như là “chất liệu [vật chất] tự do” (freie Materie) [latinh: materia libera: thuật ngữ của vật lý học đương thời] [xem: §115]. Bằng cách như vậy, sự vật được nâng lên thành cái CŨNG đích thực, vì nó trở thành một tập hợp của các chất liệu [các yếu tố hợp thành], và thay vì tồn tại như cái Một, nó trở thành một mặt bằng bao bọc chung quanh các chất liệu ấy</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(225)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 122</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Nếu ta nhìn lại điều ý thức chịu trách nhiệm trong việc đã “nắm lấy” trước đây và rồi “nắm lấy” hiện nay, cũng như điều nó vừa gán cho sự vật <strong>trước đây </strong>vàđang gán cho sự vật <strong>hiện nay</strong>, rõ ràng là ý thức đã luân phiên làm cho chính nó cũng như sự vật, <strong>cả hai</strong> khi thì trở thành một cái <strong>Một</strong> thuần túy, không có tính đa thể [“cái Một” kiểu “nguyên tử”], khi thì trở thành một cái <strong>Cũng</strong> tự giải thể thành nhiều “chất liệu” độc lập với nhau [nhiều yếu tố cấu thành độc lập]. Vậy, thông qua sự so sánh này, ý thức nhận ra rằng, <strong>không chỉ </strong>phương cách <strong>nắm lấy cái đúng thật của nó </strong>[tri giác] có chứa đựng sự dị biệt của việc lãnh hội và của việc quay trở về nơi chính nó, mà đúng hơn, <strong>cả bản thân cái đúng thật – tức sự vật – cũng tự bộc lộ trong phương cách nhị bội [nhân đôi] này.</strong></span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Như vậy, <strong>kinh nghiệm</strong> ở đây là: sự vật tự thể hiện ra <strong>cho</strong> ý thức đang <strong>lãnh hội</strong> nó bằng một phương cách nhất định, [đặc thù], nhưng <strong>đồng thời</strong>, sự vật cũng đi ra khỏi phương cách thể hiện nhất định ấy cho ý thức và đã <strong>phản tư vào trong chính nó</strong>; nói khác đi, <strong>sự vật chứa đựng nơi bản thân nó (an ihm selbst) một [tính] chân lý đối lập (eine entgegengesetzte Wahrheit)</strong> [với chính mình].</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 123</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">[III. Tiến trình hướng đến “tính phổ biến vô-điều kiện” và hướng đến “vương quốc của giác tính”:]</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Thế là, ý thức tự mình <strong>cũng đi ra khỏi</strong> [rời bỏ] phương cách <strong>thứ hai</strong> trong thái độ hành xử khi tri giác, đó là việc nắm lấy sự vật như là cái đồng nhất đúng thật, còn xem mình là cái gì không tự-đồng nhất mà quay lại vào trong chính mình, ra khỏi sự đồng nhất. | Đối với ý thức, đối tượng bây giờ <strong>là toàn bộ tiến trình vận động này </strong>mà trước đây đã được chia đều ra giữa đối tượng và ý thức</span></span><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(</span></span><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>226)</strong>. Sự vật là một cái Một, được phản tư trong chính nó; nó là <strong>cho mình</strong>, nhưng cũng là <strong>cho một cái khác</strong>; tức là một <strong>cái khác</strong> tồn tại <strong>cho</strong> mình chính <strong>bởi vì</strong> nó tồn tại <strong>cho</strong> một cái khác. Theo đó, sự vật là tồn tại cho mình và <strong>cũng</strong> là cho một cái khác: một tồn tại có sự dị biệt nhị bội, nhưng <strong>cũng</strong> là một cái Một; tính Một mâu thuẫn với tính dị biệt này của nó. | Do đó, ý thức lại phải tự chịu trách nhiệm về việc đặt tính dị biệt vào trong cái Một và tách rời việc này ra khỏi sự vật. Cho nên, ý thức [ắt] phải nói rằng, sự vật, <strong>trong chừng mực</strong> nó tồn tại <strong>cho mình</strong>, thì <strong>không </strong>tồn tại cho một cái khác. Thế nhưng, sự tồn tại-như-là Một cũng thuộc về bản thân sự vật như ý thức đã có kinh nghiệm: sự vật là được phản tư vào trong chính nó một cách bản chất. Cái CŨNG – hay là sự phân biệt dửng dưng – tất nhiên cũng rơi vào [thuộc về] sự vật giống như sự tồn tại như là MỘT, nhưng vì cả hai là khác nhau <strong>nên không thể rơi vào trong cùng một sự vật mà là trong những sự vật khác nhau</strong>. | Cái mâu thuẫn hiện diện nơi bản chất khách quan xét như cái toàn bộ chia đều ra nơi hai đối tượng. Tự mình và cho mình, sự vật quả là ngang bằng với chính mình, nhưng sự thống nhất này với chính mình bị những sự vật khác quấy rối. | Theo cách [hiểu] như thế, sự thống nhất [nhất thể] của sự vật được duy trì, và đồng thời cái tồn-tại-khác [của nó] cũng được duy trì <strong>ở bên ngoài sự vật</strong>, cũng như <strong>ở bên ngoài ý thức(227)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 124</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Bây giờ, dù đúng rằng bằng cách ấy, sự mâu thuẫn trong “bản chất khách quan” được chia ra nơi những sự vật khác nhau, thì cũng vì thế, <strong>sự phân biệt </strong>hay<strong>sự dị biệt (der </strong> <strong>Unterschied) không phải không đến </strong>với bản thân từng sự vật cá biệt, tách rời</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(228)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Như thế, <strong>những sự vật khác nhau </strong>được thiết định như là tồn tại <strong>cho-mình</strong>; và sự xung đột rơi vào trong chúng một cách tương hỗ theo kiểu mỗi cái là chỉ khác (verschieden) với cái khác chứ không phải <strong>với chính mình</strong>. Thế nhưng, qua đó, bản thân mỗi cái được xác định như là một sự vật <strong>được phân biệt</strong>, và có <strong>sự dị biệt bản chất (wesentlichen Unterschied) </strong>với những cái khác nơi chính mình, song sự dị biệt này lại không đi đến mức trở thành sự đối lập trong bản thân sự vật, trái lại, sự vật này, về mặt cho-mình, là một <strong>tính quy định đơn giản</strong> tạo nên tính cách (Charakter) bản chất của sự vật, làm cho nó phân biệt với những sự vật khác. Trong thực tế, vì lẽ <strong>tính khác biệt (Verschiedenheit) </strong>là ở trong sự vật, nên tính khác biệt này tất yếu phải hiện diện trong sự vật như là một <strong>sự phân biệt hay dị biệt hiện thực (wirklicher Unterschied) </strong>có <strong>tính chất cấu tạo (Beschaffenheit)(229) </strong>đa tạp. Nhưng bởi vì tính quy định tạo nên <strong>bản chất </strong>của sự vật, nhờ đó nó tự phân biệt với những sự vật khác và tồn tại cho-mình, nên tính chất cấu tạo đa tạp này là mặt không-bản chất. Do đó, sự vật tuy có trong tính nhất thể của nó <strong>cái “trong chừng mực” có tính lưỡng diện [hai mặt]</strong> nhưng không ngang bằng nhau về giá trị. Kết quả là: tình trạng đối lập này (Entgegengesetzt<strong>sein</strong>) không phát triển thành một <strong>sự đối lập hiện thực ở bên trong bản thân sự vật</strong>, nhưng, trong chừng mực sự vật này – thông qua <strong>sự phân biệt hay dị biệt tuyệt đối (absoluter Unterschied) </strong>của nó – đi vào trong sự đối lập, nó [mới có thể] là đối lập đối với sự vật khác ở bên ngoài nó. Tất nhiên, tính đa tạp cũng tất yếu có mặt trong sự vật, không thể tước bỏ khỏi sự vật, nhưng nó là mặt <strong>không-bản chất</strong> của sự vật</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(230)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 125</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Tính quy định này (Bestimmheit)</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(231)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"> – tạo nên tính cách bản chất của sự vật và phân biệt sự vật với mọi sự vật khác – bây giờ được xác định [được định nghĩa] theo kiểu là: sự vật – thông qua tính quy định ấy – đối lập với những sự vật khác, nhưng cũng được giả định là tự-bảo tồn <strong>cho-mình</strong> (für sich) ở trong sự đối lập này. Thế nhưng, sự vật là sự vật, hay là một cái Một tồn tại <strong>cho mình</strong> chỉ trong chừng mực nó <strong>không</strong> ở trong mối quan hệ này với những cái khác; vì lẽ trong mối quan hệ này, đúng ra người ta thiết định sự nối kết [hay sự liên tục] (Zusammenhang) với sự vật khác; và sự nối kết với sự vật khác là <strong>sự chấm dứt của cái tồn tại cho-mình</strong>. Chính là thông qua <strong>tính cách tuyệt đối (absoluter Charakter)</strong> và sự đối lập của nó mà sự vật <strong>quan hệ bản thân nó với những cái khác</strong>, và một cách bản chất, <strong>chỉ là tiến trình quan hệ này mà thôi</strong>. | Nhưng quan hệ [với cái khác] là sự phủ định tính độc lập tự chủ (Selbstständigkeit) của mình, và do đó, thực ra <strong>sự vật tiêu vong chính là do thuộc tính bản chất của nó</strong>.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 126</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Sự tất yếu của <strong>kinh nghiệm</strong>, qua đó ý thức nhận ra rằng sự vật bị tiêu vong chính bởi tính quy định (Bestimmheit) tạo nên bản chất và sự tồn tại cho-mình của nó có thể xem xét ngắn gọn theo Khái niệm đơn giản của sự tất yếu ấy như sau: Sự vật được thiết định như là tồn tại <strong>cho-mình</strong>, hay là, như <strong>sự phủ định tuyệt đối</strong> đối với mọi cái-tồn-tại-khác, vì thế là sự phủ định tuyệt đối chỉ tự-quan-hệ-với-chính-mình; nhưng [loại] phủ định như thế là sự thủ tiêu <strong>chính mình</strong>, hoặc nói cách khác, là tương đương với việc <strong>sự vật có bản chất của nó ở trong một cái khác(232)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 127</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Trong thực tế, <strong>sự quy định (Bestimmung)(233)</strong> về đối tượng, – như đối tượng đã cho thấy – không chứa đựng điều gì khác. | Đối tượng phải có một thuộc tính bản chất tạo nên sự tồn tại-cho-mình đơn giản của nó; nhưng cùng với tính đơn giản này, đối tượng cũng phải có trong chính mình <strong>tính khác biệt (Verschiedenheit)</strong>; tính khác biệt này tuy là <strong>cần thiết </strong>[tất yếu] (notwendig) nhưng không tạo nên tính quy định <strong>bản chất</strong> của nó. Đó là một sự phân biệt chỉ còn ở trong ngôn từ; cái không-bản chất lại được đồng thời giả định như là tất yếu ắt tự thủ tiêu chính nó. | Đó là điều mới vừa được gọi là <strong>sự phủ định chính mình</strong>.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 128</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Với điều này, cái <strong>“trong chừng mực”</strong> cuối cùng – vốn đã tách rời cái tồn tại cho-mình và cái tồn tại cho-cái-khác – cũng sụp đổ theo</span></span><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(234)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">. Đúng hơn, <strong>đối tượng, trong một và cùng một phương diện, là cái đối lập của chính nó; đối tượng là cho-mình, trong chừng mực nó tồn tại cho-cái khác, và tồn tại cho cái-khác, trong chừng mực là tồn tại cho-mình</strong>. Nó là cho-mình, được phản tư vào trong chính mình, là cái Một; nhưng cái tồn tại “cho-mình”, phản tư vào trong mình, cái tồn tại là Một này lại ở trong <strong>một sự thống nhất với cái đối lập của nó</strong>, [tức] với cái “tồn tại cho-cái khác”, và vì thế chỉ được thiết định như là một cái tồn tại-bị-vượt bỏ (aufgehoben); hay nói khác đi, cái tồn tại cho-mình này cũng <strong>không</strong> có tính bản chất giống hệt như cái đã được giả định rằng lẽ ra chỉ riêng nó là không-bản chất, đó là: mối quan hệ với cái khác.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 129</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Qua quá trình này, đối tượng, – trong những tính quy định thuần túy của nó hay trong những tính quy định (Bestimmhei-ten) được giả định là tạo nên <strong>tính bản chất (Wesenheit)(235)</strong> của nó – cũng bị vượt bỏ giống như khi nó đã ở trong sự tồn tại cảm tính. Phát xuất từ cái tồn tại cảm tính, đối tượng đã trở thành một cái phổ biến; nhưng cái phổ biến này – vì nó có nguồn gốc từ cái cảm tính – nên cũng bị cái cảm tính <strong>điều kiện hoá</strong> một cách bản chất, và vì thế, nói chung không phải là tính phổ biến thực sự tự-ngang bằng với chính mình, mà là một tính phổ biến <strong>bị tác động bởi một sự đối lập (ein Gegensatz)(236)</strong>. Vì thế, tính phổ biến này <strong>tự phân cắt</strong> thành những đối cực (die Extreme) giữa <strong>tính cá biệt</strong> và <strong>tính phổ biến</strong>, <strong>giữa cái Một của các thuộc tính và cái Cũng của các “vật chất [hay “chất liệu”] tự do”</strong>. Các tính quy định thuần túy này <strong>có vẻ</strong> như diễn đạt được bản thân <strong>tính bản chất</strong>, nhưng [thực ra] chúng chỉ đơn thuần là một cái tồn tại cho-mình bị tác động bởi cái tồn tại cho-cái-khác. | Nhưng vì lẽ cả hai đều tồn tại một cách bản chất ở trong một <strong>nhất thể duy nhất</strong> [như vừa nói trên kia] nên <strong>bây giờ</strong> ta có trước mắt <strong>tính phổ biến tuyệt đối vô-điều kiện</strong>, và chính ở đây, <strong>ý thức lần đầu tiên mới thực sự bước vào vương quốc của GIÁC TÍNH (Reich des VERSTANDES)(237)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 130</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Vậy, tính cá biệt cảm tính [“cái Này”] tuy đã tiêu biến đi trong tiến trình vận động biện chứng của sự xác tín trực tiếp [tức “sự xác tín cảm tính” ở Chương I] và trở thành tính phổ biến, nhưng chỉ là <strong>tính phổ biến cảm tính</strong>. Sự “cho rằng” [của tôi] đã tiêu biến, và tri giác nắm lấy đối tượng như nó tồn tại <strong>tự-mình</strong>, hay như là cái <strong>phổ biến nói chung</strong>; tính cá biệt, do đó, lộ diện (hervortritt) ra trong tri giác như là tính cá biệt đúng thật, như cái <strong>tồn tại tự-mình</strong> của cái Một, hay như sự tồn tại đã được phản tư vào trong chính nó. Thế nhưng, nó vẫn còn là một cái tồn tại cho-mình <strong>có điều kiện</strong>, <strong>bên cạnh nó </strong>còn tạo ra một cái tồn tại cho-mình <strong>khác</strong>, tức là tính phổ biến đối lập lại với tính cá biệt và bị cái cá biệt điều kiện hoá. | Nhưng hai cái đối cực mâu thuẫn nhau này không chỉ tồn tại <strong>bên cạnh nhau</strong>, mà là ở trong MỘT nhất thể duy nhất, hay, đồng nghĩa như thế, là tính cách chung (das Gemeinschaftliche) cho cả hai: cái “tồn tại cho-mình” bị tác động bởi cái đối lập nói chung, nghĩa là, nó đồng thời <strong>không</strong> phải là một cái “tồn tại cho-mình”. <strong>Sự ngụy biện(238)</strong> của [quá trình] tri giác tìm đường cứu vãn các yếu tố này ra khỏi sự mâu thuẫn của chúng, và tìm cách nắm bắt (ergreifen) cái đúng thật thông qua việc phân biệt giữa <strong>các “phương diện”</strong>, thông qua việc bám chặt (festhalten) lấy cái <strong>“CŨNG” </strong>và cái <strong>“TRONG CHỪNG MỰC”</strong>, và sau cùng, thông qua việc phân biệt “cái không-bản chất” với một “cái bản chất” đối lập với nó. Nhưng các thủ đoạn tìm tòi này – thay vì tránh xa sự nhầm lẫn trong tiến trình lãnh hội – thực ra đã tự chứng tỏ là trống rỗng, vô hiệu; và <strong>cái đúng thật</strong> – được giả định sẽ đạt được thông qua lô-gíc này của [tiến trình] tri giác – cho thấy là <strong>cái đối lập (das Gegenteil) [của chính nó] trong Một và trong cùng Một phương diện</strong>, và do đó, chỉ có một <strong>tính phổ biến không-được-phân-biệt và không-có-sự-quy-định </strong>làm [nội dung] bản chất của nó.</span></span></span></p><p></p><p style="text-align: center"><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">§ 131</span></span></strong></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>Những sự trừu tượng trống rỗng </strong>này về “tính cá biệt” và về “tính phổ biến” đối lập lại với tính cá biệt, cũng như về cái “bản chất” lại gắn liền với một cái không-bản chất, về “cái không-bản chất” lại đồng thời là tất yếu; đó là những quyền năng mà “trò chơi” tương tác của chúng chính là thứ giác tính tri giác, hay còn thường được gọi là <strong>“giác tính lành mạnh của con người” </strong>(gesunder Menschenverstand). | “Giác tính lành mạnh” này tự cho rằng mình là ý thức thực sự vững vàng, xác thực (gediegn real) nhưng tiến trình tri giác thực chất chỉ là <strong>trò chơi của các sự trừu tượng này</strong>; nói chung, nó bao giờ cũng là nghèo nàn nhất ở nơi mà nó “cho rằng” dường như là phong phú nhất. Trong khi nó quanh quẩn với những “thực thể” trống rỗng này, hết bị xô đẩy vào tay cái này lại bị xô đẩy vào tay cái khác; rồi, bằng sự ngụy biện, cố bám chặt lấy và khẳng quyết một “thực thể” để sau đó lại tới phiên bám giữ và khẳng quyết chính cái đối lập ngược lại, nó tự đặt mình chống lại chân lý mà lại <strong>“cho rằng”</strong> triết học chỉ làm việc với những “Vật tư tưởng” (Gedankendinge) [những ý niệm đơn thuần]. Trong thực tế, triết học quả là vẫn làm việc với chúng [những “vật-tư tưởng”] và thừa nhận chúng là những bản chất thuần túy, là những yếu tố và quyền lực tuyệt đối, nhưng <strong>đồng thời</strong> cũng nhận thức rõ về chúng trong <strong>tính quy định</strong> của chúng (in ihrer Bestimmheit), do đó, triết học <strong>làm chủ </strong>được chúng; trong khi đó, thứ giác tính tri giác nọ [hay “giác tính lành mạnh”] lại nắm lấy chúng như là cái đúng thật và bị chúng dẫn dắt từ sai lầm này đến sai lầm khác. Bản thân tri giác không đến được với ý thức rằng chính những tính bản chất đơn giản này đang hoạt động và chế ngự bên trong nó; nó lại tưởng rằng lúc nào <strong>cũng đang được làm việc với chất liệu có thực thể và với nội dung hoàn toàn vững chắc</strong>; giống như sự xác tín cảm tính đã không ý thức rằng bản chất của nó chỉ là sự trừu tượng trống rỗng của cái <strong>tồn tại thuần túy</strong>. | Nhưng trong thực tế, chính những yếu tố bản chất này làm cho thứ giác tính tri giác ấy phải chạy tới chạy lui thông qua tất cả những loại chất liệu và nội dung ấy; chúng là sức mạnh cố kết và làm chủ nội dung này [của tri giác]; chỉ có chúng mới tạo nên bản chất của những sự vật cảm tính cho ý thức; xác định các mối quan hệ của <strong>cái cảm tính </strong>này với ý thức; và tiến trình của tri giác lẫn của “cái đúng thật” của tri giác diễn ra không ở đâu khác hơn là ở bên trong chúng. Trình tự của quá trình này, một sự xác định luân phiên liên tục của cái đúng thật và của sự vượt bỏ sự xác định ấy đã thực sự tạo nên đời sống và hoạt động hàng ngày và bền bỉ của ý thức tri giác, của thứ ý thức tưởng rằng mình đang vận động ở trong chân lý. Ý thức cứ tiến lên trong tiến trình ấy một cách không ngừng nghỉ cho đến kết quả cuối cùng, là khi những yếu tố bản chất tối hậu hay những tính quy định này đều <strong>bị vượt bỏ </strong>như nhau; nhưng trong mỗi yếu tố riêng lẻ [cá biệt], ý thức tri giác chỉ đơn thuần ý thức về <strong>một</strong> tính quy định được cho như là cái đúng thật, và rồi lại quay sang cái đối lập. Nó không phải không nghi ngờ tính không-bản chất của chúng, và để cứu vãn chúng ra khỏi nguy cơ đang đe dọa, nó lại chuyển sang dùng lối ngụy biện: nay khẳng định là cái đúng thật chính cái mà bản thân nó mới trước đó đã khẳng định là không phải cái đúng thật. Điều mà bản tính tự nhiên của các “thực thể không thật” này thực sự muốn ép buộc giác tính [tri giác] này phải làm, đó là hãy <strong>kết hợp chung lại (zusammenbringen)</strong> và qua đó <strong>vượt bỏ các ý tưởng </strong>về “tính phổ biến” và “tính cá biệt”, về cái “Cũng” và cái “Một”, về “tính bản chất” mà lại <strong>tất yếu </strong>nối kết với một “tính không-bản chất”, và về một cái “không-bản chất” mà lại “tất yếu”. | Thế nhưng giác tính [tri giác], ngược lại, cứ ra sức tránh né việc làm này bằng cách bám chặt vào các chỗ dựa là sử dụng các cách nói <strong>“trong chừng mực”</strong>, <strong>“các phương diện khác nhau”</strong>, hoặc là tự nhận trách nhiệm về một ý tưởng để tách rời nó với những ý tưởng khác và duy trì nó như là ý tưởng đúng thật. Thế nhưng, <strong>chính bản tính tự nhiên của những cái trừu tượng [trống rỗng] này sẽ tự kết hợp lại với nhau đúng như chúng tồn tại tự-mình và cho-mình</strong>; còn “giác tính lành mạnh” [tri giác] mới thực là con mồi cho chúng, bị chúng đẩy vào vòng xoáy của riêng chúng. Khi “giác tính” [tri giác] muốn mang lại tính chân lý cho chúng bằng cách khi thì nhận sự không phải-sự thật của chúng về phía mình, khi thì gọi sự lừa dối [của chúng] chỉ là một vẻ bề ngoài của tính không đáng tin cậy [không chắc chắn] của những sự vật, tách rời cái bản chất ra khỏi một yếu tố tất yếu đối với chúng và xem là không-bản chất, rồi lấy cái trước làm cái đúng thật của chúng để chống lại cái sau: khi “giác tính” [tri giác] cứ làm như vậy, nó <strong>không </strong>đảm bảo tính chân lý cho những cái trừu tượng trống rỗng này, nhưng lại tự mang lại tính không phải-chân lý <strong>cho bản thân mình</strong>.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(còn nữa)</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Nguồn: Georg Wilhelm Friedrich Hegel. 2006. <em>Hiện tượng học tinh thần (Phänomenologie des Geistes)</em>. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Hà Nội: Nxb. Văn học. Bản điện tử của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn. Bản đăng trên triethoc.edu.vn có sự cho phép của dịch giả.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(203)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"> Cái Tôi như là <strong>“cái Tôi suy tưởng”</strong>; đối tượng là <strong>“đối tượng có quảng tính”</strong>, chứ không còn là “con người <strong>này</strong>” và “cái <strong>này</strong>” cá biệt.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(204)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Ta luôn ghi nhớ <strong>hai giác độ</strong> xem xét hiện tượng học: <strong>cho ta (für uns)</strong>, tức đối với nhà hiện tượng học nhìn lại toàn bộ tiến trình đã qua, thì tri giác cũng chỉ là một tiến trình biện chứng: nó là <strong>kết quả</strong> của tiến trình xác tín cảm tính trước đây. Nói khác đi, “cho ta”, “cái này cá biệt” đã bị “vượt qua”, “thuộc về quá khứ”. Trong khi đó, đối với ý thức hiện tượng học đang chìm đắm trong diễn trình kinh nghiệm (tức: <strong>“tự mình”/“an sich”</strong>), thì cái này cá biệt “đã bị thủ tiêu, bị vượt bỏ” (aufgehoben) (mà nó không biết tại sao) và đối tượng bây giờ là đối tượng <strong>mới mẻ</strong> đối với nó. Do đó, <strong>Hegel</strong> rất thường dùng thuật ngữ <strong>“an sich oder für uns” (“tự-mình” hay “cho-ta”)</strong> để chỉ cái gì mới là tiềm năng và không-được bản thân cái ấy nhận biết nhưng lại được “ta” [triết gia hay người đứng ngoài quan sát tiến trình] nhận biết. (Xem: Chú giải dẫn nhập 4.2).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(205)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Cho ta”</strong>hay là <strong>“tự-mình” </strong>(tự nơi bản thân cấp độ nhận thức), <strong>cái phổ biến </strong>là Bản thể chung của sự vật lẫn của chủ thể tri giác; tuy nhiên, chủ thể tri giác là <strong>tiến trình vận động</strong> lãnh hội đối tượng, còn đối tượng cũng là <strong>tiến trình vận động</strong> này nhưng như là cái được lãnh hội.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(206)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Cũng giống như trong kinh nghiệm của sự xác tín cảm tính trước đây, đối tượng trước hết được thiết định như là cái bản chất, còn ý thức như là cái không-bản chất. Tiến trình tự kiểm tra lại bắt đầu.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(207)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>Hegel</strong>dùng lại chữ “trò phụ diễn” (Beiherspielen): trong sự xác tín cảm tính, cái cá biệt chỉ là một “ví dụ”, một “trường hợp điển hình”, tách rời với cái bản chất phổ biến của nó. Trong tri giác, sự phong phú của cái biết có sự đối ứng ở cả hai phía: người tri giác và cái được tri giác.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(208)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>Vd</strong>: quả chanh có hình tròn, vị chua...: “tròn”, “chua”... là các thuộc tính <strong>phổ biến</strong> có chung với nhiều sự vật khác.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(209)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Thuộc tính, tức “cái này cảm tính đã được vượt bỏ”, là đối tượng đích thực của tri giác. Trong sự phát triển biện chứng của nó, như sẽ thấy, đối tượng này sẽ hình thành hai đối cực: tính phổ biến của vật tính và tính cá biệt tuyệt đối của sự vật.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(210)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Theo J.H, chữ <strong>“diễn tả”</strong> hay <strong>“diễn đạt” (ausdrücken) </strong>là thuật ngữ của <strong>Spinoza</strong>. Toàn bộ vận động của tri giác là ở chỗ đi từ Bản thể (nhất thể khẳng định) sang đơn tử (Monade) (nhất thể phủ định); từ vật tính sang Lực, từ thuyết cơ giới sang động học.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(211)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Sự quy định này mới giải thích được tính phủ định của chúng. Trong học thuyết <strong>Spinoza</strong>, theo Hegel, biểu hiện đích thực của tính phủ định không phải là ở trong <strong>thuộc tính (Attribute)</strong> mà ở trong <strong>thể cách (Modus)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>212)</strong><strong>“frei von”</strong>...: thoát ly khỏi...</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(213)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Môi trường” và “cái Cũng dửng dưng”:</strong>“Môi trường” theo nghĩa ban đầu là “môi trường vật lý”. Cái “không gian” cho những thuộc tính là cái phổ biến của chúng, là sự thống nhất <strong>chung</strong> của chúng (vd: hạt muối). Các thuộc tính (vd: trắng, vuông, mặn...) tham gia vào tính phổ biến thuần túy này thì bản thân cũng có tính phổ biến (vd: trắng, vuông, mặn... là thuộc tính phổ biến của nhiều sự vật khác). Nhưng “môi trường” này, tuy là bản thể, nhưng không phải là <strong>tính phủ định tuyệt đối</strong>. Nó là <strong>tính phổ biến khẳng định</strong> chứ chưa phải là nhất thể phủ định, chưa phải là “cái Một loại trừ” như sẽ thấy ở sau (vd: mặn loại trừ ngọt...); do đó <strong>Hegel</strong> gọi nó là <strong>cái Cũng (das Auch)</strong> của những thuộc tính. Trong <strong>Lô-gíc học ở thời kỳ Jena</strong> (W.XVIII a, tr. 36), <strong>Hegel</strong> cũng đã gọi cái Cũng này là <strong>cái Và (das Und)</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(214)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Bước chuyển sang cái đối lập: từ nhất thể <strong>khẳng định</strong> sang nhất thể <strong>phủ định</strong>, từ <strong>vật tính</strong> sang <strong>sự vật</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(215)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Các chất liệu” (Materien):</strong>tức các <strong>“chất liệu tự do”</strong> trong vật lý học đương thời. Những thuộc tính được hình thành trong “chất liệu” nhiệt, điện, từ v.v..</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(216)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Sự vật được hình thành nên cho ta như là sự mâu thuẫn giữa tính nhất thể phủ định và tính phổ biến. Sau đây, ý thức hiện tượng học ở cấp độ tri giác sẽ trải nghiệm về sự vật với mâu thuẫn cơ bản này. Chỉ khi ý thức tri giác tự nâng mình lên đến sự thống nhất giữa hai mặt đối lập này, nó mới trở thành “giác tính” (Chương III). Bấy giờ, như ta sẽ thấy, sự vật là <strong>Lực</strong> như <strong>Phạm trù hợp nhất</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(217)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Đây là thái độ <strong>đầu tiên</strong> của tri giác: thái độ <strong>“giáo điều ngây thơ”</strong>, khi khẳng định rằng đối tượng <strong>phải</strong> là cái gì ngang bằng với chính nó. Nhưng, cũng chính kinh nghiệm đầu tiên cho ý thức <strong>biết</strong> rằng ý thức có thể “tự lừa dối mình” (như nhan đề của Chương này). Kinh nghiệm đầu tiên này sẽ dẫn ý thức từ lập trường <strong>giáo điều </strong>đến lập trường <strong>phê phán</strong> (như của <strong>John Locke</strong>).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(218)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>Nghịch lý (Antinomie) </strong>của cái bản chất khách quan nói chung: tính liên tục và tính bất-liên tục.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(219)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Tức là sự phản tư đi từ cái đúng thật (đối tượng) vào lại trong chính mình (Chủ thể). (Giống như bước kiểm tra <strong>thứ hai</strong> của sự xác tín cảm tính trước đây: ý thức “bị xua đuổi ra khỏi đối tượng” và “quay trở lại tìm sự thật ở trong chính mình”: §100). Nhưng, như sẽ thấy ở các giòng sau, chỗ <strong>khác</strong> với trước đây là tri giác không đi tìm cái đúng thật ở trong chính mình mà lại thấy <strong>chính mình</strong> phạm sai lầm.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(220)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Đây là quan điểm <strong>phê phán</strong> tương ứng với quan điểm của <strong>John Locke</strong>. Ý thức-tri giác <strong>nhận trách nhiệm về mình</strong> những gì đã tạo ra sự mâu thuẫn ở trong sự vật. Ý thức ấy biết phân biệt sự phản tư (phê phán) của mình với sự lãnh hội (đơn giản) của mình; nhưng, <strong>nó chưa</strong> <strong>biết rằng</strong>, trong chừng mực nó tự tiến hành việc phê phán đối với tri giác của mình, thì <strong>sự thật hay chân lý “rơi vào bên trong nó” </strong>(chứ không phải sự thật khách quan).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(221)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Như thế, những thuộc tính dị biệt của sự vật là chỉ thuộc về tôi và thuộc về cảm năng đa tạp của cái Tôi. Môi trường <strong>đúng thật</strong>, trong đó những thuộc tính ấy tự phân biệt nhau, là cái Tôi. Sự vật là cái <strong>Một</strong>, nhưng xuất hiện ra như là đa tạp (trắng, mặn, vuông...) là do sự phân tán của nó ở trong môi trường này.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(222)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Trong chừng mực là <strong>sự vật</strong>, thì sự vật nào cũng như sự vật nào, không phân biệt với sự vật khác; do đó những tính quy định (những thuộc tính) <strong>phải</strong> thuộc về bản thân sự vật (chứ không phải thuộc về chủ thể). Những thuộc tính cũng <strong>phải</strong> dị biệt và đa tạp <strong>ngay trong</strong> sự vật, nếu không, sự vật sẽ không được xác định tự-mình và cho-mình.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(223)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“An sich”</strong>và <strong>“An ihm”</strong>: trong thuật ngữ của <strong>Hegel</strong>, ông phân biệt giữa <strong>cái tự-mình (an-sich)</strong>, tức bản tính <strong>bên trong</strong> hay tiềm năng của sự vật với <strong>cái nơi nó (an ihm)</strong>, tức cái thể hiện cái bản tính bên trong đối với những sự vật khác và cho phép nó tương tác với những sự vật khác. (Vd: con người <strong>tự mình</strong> là có bản tính <strong>suy tưởng</strong> (có những tư tưởng ở bên trong và có năng lực suy tưởng), theo nghĩa đó, năng lực suy tưởng là <strong>tự-mình</strong>, là <strong>tính quy định (Bestimmheit)</strong> của con người, phân biệt với những tạo vật khác. Còn khi cái <strong>“tự mình”</strong> này được hiểu như cái gì phải diễn ra hay phải <strong>“ở nơi nó” (an ihm)</strong>, tức được thể hiện ra bằng lời nói và hành động có suy nghĩ, thì bấy giờ suy tưởng là <strong>sự quy định (Bestimmung)</strong> của con người. “Sự quy định” có thể “được thực hiện” hoặc không. Nếu được thực hiện (tức có hành vi hoàn toàn hợp lý tính) thì <strong>“sự quy định”</strong> ấy chính là <strong>“tính quy định”</strong>.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Một ví dụ khác: đứa bé <strong>tự-mình</strong> là có lý tính, nhưng chỉ mới là tiềm năng, chưa “hiện thực” (wirklich), chưa “cho cái khác” hay chưa <strong>“nơi nó” (an ihm)</strong>. Trong trường hợp đó, cái <strong>“tự-mình”</strong> không khác gì cái <strong>“cho-ta” (für uns)</strong>, tức cái gì mới là tiềm năng và chưa được <strong>bản thân nó</strong> biết đến, trái lại, chỉ mới được <strong>ta</strong> (triết gia hay người quan sát ở bên ngoài) biết mà thôi. (Xem: <strong>Hegel: Khoa học Lô-gíc</strong>, I, tr. 112). (Xem thêm: Chú giải dẫn nhập : 4.2).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(224)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Trong tiến trình trước, ý thức là “môi trường” của những thuộc tính khác nhau, thì bây giờ nó là hành vi <strong>hợp nhất</strong> những thuộc tính này lại.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(225)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Vậy chỉ còn những “chất liệu tự do” tương tác với nhau tại “một chỗ”. Chúng không được hợp nhất với nhau trong đối tượng; việc hợp nhất thành một <strong>sự vật cá biệt </strong>chỉ là công việc của chủ thể.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(226)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Tính nhị nguyên giữa sự lãnh hội và sự phản tư bây giờ được tri giác ở trong sự vật.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(227)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Ý thức tri giác có xu hướng loại bỏ cái tồn tại-khác ra khỏi ý thức lẫn khỏi sự vật cá biệt. Nhưng, <strong>Hegel</strong> sẽ cho thấy cái tồn tại-khác tất yếu chuyển hóa <strong>vào bên trong</strong> sự vật. Ở đây, <strong>Hegel</strong> muốn tránh mọi cách giải quyết theo kiểu duy tâm chủ quan.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(228)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Unterschied” và “Verschiedenheit”:</strong>trong thuật ngữ của <strong>Hegel</strong>, cần phân biệt giữa hai chữ: <strong>“Unterschied”</strong> (đối lập với Identität/tính đồng nhất) được dịch vừa là <strong>sự phân biệt</strong> (Anh/Pháp: <strong>distinction</strong>), vừa là <strong>sự dị biệt</strong> (Anh/Pháp: <strong>difference</strong>) có tính “chủ động”, như là <strong>kết quả</strong> của một tiến trình <strong>tự-phân biệt</strong>, <strong>tự-dị biệt hóa</strong>. Còn <strong>“Verschiedenheit”</strong> (tạm dịch là <strong>“tính khác biệt”</strong>/Anh: <strong>diversity</strong>; Pháp: <strong>diversité</strong>) thì có nghĩa “bị động” hơn là <strong>Unterschied</strong>, nó <strong>không</strong> chứa đựng một tiến trình <strong>tự</strong>-phân biệt chủ động. Đặc điểm của <strong>“Verschiedenheit”</strong> là: <strong>những cái khác nhau</strong> (<strong>verschiedene</strong> Dinge) là dửng dưng (gleichgültig) đối với <strong>sự phân biệt hay sự dị biệt (Unterschied) </strong>giữa chúng với nhau !.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(229)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Beschaffenheit”: “tính chất cấu tạo”:</strong>mặt biến dịch và hời hợt bên ngoài đối lập với bản tính bất biến bên trong. Vd: những mặt “tự nhiên” (thân thể) và cảm năng (ngũ quan) của con người so với bản tính có tư duy của con người. Tất nhiên, có thể làm cho “tính chất cấu tạo” tương ứng với bản tính trong chừng mực nào đó.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(230)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Ý thức muốn tránh <strong>sự đối lập</strong> ở bên trong sự vật, nên phân biệt một bên là tính quy định <strong>bản chất</strong> của sự vật, là cái làm cho nó tách rời với những sự vật khác và bên khác là một <strong>tính chất cấu tạo đa tạp (mannigfaltige Beschaffenheit) </strong>không-bản chất, tuy vẫn cần thiết. Sự phân biệt này không đứng vững được: tính khác biệt (Verschiedenheit) cũng là tất yếu để sự vật được xác định và được phân biệt (unterschieden).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(231)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">“<strong>Bestimmheit”: “tính quy định”:</strong> còn hiểu là “tính quy định về chất”. <strong>Hegel</strong> tiếp thu quan niệm của <strong>Spinoza</strong> rằng “mọi khẳng định là phủ định”, theo đó một sự vật hay Khái niệm chỉ được <strong>xác định</strong> là nhờ vào sự đối lập của nó với những sự vật hay với những Khái niệm khác. Do đó, “tính quy định” luôn gắn liền với sự phủ định, nói lên bản tính của một cái gì để phân biệt với cái khác. (Xem: <strong>Khoa học lô-gíc:</strong> Phần I: Học thuyết về Tồn tại).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(232)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Hoạt động của sự phủ định ở trong cái tồn tại-cho mình là sự tự-phủ định chính mình hay là sự quay trở lại với cái phổ biến.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(233)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Bestimmung” (“sự quy định”):</strong>thuật ngữ quan trọng của <strong>Hegel</strong>, thường hiểu tương đương với <strong>“Khái niệm” (Begriff) </strong>về/của sự vật. (<strong>Hegel</strong> thường phân biệt <strong>“tính quy định”/“Bestimmheit”</strong> và <strong>“sự quy định”/“Bestimmung”</strong>, chẳng hạn trong hai cách hiểu về chữ <strong>“thực sự” (reell)</strong>: <strong>“một con người thực sự”</strong> là khác với pho tượng vì nó có <strong>“tính quy định” </strong>[về chất]/<strong>“Bestimmheit”</strong> của một con người (vd: có lý trí); đồng thời, cũng có nghĩa là <strong>“một con người thực sự”</strong> chỉ khi <strong>thực hiện trọn vẹn “sự quy định” hay “vận mệnh”/“Bestimmung” </strong>(hay <strong>“Khái niệm”</strong> về con người), đó là, khi <strong>thực sự</strong> suy nghĩ và hành động có lý trí). <strong>Xem:</strong> <strong>Khoa học Lô-gíc</strong>, P.I. (và chú thích 223 cho §120).</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(234)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Đó là cái đã tách rời sự thống nhất và tính đa tạp của sự vật. Những sự đối lập đa tạp (cái Cũng và cái Một; cái tồn tại-cho mình và tồn tại-cho cái khác; cái không-bản chất và cái bản chất) mà Ý thức cố <strong>tách ra</strong> khỏi sự vật thì thực ra là những gì <strong>tạo nên</strong> sự vật. Cái phổ biến – bị tác động bởi ý thức tri giác từ bên ngoài – là cái phổ biến có-điều kiện (bị ý thức điều kiện hóa) sẽ trở thành <strong>cái phổ biến vô-điều kiện </strong>vì nó sẽ là tiến trình vận động <strong>của cái đối lập tự tạo ra cái đối lập của chính mình</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(235)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Wesenheit” (“tính bản chất”): (Anh/Pháp: essentiality/essentialité):</strong>thuật ngữ của <strong>Hegel</strong> chỉ cái gì tạo nên <strong>bản chất</strong> của một sự vật. (Khi ở dạng “số nhiều”: <strong>“Wesenheiten”</strong>, thì tương đương với <strong>“các quy định phản tư”/ Reflexionsbestimmungen</strong> (“đồng nhất”, “dị biệt”, “mâu thuẫn”...), tức các quy định tạo nên bản chất của <strong>những</strong> sự vật và được tạo ra <strong>bởi</strong> sự phản tư hay tương thích <strong>với</strong> sự phản tư, được nghiên cứu trong Chương II của <strong>“Học thuyết về Bản chất”</strong>, phần 2 của <strong>Khoa học Lô-gíc. </strong>Xem: <strong>Khoa học Lô-gíc</strong>, Meiner, II, tr. 24-59.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(236)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“Gegensatz” (“sự đối lập”) (Anh/Pháp: opposition)</strong>hình thành từ thế kỷ 15 để dịch chữ latinh <strong>“oppositio”</strong> (từ chữ <strong>“opponere”</strong>: đặt ngược lại). Thường được Hegel dùng đồng nghĩa với chữ <strong>“Entgegensetzung”</strong> (sự đối lập, từ chữ gốc: <strong>Setzen</strong>: thiết định). Ông cũng dùng chữ <strong>“Polarität” </strong>(sự đối lập phân cực) có nguồn gốc Hy Lạp, hình thành từ thế kỷ 18, và chữ Đức ròng: <strong>“Gegenteil”</strong> (cái đối lập, cái ngược lại) (xem §130). Chữ “sự đối lập” có nguồn gốc xa xưa trong triết học phương Tây. Người Hy Lạp thường xem thế giới được cấu tạo bởi những lực, chất hay bản thể đối lập (vd: nước-lửa; nóng-lạnh; ướt-khô...) (Anaximander, Pythagore, Heraklit). <strong>Platon</strong> và <strong>Aristote</strong> xem sự biến dịch là sự chuyển hóa từ một cái đối lập sang cái đối lập khác, cũng như xem những sự vật trung gian như là sự pha trộn của những cái đối lập (vd: màu sắc là sự pha trộn khác nhau giữa trắng và đen).</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Quan niệm cho rằng các sự đối lập sẽ kết hợp lại và được hợp nhất trong cái Vô-tận (Thượng đế) là của <strong>Nicolas Cusanus</strong> (vd minh họa của ông: đường kính của vòng tròn tăng lên thì độ cong của chu vi giảm đi; nên nếu đường kính tăng lên đến vô tận, nó sẽ thống nhất với đường thẳng!) và của G. Bruno. <strong>Goethe</strong> và <strong>phái lãng mạn</strong> xem thế giới là sự đối lập hay phân cực. <strong>Hamann</strong> đề ra nguyên tắc về sự thống nhất các sự đối lập chống lại các sự nhị phân của <strong>Kant</strong> và nguyên tắc này giữ vai trò trung tâm trong triết học <strong>Schelling</strong>.</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Sự đối lập cũng là một đặc điểm của khái niệm và mệnh đề. <strong>Aristote</strong> phân biệt mệnh đề đối lập (vd: “mọi A là B” và “không A nào là B”) với mệnh đề mâu thuẫn (“Mọi A là B” và “một số A là không-B”). Với <strong>Hegel</strong>, sự đối lập (Ggensatz) bao hàm cả sự mâu thuẫn (vd: “là A” và “là không-A”) lẫn sự tương phản (“đen” và “trắng”). Quan niệm về sự đối lập có vai trò trung tâm trong tư tưởng Hegel và gồm các đặc điểm sau:</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- <strong>Một sự vật chỉ có một cái đối lập</strong>: nếu “bắc” đối lập với “nam”, nó không thể đối lập với cái gì khác (đây là tư tưởng bắt nguồn từ Platon và Aristote: nếu “bén” vừa đối lập với “phẳng” và “cùn”, chữ “bén” hẳn có hai ý nghĩa (Aristote).</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- <strong>Nếu hai sự vật đối lập nhau, chúng thiết yếu tác động lẫn nhau và không thể tách rời nhau</strong>: (Vd: hai cực của nam châm; cái xấu, cái ác là điều kiện tất yếu của cái thiện, do đó không thể loại trừ cái ác ra khỏi thế giới, thậm chí ra khỏi cá nhân con người).</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- <strong>Đối với một số sự đối lập, không chỉ mỗi cái đối lập đòi hỏi có cái khác mà mỗi cái cũng là hay cũng trở thành cái khác.</strong></span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- <strong>Một số cái đối lập không thể phân biệt với nhau từ bản thân chúng mà chỉ từ sự đối lập giữa chúng với nhau</strong>: (Vd: hai cực của nam châm không có sự dị biệt “tự thân”, vì thế Hegel không gọi chúng là “giống nhau”/“khác nhau” mà gọi là “cùng tên”/“khác tên” khi chúng hút hoặc đẩy nhau. (Xem: Chương III, §156 và tiếp).</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- <strong>Các cái đối lập chuyển hóa sang nhau khi chúng đạt đến cực điểm</strong>: Vd: lý giải ví dụ trên đây của Nicolas Cusanus theo <strong>tính vô tận </strong>“tốt”, “đúng thật” (xem chú thích 270); sự chuyển hóa trong quan hệ Chủ-Nô (xem Chương IV, §178 và tiếp); chuyển hóa của các khái niệm đối lập như là động lực của phép biện chứng: vd: tồn tại thuần túy trở thành hư vô thuần túy và ngược lại. (Khoa học lô-gíc).</span></span></span></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">- Khác Schelling, Hegel không xem các cái đối lập là trở thành (hay bắt nguồn từ) một cái Tuyệt đối trung tính hay điểm bất phân biệt mà chuyển hóa sang cái khác ở cực điểm của chúng. Sự hợp nhất tối hậu của chúng ở trong “Ý niệm tuyệt đối” cũng không phải là sự trung tính trần trụi mà là một <strong>tính toàn thể cụ thể </strong>hay là <strong>Hệ thống</strong>, vượt bỏ sự đối lập nhưng không “thủ tiêu” nó. Tuy nhiên, nhìn chung, quan niệm của Hegel về sự đối lập có tính minh họa, miêu tả hơn là có hệ thống, vì ông không phân biệt thực rõ những loại hình khác nhau của sự đối lập lẫn những phương thức đối lập của chúng. (Xem thêm: chú thích 285 cho §160 <strong>về “sự mâu thuẫn” (der Widerspruch)).</strong></span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(237)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">Đúc kết tiến trình và bước chuyển sang <strong>Giác tính</strong>: Cái phổ biến thoát thai từ tri giác cảm tính đã để tính đa tạp <strong>ở bên ngoài</strong> mình. <strong>Từ nay</strong>, nhất thể tự phản tư vào trong tính đa tạp, và tính đa tạp tự phản tư vào trong tính nhất thể. Các yếu tố không còn được đặt tách rời nhau mà chuyển hóa sang nhau. Bản chất khách quan sẽ là <strong>Lực</strong> (Chương III, §136) và hình thái ý thức nắm bắt yếu tố này <strong>ở trong</strong> yếu tố kia sẽ là <strong>Giác tính</strong>.</span></span></span></p><p></p><p></p><p><span style="font-family: 'times new roman'"><strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px">(238)</span></span></strong><span style="font-family: 'Arial'"><span style="font-size: 15px"><strong>“die Sophisterei” </strong>(“sự ngụy biện”): Lô-gíc của tri giác là lô-gíc ngụy biện (“trong chừng mực”, “cái Một”, “cái Cũng”...) hòng cứu vãn tính nhất thể cứng nhắc của sự vật.</span></span></span></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="PHÚC KEYNES, post: 95828, member: 147652"] [b]Hegel- hiện tượng học tinh thần (phần 2)[/b] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]G. W. G. Hegel[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4][B]Bùi Văn Nam Sơn [/B]dịch và chú giải[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]Nxb. Văn học, 2006[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]--- o0o ---[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [CENTER] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4][Phần 2][/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [B][B][FONT=times new roman][I][FONT=Arial][SIZE=4]II[/SIZE][/FONT][/I][/FONT][/B][/B] [CENTER][B][FONT=times new roman][I][FONT=Arial][SIZE=4]TRI GIÁC[/SIZE][/FONT][/I][/FONT][/B] [B][FONT=times new roman][I][FONT=Arial][SIZE=4]HAY LÀ[/SIZE][/FONT][/I][/FONT][/B] [B][FONT=times new roman][I][FONT=Arial][SIZE=4]SỰ VẬT VÀ SỰ LỪA DỐI [CỦA NÓ][/SIZE][/FONT][/I][/FONT][/B] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 111[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Sựxác tín trực tiếp không chiếm lĩnh được[B]cái đúng thật[/B], vì sự thật của nó là [B]cái phổ biến[/B], trong khi nó lại muốn nắm lấy cái [B]Này[/B] [cá biệt]. Ngược lại, [B]tri giác[/B] nắm lấy cái đang tồn tại đối với nó, như là [B]cái phổ biến[/B]. Cũng như tính phổ biến là [B]nguyên tắc[/B] của tri giác nói chung, các yếu tố tự phân biệt trực tiếp trong chính nó cũng đều có tính phổ biến: cái Tôi như là một cái Tôi phổ biến; và đối tượng cũng là một đối tượng phổ biến[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](203)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Nguyên tắc này là được [B]hình thành nên (entstanden)[/B] [B]cho ta [/B][người theo dõi tiến trình kinh nghiệm], do đó, phương cách ta nắm lấy trong tri giác không còn là một cái gì đơn thuần diễn ra cho ta [một chuỗi bất tất các hành vi lãnh hội] như trong sự xác tín cảm tính nữa, mà là một sự tiếp thu [B]tất yếu[/B] [một quá trình tất yếu có tính lô-gíc][/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](204)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Cùng với sự ra đời của nguyên tắc này, cả hai yếu tố cũng đồng thời trở thành tồn tại; chúng chỉ [B]tách rời ra khỏi nhau[/B] ở trong sự xuất hiện ra của chúng như là hiện tượng (Erscheinung) [cho cái biết], đó là: một yếu tố tồn tại như là tiến trình vận động của việc chỉ ra; yếu tố kia cũng là cùng một tiến trình ấy nhưng như là một [sự kiện] đơn giản; [B]yếu tố trước là hành vi tri giác, yếu tố sau là đối tượng [được tri giác][/B]. Về bản chất, đối tượng là giống hệt như tiến trình, [chỉ có điều], tiến trình là sự triển khai [phô bày ra] và là sự phân biệt của hai yếu tố [tham gia vào tiến trình tri giác], còn đối tượng cũng chính là các yếu tố ấy nhưng được tập hợp chung lại [như một toàn bộ được lãnh hội]. [B]Cho ta[/B] [người quan sát] hay là [B]tự-mình[/B], cái phổ biến, – [B]với tư cách[/B] là nguyên tắc, – là [B]cái bản chất[/B] của tri giác; và trái ngược với sự trừu tượng này, cả hai yếu tố được phân biệt trên – cái tri giác và cái được tri giác – lại là những cái [B]không có tính bản chất [/B][không cốt yếu][/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](205)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Nhưng, trong thực tế, vì bản thân hai yếu tố này đều là cái phổ biến hay cái bản chất cả, nên cả hai đều có tính bản chất; tuy nhiên trong khi chúng quan hệ với nhau như là giữa các cái đối lập, thì chỉ có một yếu tố là có thể có tính bản chất ở trong mối quan hệ [tạo nên tri giác] mà thôi, và việc phân biệt cái bản chất với cái không-bản chất phải được chia đều ra nơi chúng. Một bên được xác định như cái [sự kiện] đơn giản – tức đối tượng – là cái bản chất, bất kể nó có được tri giác hay không; còn hành vi tri giác – như là tiến trình vận động – là yếu tố bất ổn định, có thể có, có thể không, và là cái không-bản chất[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](206)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 112[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Bây giờ, [B]đối tượng này[/B] cần được xác định rõ hơn, và sự xác định [định nghĩa] phải được phát triển ngắn gọn từ kết quả đã đạt được; một sự phát triển nhiều chi tiết hơn không thuộc về chỗ này. Vì lẽ nguyên tắc của đối tượng, tức cái phổ biến, – trong tính đơn giản của đối tượng – là một nguyên tắc [B]được trung giới[/B], nên đối tượng phải diễn tả cái bản tính tự nhiên [được trung giới] này nơi chính bản thân nó. | Bằng cách làm như vậy, [B]đối tượng[/B] tự cho thấy mình là [B]SỰ VẬT CÓ NHIỀU THUỘC TÍNH (DAS DING VON VIELEN EIGENSCHAF-TEN)[/B]. [B]Sự phong phú của cái biết cảm tính là thuộc về tri giác chứ không phải thuộc về sự xác tín trực tiếp, là nơi sự phong phú chỉ đơn thuần là trò phụ diễn (Beiherspielen) [ngẫu nhiên bất tất], vì chỉ tri giác mới có sự phủ định, sự khác biệt, hay tính đa tạp bên trong bản chất của nó(207).[/B][/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 113[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [/CENTER] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4][I. Khái niệm đơn giản về sự vật:][/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Do đó, cái [B]này[/B] được thiết định như cái không phải-này hay như một cái [B]này[/B] bị thủ tiêu [vượt bỏ]; song [kết quả] không phải là cái hư vô, mà là [B]một[/B] cái hư vô [B]nhất định[/B], hay là một cái hư vô của [B]một nội dung[/B], tức của [B]CÁI[/B] này. Qua quá trình ấy, bản thân cái [nhân tố] cảm tính vẫn còn có mặt, nhưng không phải theo cách được giả định trong sự xác tín trực tiếp nữa, không phải như cái cá biệt chỉ được “cho rằng”, mà như là cái phổ biến, hay như là cái [B]sẽ được xác định như là THUỘC TÍNH(208)[/B]. [B]Sự vượt bỏ (das Aufheben)[/B] diễn tả ý nghĩa kép [nhân đôi] đúng thực của nó như ta đã thấy nơi cái phủ định: vừa là một [B]sự phủ định (ein Negieren)[/B] và đồng thời là một [B]sự bảo lưu (ein Aufbewahren)[/B]; cái hư vô, như là cái hư vô của cái [B]này[/B], bảo lưu tính trực tiếp; do vậy, bản thân nó vẫn là cảm tính, nhưng lại là một [B]tính trực tiếp phổ biến (allgemeineUnmit-telbarkeit)(209)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Nhưng, tồn tại là một cái phổ biến nhờ có bên trong nó sự trung giới hay là cái phủ định. | Khi cái tồn tại [B]diễn tả(210) [/B]điều này trong tính trực tiếp của nó, nó là [B]một thuộc tính nhất định, được phân biệt[/B]. Kết quả là có [B]nhiều [/B]thuộc tính như thế được thiết định đồng thời với nhau, thuộc tính này là cái phủ định [sự phân biệt] đối với thuộc tính khác. Bởi chúng được diễn tả trong tính đơn giản của cái phổ biến, nên các tính quy định này (Bestimmheiten) – thật ra, chúng chỉ thực sự trở thành [B]các thuộc tính[/B] là còn phải nhờ có thêm một sự quy định sau này nữa[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](211)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4] – [chỉ] tự quan hệ với chính mình, là dửng dưng đối với nhau, mỗi cái tồn tại cho riêng mình, độc lập[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](212)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4] với những cái khác còn lại. Tuy nhiên, bản thân [B]tính phổ biến đơn giản, ngang bằng với chính mình [tự-đồng nhất][/B], đến lượt mình, thì lại phân biệt và thoát ly khỏi các thuộc tính nhất định này của nó; nó là sự tự quan hệ thuần túy của mình với chính mình, hay là cái [B]“môi trường” (Medium)[/B], trong đó mọi tính quy định trên đây đều có mặt, như một nhất thể đơn giản, trong đó các tính quy định ấy [B]thâm nhập vào nhau[/B] nhưng [B]không đụng chạm lẫn nhau[/B], và chỉ vì đều tham gia vào trong tính phổ biến này nên chúng dửng dưng đối với nhau, mỗi đặc điểm tồn tại cho riêng mình.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Cái “môi trường” phổ biến trừu tượng này – có thể được gọi là [B]“vật-tính” (Dingheit)[/B] nói chung hay là [B]“bản chất thuần túy” [/B]– không khác gì cái Ở đây và cái Bây giờ đã tự chứng tỏ cho thấy [xem chương I] là một [B]tập hợp [/B]đơn giản của cái đa thể, song cái nhiều này [trong cấp độ tri giác hiện nay], do [B]tính được quy định [/B]của nó, là bản thân [B]những cái phổ biến đơn giản[/B]. Hạt muối này là cái Ở đây [B]đơn giản[/B], và đồng thời là [B]đa tạp[/B]: nó là trắng, và [B]cũng [/B]là mặn, [B]cũng[/B] có hình lập phương, lại cũng có một trọng lượng riêng và v.v.. Tất cả các thuộc tính đa tạp này tồn tại trong [B]một [/B]cái Ở đây đơn giản duy nhất, do đó, là nơi chúng thâm nhập vào nhau; nhưng không thuộc tính nào trong chúng lại có một cái Ở đây khác với các thuộc tính khác, trái lại, mỗi cái có mặt khắp nơi trong cùng một cái Ở đây, là nơi cái khác cũng cùng tồn tại. | Và đồng thời, tuy không bị chia cắt bởi nhiều cái Ở đây khác nhau, chúng không tác động lẫn nhau trong sự thâm nhập này; cái trắng không tác động hay biến đổi cái vuông; cả hai không tác động cái mặn và v.v.., trái lại, vì bản thân mỗi cái là quan hệ đơn giản của mình với chính mình, nên nó để mặc các cái khác và chỉ quan hệ với những cái còn lại thông qua một cái [B]CŨNG[/B] dửng dưng. Vậy, [B]chính cái CŨNG này là bản thân cái phổ biến thuần túy, hay là, cái “môi trường”, cái “vật tính” tập hợp tất cả chúng lại bằng cách ấy(213).[/B][/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 114[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Trong mối quan hệ vừa nảy sinh trên đây chỉ mới có tính chất của [B]tính phổ biến khẳng định (positive Allgemeinheit)[/B] [mặt khẳng định của tính phổ biến] là được quan sát và phát triển; nhưng còn [B]một mặt[/B] nữa cần phải xét tới [mặt phủ định]. Mặt phủ định này là: nếu nhiều thuộc tính đa tạp là hoàn toàn dửng dưng với nhau và nếu chúng chỉ đều hoàn toàn tự quan hệ với chính mình thôi, ắt chúng [B]không[/B] phải là các thuộc tính [B]nhất định (bestimmt) [/B][được quy định, xác định]; bởi chúng chỉ có thể như vậy trong chừng mực [B]chúng tự phân biệt với nhau và tự quan hệ với các thuộc tính khác như là với các cái đối lập của chúng[/B]. Thế nhưng, nếu dựa theo tính đối lập nhau này thì chúng lại không thể cùng tồn tại chung trong cái nhất thể đơn giản của cái “môi trường” của chúng [trước đây] nữa, – sự thống nhất của “môi trường” này cũng thiết yếu [có tính bản chất] đối với chúng giống như sự phủ định. | Vậy, [tiến trình] phân biệt của nhất thể này, – trong chừng mực nhất thể ấy không phải là một nhất thể dửng dưng mà là một nhất thể loại trừ và phủ nhận sự vật khác, – phải rơi ra bên ngoài cái “môi trường” đơn giản này; và vì thế, “môi trường” này không chỉ đơn thuần là một cái [B]CŨNG[/B] [nói trên đây], tức một nhất thể dửng dưng, mà còn là cái [B]MỘT[/B], tức cái nhất thể [B]loại trừ [/B][cái khác][/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](214)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. [B]Cái MỘT là yếu tố của sự phủ định[/B], – như là cái tự quan hệ với chính mình một cách đơn giản, và loại trừ sự vật khác – [B]qua đó, VẬT TÍNH (DIE DINGHEIT) ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ LÀ SỰ VẬT (DING)[/B]. Trong thuộc tính [của một sự vật], sự phủ định [có hình thái] như là một [B]sự quy định[/B]; sự quy định này trực tiếp là [B]một[/B] với tính trực tiếp của tồn tại [của sự vật], song tính trực tiếp này đến lượt nó, – nhờ thông qua sự thống nhất nói trên [B]với[/B] sự phủ định – nên là tính phổ biến. | Tuy nhiên, sự phủ định, khi được giải phóng khỏi sự thống nhất này [B]với[/B] cái đối lập, tồn tại như là cái [B]Một[/B], và tồn tại tự-mình và cho-mình (an und für sich selbst).[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 115[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Các yếu tố này gộp chung lại mới hình thành hoàn tất [B]SỰ VẬT[/B] như là [B]cái đúng thật (das Wahre)[/B] của [tiến trình] tri giác, trong chừng mực được phát triển ở đây với mức độ cần thiết. Đó là:[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]1. [B]tính phổ biến[/B]thụ động, dửng dưng, tức cái [B]CŨNG [/B]của nhiều thuộc tính đa tạp, hay nói đúng hơn, của các [B]“chất liệu” (Materien)(215)[/B];[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]2. [B]sự phủ định[/B], cũng ở trong hình thái đơn giản tương tự; hay là cái [B]MỘT[/B], loại trừ các thuộc tính đối lập, và[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]3. [B]bản thân nhiều thuộc tính đa tạp[/B], mối quan hệ của hai yếu tố đầu tiên này; hay sự phủ định – như nó đang quan hệ với yếu tố (Element) dửng dưng, và triển khai trong đó thành một số lượng các cái khác biệt; tụ điểm của [B]tính cá biệt[/B] ở trong môi trường của sự tự tồn (Bestehen) tỏa chiếu thành tính đa thể. Trong chừng mực các cái khác biệt này cùng thuộc về “môi trường” dửng dưng, thì bản thân chúng cũng có tính phổ biến, chỉ quan hệ với chính mình và không tác động đến nhau; nhưng xét về phương diện: chúng cùng thuộc về sự thống nhất [nhất thể] phủ định, chúng đồng thời lại loại trừ [các thuộc tính khác]; nhưng tất yếu có mối quan hệ này của sự đối lập đối với các thuộc tính ở cách xa cái [B]CŨNG[/B] của [B]CHÚNG[/B]. Vậy, tính phổ biến cảm tính, hay sự thống nhất trực tiếp của cái tồn tại [B]với[/B] cái phủ định chỉ trở thành một [B]THUỘC TÍNH[/B], khi cái Một và tính phổ biến thuần túy được phát triển từ nó và được phân biệt với nhau, cũng như khi tính phổ biến cảm tính nối kết chúng lại [tính phổ biến thuần túy khẳng định và cái Một phủ định]. | Chính mối quan hệ này giữa tính phổ biến với các yếu tố bản chất thuần túy mới là cái hoàn tất [B]SỰ VẬT(216)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 116[/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [/CENTER] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4][II. Sự tri giác đầy mâu thuẫn về sự vật:][/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Vậy, đó là phương cách mà bây giờ SỰ VẬT của tri giác được tạo nên; và ý thức được xác định như là đang ở cấp độ tri giác, trong chừng mực [B]SỰ VẬT[/B] này là đối tượng của nó. | Ý thức chỉ [B]đơn thuần “nắm lấy”[/B] đối tượng [[B]nehmen[/B], lat: capio ®per-cipio ®wahr-nehmen: nắm lấy cái đúng thật = tri giác] và hành xử như là [B]sự lãnh hội thuần túy (reines Auffassen)[/B], và qua đó cái được mang lại cho ý thức là [B]cái đúng thật (das Wahre)[/B]. Nếu bản thân ý thức, trong hành vi “nắm lấy” này, lại làm thêm một việc gì khác, thì do việc [B]thêm vào[/B] hay [B]rút bớt đi[/B] điều gì, nó sẽ làm biến đổi sự thật. Nhưng, vì đối tượng là cái đúng thật và là cái phổ biến, cái ngang bằng với chính nó, còn ý thức, ngược lại, là cái khả biến và không-bản chất, nên điều có thể xảy ra cho ý thức là nó [B]lãnh hội[/B] đối tượng [B]không đúng [/B]và [B]tự lừa dối mình[/B]. Người tri giác có ý thức về khả năng xảy ra sự lừa dối [nhầm lẫn], vì ở trong tính phổ biến vốn là nguyên tắc của tri giác, bản thân [B]cái tồn tại-khác[/B] [của cái phổ biến] cũng trực tiếp có mặt [B]cho[/B] ý thức, nhưng có mặt như là cái hư vô, cái bị thủ tiêu. Tiêu chuẩn của người tri giác về tính chân lý, do đó, là sự ngang bằng-với-chính-mình của đối tượng (die Sichselbst-gleichheit), nên thái độ hành xử của người ấy là lãnh hội đối tượng như là cái ngang bằng [đồng nhất] với-chính-mình. [Nhưng] vì tính khác biệt cũng đồng thời có mặt một cách minh nhiên [B]cho[/B] người tri giác, nên cách hành xử của người tri giác là mang các yếu tố khác biệt nhau ở trong sự lãnh hội vào mối quan hệ với nhau. | Nhưng nếu trong tiến trình so sánh này nảy sinh một sự không ngang bằng, thì đây [B]không[/B] phải là một sự không đúng-sự thật (Unwahrheit) của đối tượng, – bởi đối tượng, đối với người tri giác, là cái ngang bằng với chính nó –, mà chỉ [có thể] là sự không-đúng sự thật của phía [người] tri giác[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](217)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 117[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Bây giờ ta hãy nhìn xem ý thức trải qua [B]kinh nghiệm[/B] gì trong tiến trình tri giác hiện thực của nó. [B]Cho ta[/B] [đối với ta, người quan sát], kinh nghiệm này [B]đã[/B] được chứa đựng trong sự phát triển của đối tượng và của thái độ hành xử của ý thức trước đối tượng cho tới nay; và như thế, kinh nghiệm này chỉ là việc phát triển [B]những mâu thuẫn[/B] đã hiện diện ở trong đó. [Sự phát triển này diễn ra như sau]:[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Đối tượng – được cái Tôi lãnh hội – tự trình diện ra một cách thuần túy như cái [B]Một[/B]; còn tôi cũng tri giác trong đó một [B]thuộc tính.[/B] | Thuộc tính là cái gì ở trong đối tượng có tính [B]phổ biến[/B], nên qua đó nó [B]vượt ra khỏi[/B] [B]tính cá biệt[/B]. Vậy, [hình thái] tồn tại đầu tiên của bản chất khách quan như là của cái [B]Một[/B] đã không phải là sự tồn tại đúng thật của nó; song vì lẽ [B]đối tượng [/B]là cái đúng thật (das Wahre), nên sự không-đúng-sự thật (Unwahrheit) là rơi vào nơi tôi [thuộc về phía tôi], và sự lãnh hội, như thế, đã là không đúng. Do phải tính đến tính phổ biến [này] của thuộc tính, tôi đúng ra phải nắm lấy cái bản chất khách quan trong tính toàn bộ như một [B]cộng đồng [/B]nói chung [B](ein Gemeinschaft überhaupt)[/B]. Thêm vào đó, bây giờ, tôi tri giác thuộc tính như là thuộc tính [B]nhất định[/B], đối lập và loại trừ thuộc tính khác. Vậy là, trong thực tế, tôi đã lãnh hội không đúng về bản chất khách quan, khi tôi đã xác định nó như là [B]một cộng đồng [/B]với những cái khác hay như là sự liên tục; và – để tính tới tính quy định của thuộc tính – tôi lại phải phá vỡ tính liên tục và thiết định bản chất khách quan như là “cái Một” loại trừ [cái khác][/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](218)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Nơi cái Một bị tách rời này, tôi tìm thấy nhiều thuộc tính có cùng đặc tính như thế, tức chúng không tác động mà dửng dưng với nhau; vậy, tôi cũng đã không tri giác đối tượng một cách đúng đắn khi tôi đã lãnh hội nó như một cái loại trừ, trái lại, nó, – như trước đó chỉ là sự liên tục nói chung –, thì bây giờ là một [B]“môi trường” cộng đồng phổ biến[/B], trong đó nhiều thuộc tính hiện diện, như là [B]các tính phổ biến [/B]cảm tính, mỗi cái tồn tại cho-mình, và với tư cách là [B]cái được quy định[/B], loại trừ những cái khác. Nhưng, từ kết quả này, cái đơn giản và cái đúng thật mà tôi tri giác cũng không phải là một “môi trường” phổ biến, mà là [B]thuộc tính cá biệt [/B]“cho-mình”; là cái, trong hình thái này, [một lần nữa] vừa không phải là một thuộc tính, vừa không phải là một sự tồn tại nhất định, vì nó không tồn tại nơi một cái Một lẫn không ở trong quan hệ với những cái khác. Chỉ khi thuộc về cái Một, thuộc tính mới là một [B]thuộc tính[/B], và chỉ trong quan hệ với những cái khác, nó mới [B]được quy định[/B] [như một thuộc tính [B]nhất định[/B]]. Còn với tư cách là cái quan hệ thuần túy này của chính mình với chính mình, nó vẫn chỉ là [B]cái tồn tại cảm tính nói chung[/B], vì nó không còn chứa đựng tính cách của [B]tính phủ định [/B]nữa; và [hình thái] ý thức nắm lấy đối tượng của nó như là một cái tồn tại cảm tính thì chỉ [trở lại] là [hình thái] của việc [B]“cho rằng” (Meinen)[/B] “của tôi”, nghĩa là, ý thức đã hoàn toàn đi ra khỏi việc [B]tri giác[/B] và đã rút lui lại vào trong chính nó. Nhưng bản thân cái tồn tại cảm tính và sự “cho rằng” [B]của tôi[/B] về “cái này” (trước đây) đều đã quá độ sang sự tri giác, còn [B]tôi[/B] thì bị ném ngược lại điểm xuất phát và lại một lần nữa bị cuốn vào [B]cùng [/B]cái [B]vòng quay tròn [/B]tự thủ tiêu chính mình trong mọi yếu tố và [tự thủ tiêu chính mình] như là cái toàn bộ.[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 118[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Vậy, ý thức [B]tất yếu[/B] phải trải qua vòng quay tròn này một lần nữa, nhưng đồng thời [B]không[/B] phải trải qua [B]cùng một kiểu[/B] như nó đã làm trong lần thứ nhất. Lý do là vì, ý thức [B]đã có[/B] kinh nghiệm trong việc tri giác rằng: kết quả và cái đúng thật của hành vi tri giác là sự giải thể (Auflưsung) của hành vi này, hay là sự phản tư của nó vào trong chính nó, thoát ly khỏi cái đúng thật[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](219)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Bằng cách này, ý thức đi đến chỗ xác định rõ việc tri giác của nó có bản chất thực sự như thế nào, đó là: tri giác không phải là một sự lãnh hội [B]thuần túy[/B] và [B]đơn giản[/B], trái lại, trong sự lãnh hội của mình, ý thức đồng thời cũng [B]được phản tư ra khỏi cái đúng thật và đi vào trong chính mình[/B]. Sự quay trở lại của ý thức vào trong chính mình được trộn lẫn trực tiếp với sự lãnh hội thuần túy [về đối tượng], – vì lẽ sự quay trở lại vào chính mình này đã tự cho thấy là có tính bản chất [cốt yếu] đối với việc tri giác – [B]làm biến đổi cái đúng thật[/B]. Ý thức đồng thời nhận thức phương diện này [sự quay trở lại, sự phản tư vào chính mình] như là phương diện của riêng nó và chịu trách nhiệm về phương diện này; khi làm như thế, ý thức [hy vọng] sẽ đạt được đối tượng đúng thật trong tính thuần túy của nó.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Như vậy bây giờ, trong trường hợp tri giác, cũng giống hệt như đã xảy ra trong trường hợp của sự xác tín cảm tính [trước đây], [B]có mặt cái phương diện của ý thức bị đẩy trở ngược lại vào trong chính nó [/B][xem lại: §100], nhưng trước hết, không có [B]nghĩa [/B]giống như điều này đã xảy ra trong trường hợp xác tín cảm tính, tức không phải như thể tính chân lý [sự thật, Wahrheit] của tri giác là rơi vào bên trong ý thức, trái lại, ý thức nhận rõ rằng [B]chính sự không phải-chân lý (Unwahrheit)[/B] xuất hiện trong tri giác mới là cái [B]rơi vào bên trong nó[/B]. Nhưng, [B]chính nhận thức này làm cho ý thức đồng thời có năng lực vượt bỏ (aufheben) sự không phải-chân lý này[/B]: ý thức phân biệt sự lãnh hội của nó về cái đúng thật với sự không phải-chân lý của sự tri giác của nó, [B]sửa chữa[/B] sự không phải-chân lý này, và trong chừng mực ý thức tự mình ra tay sửa chữa, thì tính chân lý, với tư cách là tính chân lý của sự tri giác, lại đương nhiên rơi [B]vào trong chính ý thức[/B]. Vậy, sự hành xử của ý thức được ta xem xét bây giờ đây, có đặc điểm là: ý thức không còn [B]đơn thuần[/B] tri giác nữa, mà trái lại, cũng đã [B]có ý thức về[/B] [B]sự phản tư[/B] của nó vào trong chính nó, và [B]tách rời [/B]sự phản tư này ra khỏi bản thân sự lãnh hội đơn giản[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](220)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. [Sự vận hành như sau]:[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 119[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Trước tiên, tôi tri giác sự vật như một [B]cái Một [/B]và phải bám giữ chặt sự vật trong sự quy định đúng thật này. | Nếu trong tiến trình vận động của tri giác có điều gì tỏ ra mâu thuẫn với quy định ấy, thì tôi nhận rằng đó là [do] sự phản tư [B]của tôi[/B]. Bây giờ, trong tri giác, cũng có mặt nhiều thuộc tính khác nhau, [B]có vẻ[/B] là các thuộc tính của [bản thân] sự vật; thế nhưng [vì] sự vật là cái Một, nên ta ý thức rằng tính dị biệt (Verschie-denheit) này – tính dị biệt qua đó sự vật sẽ ngừng không còn là cái Một nữa – là rơi vào trong ta [thuộc về phía ta]. Như vậy, trong thực tế, sự vật này chỉ có màu trắng cho mắt [B]ta[/B]; chỉ có vị mặn cho lưỡi [B]ta[/B], và cũng chỉ có hình lập phương là cho xúc giác [B]ta[/B] và v.v.. Toàn bộ tính dị biệt của [B]các mặt[/B] này của sự vật không do ta rút ra từ sự vật, mà [B]từ[/B] chính ta, và chúng hoàn toàn tách rời nhau bằng cách ấy cho ta, vì mắt là hoàn toàn khác với lưỡi v.v.. Như thế [B]chính ta [/B]là [B]cái môi trường phổ biến[/B], trong đó các yếu tố như thế được tách rời nhau và mỗi cái tồn tại [B]cho[/B] riêng [B]mình (für sich)[/B]. Vậy, qua việc ta xem tính quy định là một môi trường phổ biến như là đến từ sự phản tư [B]của ta[/B], ta bảo tồn (erhalten) tính ngang bằng với chính mình của sự vật và tính chân lý của sự vật như là một [B]cái Một(221)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 120[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Tuy nhiên, các mặt dị biệt này – mỗi mặt được xem là tồn tại “cho-mình” ở trong môi trường phổ biến do ý thức chịu trách nhiệm – lại đều [B]được xác định[/B] một cách đặc thù; trắng chỉ là trắng trong sự đối lập với đen, và v.v..; và sự vật là cái Một chính là vì nó đối lập với các sự vật khác. Nhưng nó không phải như là một cái Một loại trừ những cái khác, bởi cái Một là mối liên hệ phổ biến của mình với chính mình, và sự kiện nó là cái Một thực ra làm cho nó ngang bằng với mọi cái khác; [do đó] chính thông qua tính [B]được quy định[/B] của nó mà sự vật mới loại trừ những sự vật khác[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](222)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Cho nên bản thân những sự vật là [B]được xác định tự mình và cho mình[/B]: chúng có [B]các thuộc tính[/B] nhờ đó chúng tự phân biệt với những cái khác. Vì lẽ [B]thuộc tính[/B] là thuộc tính [B]riêng[/B] của sự vật, hay là, một tính quy định trong bản thân sự vật, nên sự vật [B]có nhiều[/B] thuộc tính. Vì, [B]thứ nhất[/B], sự vật là cái đúng thật, nó [B]tồn tại tự mình (an sich selbst)[/B]; và cái gì [B]tồn tại nơi nó (an ihm) [/B]thì tồn tại như là cái bản chất của riêng nó, không tính tới những sự vật khác[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](223)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. | Từ đó, [B]thứ hai[/B] là, các thuộc tính nhất định [được xác định] không chỉ vì những sự vật khác hay [B]cho[/B] những sự vật khác, mà là nơi bản thân sự vật (an ihm selbst). | Tuy nhiên, chúng chỉ là các thuộc tính nhất định [B]nơi sự vật (an ihm)[/B] khi chúng là [B]nhiều[/B] thuộc tính tự phân biệt [B]với nhau[/B]. | Và, [B]thứ ba[/B], trong khi chúng tồn tại như thế trong cái [B]vật-tính (Dingheit)[/B], chúng tồn tại tự mình và cho mình, dửng dưng với nhau. Do đó, trong tính chân lý, chính [B]bản thân sự vật[/B] là trắng, và [B]cũng[/B] là lập phương, và [B]cũng[/B] là mặn v.v.., hay nói khác đi, [B]sự vật[/B] là cái [B]CŨNG [/B]hay cái “môi trường” phổ biến, trong đó nhiều thuộc tính tồn tại [B]bên ngoài[/B] nhau, không đụng chạm và không thủ tiêu lẫn nhau; và nếu được “nắm lấy” như vậy, thì sự vật được nắm lấy như cái đúng thật.[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 121[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Bây giờ, khi tri giác như thế, ý thức [B]đồng thời[/B] cũng ý thức rằng nó [B]cũng[/B] phản tư vào trong chính nó và rằng, trong việc tri giác, [B]yếu tố đối lập [/B]với cái [B]CŨNG[/B] xuất hiện ra. Nhưng yếu tố [đối lập] này là [B]sự thống nhất[/B] [nhất thể] của sự vật với chính nó, một sự thống nhất loại trừ sự khác biệt ra khỏi nó. Do đó, chính sự thống nhất này là cái mà bây giờ ý thức nhận về phía mình, vì bản thân sự vật là sự [B]cùng tồn tại của nhiều thuộc tính khác nhau và độc lập với nhau[/B]. Cho nên ta mới nói về sự vật rằng: nó là trắng, và [B]cũng[/B] là lập phương và [B]cũng[/B] là mặn và v.v.. Nhưng, [B]trong chừng mực[/B] nó là trắng, thì nó [B]không[/B] phải là lập phương, và [B]trong chừng mực[/B] nó là lập phương và trắng, thì nó không phải là mặn và v.v.. Việc thiết định các thuộc tính này thành cái Một (Ineinsetzen)[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](224)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4] chỉ là công việc của riêng ý thức nhằm để tránh việc chúng trở thành cái Một ở trong sự vật. Nhằm mục đích này, ý thức đưa ra [ý tưởng về] cái [B]“trong chừng mực”[/B], nhờ đó bảo tồn các thuộc tính như là tách rời nhau và duy trì sự vật [trong ý nghĩa] như là cái [B]CŨNG[/B]. Đúng thực ra, chính ý thức thoạt đầu làm cho mình tự chịu trách nhiệm về cái “tồn tại như là Một” này bằng cách là: cái trước đây được gọi là thuộc tính thì nay được [ý thức] hình dung như là “chất liệu [vật chất] tự do” (freie Materie) [latinh: materia libera: thuật ngữ của vật lý học đương thời] [xem: §115]. Bằng cách như vậy, sự vật được nâng lên thành cái CŨNG đích thực, vì nó trở thành một tập hợp của các chất liệu [các yếu tố hợp thành], và thay vì tồn tại như cái Một, nó trở thành một mặt bằng bao bọc chung quanh các chất liệu ấy[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](225)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 122[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Nếu ta nhìn lại điều ý thức chịu trách nhiệm trong việc đã “nắm lấy” trước đây và rồi “nắm lấy” hiện nay, cũng như điều nó vừa gán cho sự vật [B]trước đây [/B]vàđang gán cho sự vật [B]hiện nay[/B], rõ ràng là ý thức đã luân phiên làm cho chính nó cũng như sự vật, [B]cả hai[/B] khi thì trở thành một cái [B]Một[/B] thuần túy, không có tính đa thể [“cái Một” kiểu “nguyên tử”], khi thì trở thành một cái [B]Cũng[/B] tự giải thể thành nhiều “chất liệu” độc lập với nhau [nhiều yếu tố cấu thành độc lập]. Vậy, thông qua sự so sánh này, ý thức nhận ra rằng, [B]không chỉ [/B]phương cách [B]nắm lấy cái đúng thật của nó [/B][tri giác] có chứa đựng sự dị biệt của việc lãnh hội và của việc quay trở về nơi chính nó, mà đúng hơn, [B]cả bản thân cái đúng thật – tức sự vật – cũng tự bộc lộ trong phương cách nhị bội [nhân đôi] này.[/B][/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Như vậy, [B]kinh nghiệm[/B] ở đây là: sự vật tự thể hiện ra [B]cho[/B] ý thức đang [B]lãnh hội[/B] nó bằng một phương cách nhất định, [đặc thù], nhưng [B]đồng thời[/B], sự vật cũng đi ra khỏi phương cách thể hiện nhất định ấy cho ý thức và đã [B]phản tư vào trong chính nó[/B]; nói khác đi, [B]sự vật chứa đựng nơi bản thân nó (an ihm selbst) một [tính] chân lý đối lập (eine entgegengesetzte Wahrheit)[/B] [với chính mình].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 123[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4][III. Tiến trình hướng đến “tính phổ biến vô-điều kiện” và hướng đến “vương quốc của giác tính”:][/SIZE][/FONT][/B][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Thế là, ý thức tự mình [B]cũng đi ra khỏi[/B] [rời bỏ] phương cách [B]thứ hai[/B] trong thái độ hành xử khi tri giác, đó là việc nắm lấy sự vật như là cái đồng nhất đúng thật, còn xem mình là cái gì không tự-đồng nhất mà quay lại vào trong chính mình, ra khỏi sự đồng nhất. | Đối với ý thức, đối tượng bây giờ [B]là toàn bộ tiến trình vận động này [/B]mà trước đây đã được chia đều ra giữa đối tượng và ý thức[/SIZE][/FONT][FONT=Arial][SIZE=4]([/SIZE][/FONT][FONT=Arial][SIZE=4][B]226)[/B]. Sự vật là một cái Một, được phản tư trong chính nó; nó là [B]cho mình[/B], nhưng cũng là [B]cho một cái khác[/B]; tức là một [B]cái khác[/B] tồn tại [B]cho[/B] mình chính [B]bởi vì[/B] nó tồn tại [B]cho[/B] một cái khác. Theo đó, sự vật là tồn tại cho mình và [B]cũng[/B] là cho một cái khác: một tồn tại có sự dị biệt nhị bội, nhưng [B]cũng[/B] là một cái Một; tính Một mâu thuẫn với tính dị biệt này của nó. | Do đó, ý thức lại phải tự chịu trách nhiệm về việc đặt tính dị biệt vào trong cái Một và tách rời việc này ra khỏi sự vật. Cho nên, ý thức [ắt] phải nói rằng, sự vật, [B]trong chừng mực[/B] nó tồn tại [B]cho mình[/B], thì [B]không [/B]tồn tại cho một cái khác. Thế nhưng, sự tồn tại-như-là Một cũng thuộc về bản thân sự vật như ý thức đã có kinh nghiệm: sự vật là được phản tư vào trong chính nó một cách bản chất. Cái CŨNG – hay là sự phân biệt dửng dưng – tất nhiên cũng rơi vào [thuộc về] sự vật giống như sự tồn tại như là MỘT, nhưng vì cả hai là khác nhau [B]nên không thể rơi vào trong cùng một sự vật mà là trong những sự vật khác nhau[/B]. | Cái mâu thuẫn hiện diện nơi bản chất khách quan xét như cái toàn bộ chia đều ra nơi hai đối tượng. Tự mình và cho mình, sự vật quả là ngang bằng với chính mình, nhưng sự thống nhất này với chính mình bị những sự vật khác quấy rối. | Theo cách [hiểu] như thế, sự thống nhất [nhất thể] của sự vật được duy trì, và đồng thời cái tồn-tại-khác [của nó] cũng được duy trì [B]ở bên ngoài sự vật[/B], cũng như [B]ở bên ngoài ý thức(227)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 124[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Bây giờ, dù đúng rằng bằng cách ấy, sự mâu thuẫn trong “bản chất khách quan” được chia ra nơi những sự vật khác nhau, thì cũng vì thế, [B]sự phân biệt [/B]hay[B]sự dị biệt (der [/B] [B]Unterschied) không phải không đến [/B]với bản thân từng sự vật cá biệt, tách rời[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](228)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Như thế, [B]những sự vật khác nhau [/B]được thiết định như là tồn tại [B]cho-mình[/B]; và sự xung đột rơi vào trong chúng một cách tương hỗ theo kiểu mỗi cái là chỉ khác (verschieden) với cái khác chứ không phải [B]với chính mình[/B]. Thế nhưng, qua đó, bản thân mỗi cái được xác định như là một sự vật [B]được phân biệt[/B], và có [B]sự dị biệt bản chất (wesentlichen Unterschied) [/B]với những cái khác nơi chính mình, song sự dị biệt này lại không đi đến mức trở thành sự đối lập trong bản thân sự vật, trái lại, sự vật này, về mặt cho-mình, là một [B]tính quy định đơn giản[/B] tạo nên tính cách (Charakter) bản chất của sự vật, làm cho nó phân biệt với những sự vật khác. Trong thực tế, vì lẽ [B]tính khác biệt (Verschiedenheit) [/B]là ở trong sự vật, nên tính khác biệt này tất yếu phải hiện diện trong sự vật như là một [B]sự phân biệt hay dị biệt hiện thực (wirklicher Unterschied) [/B]có [B]tính chất cấu tạo (Beschaffenheit)(229) [/B]đa tạp. Nhưng bởi vì tính quy định tạo nên [B]bản chất [/B]của sự vật, nhờ đó nó tự phân biệt với những sự vật khác và tồn tại cho-mình, nên tính chất cấu tạo đa tạp này là mặt không-bản chất. Do đó, sự vật tuy có trong tính nhất thể của nó [B]cái “trong chừng mực” có tính lưỡng diện [hai mặt][/B] nhưng không ngang bằng nhau về giá trị. Kết quả là: tình trạng đối lập này (Entgegengesetzt[B]sein[/B]) không phát triển thành một [B]sự đối lập hiện thực ở bên trong bản thân sự vật[/B], nhưng, trong chừng mực sự vật này – thông qua [B]sự phân biệt hay dị biệt tuyệt đối (absoluter Unterschied) [/B]của nó – đi vào trong sự đối lập, nó [mới có thể] là đối lập đối với sự vật khác ở bên ngoài nó. Tất nhiên, tính đa tạp cũng tất yếu có mặt trong sự vật, không thể tước bỏ khỏi sự vật, nhưng nó là mặt [B]không-bản chất[/B] của sự vật[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](230)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 125[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Tính quy định này (Bestimmheit)[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](231)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4] – tạo nên tính cách bản chất của sự vật và phân biệt sự vật với mọi sự vật khác – bây giờ được xác định [được định nghĩa] theo kiểu là: sự vật – thông qua tính quy định ấy – đối lập với những sự vật khác, nhưng cũng được giả định là tự-bảo tồn [B]cho-mình[/B] (für sich) ở trong sự đối lập này. Thế nhưng, sự vật là sự vật, hay là một cái Một tồn tại [B]cho mình[/B] chỉ trong chừng mực nó [B]không[/B] ở trong mối quan hệ này với những cái khác; vì lẽ trong mối quan hệ này, đúng ra người ta thiết định sự nối kết [hay sự liên tục] (Zusammenhang) với sự vật khác; và sự nối kết với sự vật khác là [B]sự chấm dứt của cái tồn tại cho-mình[/B]. Chính là thông qua [B]tính cách tuyệt đối (absoluter Charakter)[/B] và sự đối lập của nó mà sự vật [B]quan hệ bản thân nó với những cái khác[/B], và một cách bản chất, [B]chỉ là tiến trình quan hệ này mà thôi[/B]. | Nhưng quan hệ [với cái khác] là sự phủ định tính độc lập tự chủ (Selbstständigkeit) của mình, và do đó, thực ra [B]sự vật tiêu vong chính là do thuộc tính bản chất của nó[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 126[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Sự tất yếu của [B]kinh nghiệm[/B], qua đó ý thức nhận ra rằng sự vật bị tiêu vong chính bởi tính quy định (Bestimmheit) tạo nên bản chất và sự tồn tại cho-mình của nó có thể xem xét ngắn gọn theo Khái niệm đơn giản của sự tất yếu ấy như sau: Sự vật được thiết định như là tồn tại [B]cho-mình[/B], hay là, như [B]sự phủ định tuyệt đối[/B] đối với mọi cái-tồn-tại-khác, vì thế là sự phủ định tuyệt đối chỉ tự-quan-hệ-với-chính-mình; nhưng [loại] phủ định như thế là sự thủ tiêu [B]chính mình[/B], hoặc nói cách khác, là tương đương với việc [B]sự vật có bản chất của nó ở trong một cái khác(232)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 127[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Trong thực tế, [B]sự quy định (Bestimmung)(233)[/B] về đối tượng, – như đối tượng đã cho thấy – không chứa đựng điều gì khác. | Đối tượng phải có một thuộc tính bản chất tạo nên sự tồn tại-cho-mình đơn giản của nó; nhưng cùng với tính đơn giản này, đối tượng cũng phải có trong chính mình [B]tính khác biệt (Verschiedenheit)[/B]; tính khác biệt này tuy là [B]cần thiết [/B][tất yếu] (notwendig) nhưng không tạo nên tính quy định [B]bản chất[/B] của nó. Đó là một sự phân biệt chỉ còn ở trong ngôn từ; cái không-bản chất lại được đồng thời giả định như là tất yếu ắt tự thủ tiêu chính nó. | Đó là điều mới vừa được gọi là [B]sự phủ định chính mình[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 128[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Với điều này, cái [B]“trong chừng mực”[/B] cuối cùng – vốn đã tách rời cái tồn tại cho-mình và cái tồn tại cho-cái-khác – cũng sụp đổ theo[/SIZE][/FONT][B][FONT=Arial][SIZE=4](234)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]. Đúng hơn, [B]đối tượng, trong một và cùng một phương diện, là cái đối lập của chính nó; đối tượng là cho-mình, trong chừng mực nó tồn tại cho-cái khác, và tồn tại cho cái-khác, trong chừng mực là tồn tại cho-mình[/B]. Nó là cho-mình, được phản tư vào trong chính mình, là cái Một; nhưng cái tồn tại “cho-mình”, phản tư vào trong mình, cái tồn tại là Một này lại ở trong [B]một sự thống nhất với cái đối lập của nó[/B], [tức] với cái “tồn tại cho-cái khác”, và vì thế chỉ được thiết định như là một cái tồn tại-bị-vượt bỏ (aufgehoben); hay nói khác đi, cái tồn tại cho-mình này cũng [B]không[/B] có tính bản chất giống hệt như cái đã được giả định rằng lẽ ra chỉ riêng nó là không-bản chất, đó là: mối quan hệ với cái khác.[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 129[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Qua quá trình này, đối tượng, – trong những tính quy định thuần túy của nó hay trong những tính quy định (Bestimmhei-ten) được giả định là tạo nên [B]tính bản chất (Wesenheit)(235)[/B] của nó – cũng bị vượt bỏ giống như khi nó đã ở trong sự tồn tại cảm tính. Phát xuất từ cái tồn tại cảm tính, đối tượng đã trở thành một cái phổ biến; nhưng cái phổ biến này – vì nó có nguồn gốc từ cái cảm tính – nên cũng bị cái cảm tính [B]điều kiện hoá[/B] một cách bản chất, và vì thế, nói chung không phải là tính phổ biến thực sự tự-ngang bằng với chính mình, mà là một tính phổ biến [B]bị tác động bởi một sự đối lập (ein Gegensatz)(236)[/B]. Vì thế, tính phổ biến này [B]tự phân cắt[/B] thành những đối cực (die Extreme) giữa [B]tính cá biệt[/B] và [B]tính phổ biến[/B], [B]giữa cái Một của các thuộc tính và cái Cũng của các “vật chất [hay “chất liệu”] tự do”[/B]. Các tính quy định thuần túy này [B]có vẻ[/B] như diễn đạt được bản thân [B]tính bản chất[/B], nhưng [thực ra] chúng chỉ đơn thuần là một cái tồn tại cho-mình bị tác động bởi cái tồn tại cho-cái-khác. | Nhưng vì lẽ cả hai đều tồn tại một cách bản chất ở trong một [B]nhất thể duy nhất[/B] [như vừa nói trên kia] nên [B]bây giờ[/B] ta có trước mắt [B]tính phổ biến tuyệt đối vô-điều kiện[/B], và chính ở đây, [B]ý thức lần đầu tiên mới thực sự bước vào vương quốc của GIÁC TÍNH (Reich des VERSTANDES)(237)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 130[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Vậy, tính cá biệt cảm tính [“cái Này”] tuy đã tiêu biến đi trong tiến trình vận động biện chứng của sự xác tín trực tiếp [tức “sự xác tín cảm tính” ở Chương I] và trở thành tính phổ biến, nhưng chỉ là [B]tính phổ biến cảm tính[/B]. Sự “cho rằng” [của tôi] đã tiêu biến, và tri giác nắm lấy đối tượng như nó tồn tại [B]tự-mình[/B], hay như là cái [B]phổ biến nói chung[/B]; tính cá biệt, do đó, lộ diện (hervortritt) ra trong tri giác như là tính cá biệt đúng thật, như cái [B]tồn tại tự-mình[/B] của cái Một, hay như sự tồn tại đã được phản tư vào trong chính nó. Thế nhưng, nó vẫn còn là một cái tồn tại cho-mình [B]có điều kiện[/B], [B]bên cạnh nó [/B]còn tạo ra một cái tồn tại cho-mình [B]khác[/B], tức là tính phổ biến đối lập lại với tính cá biệt và bị cái cá biệt điều kiện hoá. | Nhưng hai cái đối cực mâu thuẫn nhau này không chỉ tồn tại [B]bên cạnh nhau[/B], mà là ở trong MỘT nhất thể duy nhất, hay, đồng nghĩa như thế, là tính cách chung (das Gemeinschaftliche) cho cả hai: cái “tồn tại cho-mình” bị tác động bởi cái đối lập nói chung, nghĩa là, nó đồng thời [B]không[/B] phải là một cái “tồn tại cho-mình”. [B]Sự ngụy biện(238)[/B] của [quá trình] tri giác tìm đường cứu vãn các yếu tố này ra khỏi sự mâu thuẫn của chúng, và tìm cách nắm bắt (ergreifen) cái đúng thật thông qua việc phân biệt giữa [B]các “phương diện”[/B], thông qua việc bám chặt (festhalten) lấy cái [B]“CŨNG” [/B]và cái [B]“TRONG CHỪNG MỰC”[/B], và sau cùng, thông qua việc phân biệt “cái không-bản chất” với một “cái bản chất” đối lập với nó. Nhưng các thủ đoạn tìm tòi này – thay vì tránh xa sự nhầm lẫn trong tiến trình lãnh hội – thực ra đã tự chứng tỏ là trống rỗng, vô hiệu; và [B]cái đúng thật[/B] – được giả định sẽ đạt được thông qua lô-gíc này của [tiến trình] tri giác – cho thấy là [B]cái đối lập (das Gegenteil) [của chính nó] trong Một và trong cùng Một phương diện[/B], và do đó, chỉ có một [B]tính phổ biến không-được-phân-biệt và không-có-sự-quy-định [/B]làm [nội dung] bản chất của nó.[/SIZE][/FONT][/FONT] [CENTER][FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]§ 131[/SIZE][/FONT][/B][/FONT][/CENTER] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4][B]Những sự trừu tượng trống rỗng [/B]này về “tính cá biệt” và về “tính phổ biến” đối lập lại với tính cá biệt, cũng như về cái “bản chất” lại gắn liền với một cái không-bản chất, về “cái không-bản chất” lại đồng thời là tất yếu; đó là những quyền năng mà “trò chơi” tương tác của chúng chính là thứ giác tính tri giác, hay còn thường được gọi là [B]“giác tính lành mạnh của con người” [/B](gesunder Menschenverstand). | “Giác tính lành mạnh” này tự cho rằng mình là ý thức thực sự vững vàng, xác thực (gediegn real) nhưng tiến trình tri giác thực chất chỉ là [B]trò chơi của các sự trừu tượng này[/B]; nói chung, nó bao giờ cũng là nghèo nàn nhất ở nơi mà nó “cho rằng” dường như là phong phú nhất. Trong khi nó quanh quẩn với những “thực thể” trống rỗng này, hết bị xô đẩy vào tay cái này lại bị xô đẩy vào tay cái khác; rồi, bằng sự ngụy biện, cố bám chặt lấy và khẳng quyết một “thực thể” để sau đó lại tới phiên bám giữ và khẳng quyết chính cái đối lập ngược lại, nó tự đặt mình chống lại chân lý mà lại [B]“cho rằng”[/B] triết học chỉ làm việc với những “Vật tư tưởng” (Gedankendinge) [những ý niệm đơn thuần]. Trong thực tế, triết học quả là vẫn làm việc với chúng [những “vật-tư tưởng”] và thừa nhận chúng là những bản chất thuần túy, là những yếu tố và quyền lực tuyệt đối, nhưng [B]đồng thời[/B] cũng nhận thức rõ về chúng trong [B]tính quy định[/B] của chúng (in ihrer Bestimmheit), do đó, triết học [B]làm chủ [/B]được chúng; trong khi đó, thứ giác tính tri giác nọ [hay “giác tính lành mạnh”] lại nắm lấy chúng như là cái đúng thật và bị chúng dẫn dắt từ sai lầm này đến sai lầm khác. Bản thân tri giác không đến được với ý thức rằng chính những tính bản chất đơn giản này đang hoạt động và chế ngự bên trong nó; nó lại tưởng rằng lúc nào [B]cũng đang được làm việc với chất liệu có thực thể và với nội dung hoàn toàn vững chắc[/B]; giống như sự xác tín cảm tính đã không ý thức rằng bản chất của nó chỉ là sự trừu tượng trống rỗng của cái [B]tồn tại thuần túy[/B]. | Nhưng trong thực tế, chính những yếu tố bản chất này làm cho thứ giác tính tri giác ấy phải chạy tới chạy lui thông qua tất cả những loại chất liệu và nội dung ấy; chúng là sức mạnh cố kết và làm chủ nội dung này [của tri giác]; chỉ có chúng mới tạo nên bản chất của những sự vật cảm tính cho ý thức; xác định các mối quan hệ của [B]cái cảm tính [/B]này với ý thức; và tiến trình của tri giác lẫn của “cái đúng thật” của tri giác diễn ra không ở đâu khác hơn là ở bên trong chúng. Trình tự của quá trình này, một sự xác định luân phiên liên tục của cái đúng thật và của sự vượt bỏ sự xác định ấy đã thực sự tạo nên đời sống và hoạt động hàng ngày và bền bỉ của ý thức tri giác, của thứ ý thức tưởng rằng mình đang vận động ở trong chân lý. Ý thức cứ tiến lên trong tiến trình ấy một cách không ngừng nghỉ cho đến kết quả cuối cùng, là khi những yếu tố bản chất tối hậu hay những tính quy định này đều [B]bị vượt bỏ [/B]như nhau; nhưng trong mỗi yếu tố riêng lẻ [cá biệt], ý thức tri giác chỉ đơn thuần ý thức về [B]một[/B] tính quy định được cho như là cái đúng thật, và rồi lại quay sang cái đối lập. Nó không phải không nghi ngờ tính không-bản chất của chúng, và để cứu vãn chúng ra khỏi nguy cơ đang đe dọa, nó lại chuyển sang dùng lối ngụy biện: nay khẳng định là cái đúng thật chính cái mà bản thân nó mới trước đó đã khẳng định là không phải cái đúng thật. Điều mà bản tính tự nhiên của các “thực thể không thật” này thực sự muốn ép buộc giác tính [tri giác] này phải làm, đó là hãy [B]kết hợp chung lại (zusammenbringen)[/B] và qua đó [B]vượt bỏ các ý tưởng [/B]về “tính phổ biến” và “tính cá biệt”, về cái “Cũng” và cái “Một”, về “tính bản chất” mà lại [B]tất yếu [/B]nối kết với một “tính không-bản chất”, và về một cái “không-bản chất” mà lại “tất yếu”. | Thế nhưng giác tính [tri giác], ngược lại, cứ ra sức tránh né việc làm này bằng cách bám chặt vào các chỗ dựa là sử dụng các cách nói [B]“trong chừng mực”[/B], [B]“các phương diện khác nhau”[/B], hoặc là tự nhận trách nhiệm về một ý tưởng để tách rời nó với những ý tưởng khác và duy trì nó như là ý tưởng đúng thật. Thế nhưng, [B]chính bản tính tự nhiên của những cái trừu tượng [trống rỗng] này sẽ tự kết hợp lại với nhau đúng như chúng tồn tại tự-mình và cho-mình[/B]; còn “giác tính lành mạnh” [tri giác] mới thực là con mồi cho chúng, bị chúng đẩy vào vòng xoáy của riêng chúng. Khi “giác tính” [tri giác] muốn mang lại tính chân lý cho chúng bằng cách khi thì nhận sự không phải-sự thật của chúng về phía mình, khi thì gọi sự lừa dối [của chúng] chỉ là một vẻ bề ngoài của tính không đáng tin cậy [không chắc chắn] của những sự vật, tách rời cái bản chất ra khỏi một yếu tố tất yếu đối với chúng và xem là không-bản chất, rồi lấy cái trước làm cái đúng thật của chúng để chống lại cái sau: khi “giác tính” [tri giác] cứ làm như vậy, nó [B]không [/B]đảm bảo tính chân lý cho những cái trừu tượng trống rỗng này, nhưng lại tự mang lại tính không phải-chân lý [B]cho bản thân mình[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4](còn nữa)[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Nguồn: Georg Wilhelm Friedrich Hegel. 2006. [I]Hiện tượng học tinh thần (Phänomenologie des Geistes)[/I]. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Hà Nội: Nxb. Văn học. Bản điện tử của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn. Bản đăng trên triethoc.edu.vn có sự cho phép của dịch giả.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](203)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4] Cái Tôi như là [B]“cái Tôi suy tưởng”[/B]; đối tượng là [B]“đối tượng có quảng tính”[/B], chứ không còn là “con người [B]này[/B]” và “cái [B]này[/B]” cá biệt.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](204)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Ta luôn ghi nhớ [B]hai giác độ[/B] xem xét hiện tượng học: [B]cho ta (für uns)[/B], tức đối với nhà hiện tượng học nhìn lại toàn bộ tiến trình đã qua, thì tri giác cũng chỉ là một tiến trình biện chứng: nó là [B]kết quả[/B] của tiến trình xác tín cảm tính trước đây. Nói khác đi, “cho ta”, “cái này cá biệt” đã bị “vượt qua”, “thuộc về quá khứ”. Trong khi đó, đối với ý thức hiện tượng học đang chìm đắm trong diễn trình kinh nghiệm (tức: [B]“tự mình”/“an sich”[/B]), thì cái này cá biệt “đã bị thủ tiêu, bị vượt bỏ” (aufgehoben) (mà nó không biết tại sao) và đối tượng bây giờ là đối tượng [B]mới mẻ[/B] đối với nó. Do đó, [B]Hegel[/B] rất thường dùng thuật ngữ [B]“an sich oder für uns” (“tự-mình” hay “cho-ta”)[/B] để chỉ cái gì mới là tiềm năng và không-được bản thân cái ấy nhận biết nhưng lại được “ta” [triết gia hay người đứng ngoài quan sát tiến trình] nhận biết. (Xem: Chú giải dẫn nhập 4.2).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](205)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Cho ta”[/B]hay là [B]“tự-mình” [/B](tự nơi bản thân cấp độ nhận thức), [B]cái phổ biến [/B]là Bản thể chung của sự vật lẫn của chủ thể tri giác; tuy nhiên, chủ thể tri giác là [B]tiến trình vận động[/B] lãnh hội đối tượng, còn đối tượng cũng là [B]tiến trình vận động[/B] này nhưng như là cái được lãnh hội.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](206)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Cũng giống như trong kinh nghiệm của sự xác tín cảm tính trước đây, đối tượng trước hết được thiết định như là cái bản chất, còn ý thức như là cái không-bản chất. Tiến trình tự kiểm tra lại bắt đầu.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](207)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]Hegel[/B]dùng lại chữ “trò phụ diễn” (Beiherspielen): trong sự xác tín cảm tính, cái cá biệt chỉ là một “ví dụ”, một “trường hợp điển hình”, tách rời với cái bản chất phổ biến của nó. Trong tri giác, sự phong phú của cái biết có sự đối ứng ở cả hai phía: người tri giác và cái được tri giác.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](208)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]Vd[/B]: quả chanh có hình tròn, vị chua...: “tròn”, “chua”... là các thuộc tính [B]phổ biến[/B] có chung với nhiều sự vật khác.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](209)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Thuộc tính, tức “cái này cảm tính đã được vượt bỏ”, là đối tượng đích thực của tri giác. Trong sự phát triển biện chứng của nó, như sẽ thấy, đối tượng này sẽ hình thành hai đối cực: tính phổ biến của vật tính và tính cá biệt tuyệt đối của sự vật.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](210)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Theo J.H, chữ [B]“diễn tả”[/B] hay [B]“diễn đạt” (ausdrücken) [/B]là thuật ngữ của [B]Spinoza[/B]. Toàn bộ vận động của tri giác là ở chỗ đi từ Bản thể (nhất thể khẳng định) sang đơn tử (Monade) (nhất thể phủ định); từ vật tính sang Lực, từ thuyết cơ giới sang động học.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](211)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Sự quy định này mới giải thích được tính phủ định của chúng. Trong học thuyết [B]Spinoza[/B], theo Hegel, biểu hiện đích thực của tính phủ định không phải là ở trong [B]thuộc tính (Attribute)[/B] mà ở trong [B]thể cách (Modus)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4]([/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]212)[/B][B]“frei von”[/B]...: thoát ly khỏi...[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](213)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Môi trường” và “cái Cũng dửng dưng”:[/B]“Môi trường” theo nghĩa ban đầu là “môi trường vật lý”. Cái “không gian” cho những thuộc tính là cái phổ biến của chúng, là sự thống nhất [B]chung[/B] của chúng (vd: hạt muối). Các thuộc tính (vd: trắng, vuông, mặn...) tham gia vào tính phổ biến thuần túy này thì bản thân cũng có tính phổ biến (vd: trắng, vuông, mặn... là thuộc tính phổ biến của nhiều sự vật khác). Nhưng “môi trường” này, tuy là bản thể, nhưng không phải là [B]tính phủ định tuyệt đối[/B]. Nó là [B]tính phổ biến khẳng định[/B] chứ chưa phải là nhất thể phủ định, chưa phải là “cái Một loại trừ” như sẽ thấy ở sau (vd: mặn loại trừ ngọt...); do đó [B]Hegel[/B] gọi nó là [B]cái Cũng (das Auch)[/B] của những thuộc tính. Trong [B]Lô-gíc học ở thời kỳ Jena[/B] (W.XVIII a, tr. 36), [B]Hegel[/B] cũng đã gọi cái Cũng này là [B]cái Và (das Und)[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](214)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Bước chuyển sang cái đối lập: từ nhất thể [B]khẳng định[/B] sang nhất thể [B]phủ định[/B], từ [B]vật tính[/B] sang [B]sự vật[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](215)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Các chất liệu” (Materien):[/B]tức các [B]“chất liệu tự do”[/B] trong vật lý học đương thời. Những thuộc tính được hình thành trong “chất liệu” nhiệt, điện, từ v.v..[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](216)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Sự vật được hình thành nên cho ta như là sự mâu thuẫn giữa tính nhất thể phủ định và tính phổ biến. Sau đây, ý thức hiện tượng học ở cấp độ tri giác sẽ trải nghiệm về sự vật với mâu thuẫn cơ bản này. Chỉ khi ý thức tri giác tự nâng mình lên đến sự thống nhất giữa hai mặt đối lập này, nó mới trở thành “giác tính” (Chương III). Bấy giờ, như ta sẽ thấy, sự vật là [B]Lực[/B] như [B]Phạm trù hợp nhất[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](217)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Đây là thái độ [B]đầu tiên[/B] của tri giác: thái độ [B]“giáo điều ngây thơ”[/B], khi khẳng định rằng đối tượng [B]phải[/B] là cái gì ngang bằng với chính nó. Nhưng, cũng chính kinh nghiệm đầu tiên cho ý thức [B]biết[/B] rằng ý thức có thể “tự lừa dối mình” (như nhan đề của Chương này). Kinh nghiệm đầu tiên này sẽ dẫn ý thức từ lập trường [B]giáo điều [/B]đến lập trường [B]phê phán[/B] (như của [B]John Locke[/B]).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](218)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]Nghịch lý (Antinomie) [/B]của cái bản chất khách quan nói chung: tính liên tục và tính bất-liên tục.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](219)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Tức là sự phản tư đi từ cái đúng thật (đối tượng) vào lại trong chính mình (Chủ thể). (Giống như bước kiểm tra [B]thứ hai[/B] của sự xác tín cảm tính trước đây: ý thức “bị xua đuổi ra khỏi đối tượng” và “quay trở lại tìm sự thật ở trong chính mình”: §100). Nhưng, như sẽ thấy ở các giòng sau, chỗ [B]khác[/B] với trước đây là tri giác không đi tìm cái đúng thật ở trong chính mình mà lại thấy [B]chính mình[/B] phạm sai lầm.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](220)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Đây là quan điểm [B]phê phán[/B] tương ứng với quan điểm của [B]John Locke[/B]. Ý thức-tri giác [B]nhận trách nhiệm về mình[/B] những gì đã tạo ra sự mâu thuẫn ở trong sự vật. Ý thức ấy biết phân biệt sự phản tư (phê phán) của mình với sự lãnh hội (đơn giản) của mình; nhưng, [B]nó chưa[/B] [B]biết rằng[/B], trong chừng mực nó tự tiến hành việc phê phán đối với tri giác của mình, thì [B]sự thật hay chân lý “rơi vào bên trong nó” [/B](chứ không phải sự thật khách quan).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](221)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Như thế, những thuộc tính dị biệt của sự vật là chỉ thuộc về tôi và thuộc về cảm năng đa tạp của cái Tôi. Môi trường [B]đúng thật[/B], trong đó những thuộc tính ấy tự phân biệt nhau, là cái Tôi. Sự vật là cái [B]Một[/B], nhưng xuất hiện ra như là đa tạp (trắng, mặn, vuông...) là do sự phân tán của nó ở trong môi trường này.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](222)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Trong chừng mực là [B]sự vật[/B], thì sự vật nào cũng như sự vật nào, không phân biệt với sự vật khác; do đó những tính quy định (những thuộc tính) [B]phải[/B] thuộc về bản thân sự vật (chứ không phải thuộc về chủ thể). Những thuộc tính cũng [B]phải[/B] dị biệt và đa tạp [B]ngay trong[/B] sự vật, nếu không, sự vật sẽ không được xác định tự-mình và cho-mình.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](223)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“An sich”[/B]và [B]“An ihm”[/B]: trong thuật ngữ của [B]Hegel[/B], ông phân biệt giữa [B]cái tự-mình (an-sich)[/B], tức bản tính [B]bên trong[/B] hay tiềm năng của sự vật với [B]cái nơi nó (an ihm)[/B], tức cái thể hiện cái bản tính bên trong đối với những sự vật khác và cho phép nó tương tác với những sự vật khác. (Vd: con người [B]tự mình[/B] là có bản tính [B]suy tưởng[/B] (có những tư tưởng ở bên trong và có năng lực suy tưởng), theo nghĩa đó, năng lực suy tưởng là [B]tự-mình[/B], là [B]tính quy định (Bestimmheit)[/B] của con người, phân biệt với những tạo vật khác. Còn khi cái [B]“tự mình”[/B] này được hiểu như cái gì phải diễn ra hay phải [B]“ở nơi nó” (an ihm)[/B], tức được thể hiện ra bằng lời nói và hành động có suy nghĩ, thì bấy giờ suy tưởng là [B]sự quy định (Bestimmung)[/B] của con người. “Sự quy định” có thể “được thực hiện” hoặc không. Nếu được thực hiện (tức có hành vi hoàn toàn hợp lý tính) thì [B]“sự quy định”[/B] ấy chính là [B]“tính quy định”[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Một ví dụ khác: đứa bé [B]tự-mình[/B] là có lý tính, nhưng chỉ mới là tiềm năng, chưa “hiện thực” (wirklich), chưa “cho cái khác” hay chưa [B]“nơi nó” (an ihm)[/B]. Trong trường hợp đó, cái [B]“tự-mình”[/B] không khác gì cái [B]“cho-ta” (für uns)[/B], tức cái gì mới là tiềm năng và chưa được [B]bản thân nó[/B] biết đến, trái lại, chỉ mới được [B]ta[/B] (triết gia hay người quan sát ở bên ngoài) biết mà thôi. (Xem: [B]Hegel: Khoa học Lô-gíc[/B], I, tr. 112). (Xem thêm: Chú giải dẫn nhập : 4.2).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](224)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Trong tiến trình trước, ý thức là “môi trường” của những thuộc tính khác nhau, thì bây giờ nó là hành vi [B]hợp nhất[/B] những thuộc tính này lại.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](225)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Vậy chỉ còn những “chất liệu tự do” tương tác với nhau tại “một chỗ”. Chúng không được hợp nhất với nhau trong đối tượng; việc hợp nhất thành một [B]sự vật cá biệt [/B]chỉ là công việc của chủ thể.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](226)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Tính nhị nguyên giữa sự lãnh hội và sự phản tư bây giờ được tri giác ở trong sự vật.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](227)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Ý thức tri giác có xu hướng loại bỏ cái tồn tại-khác ra khỏi ý thức lẫn khỏi sự vật cá biệt. Nhưng, [B]Hegel[/B] sẽ cho thấy cái tồn tại-khác tất yếu chuyển hóa [B]vào bên trong[/B] sự vật. Ở đây, [B]Hegel[/B] muốn tránh mọi cách giải quyết theo kiểu duy tâm chủ quan.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](228)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Unterschied” và “Verschiedenheit”:[/B]trong thuật ngữ của [B]Hegel[/B], cần phân biệt giữa hai chữ: [B]“Unterschied”[/B] (đối lập với Identität/tính đồng nhất) được dịch vừa là [B]sự phân biệt[/B] (Anh/Pháp: [B]distinction[/B]), vừa là [B]sự dị biệt[/B] (Anh/Pháp: [B]difference[/B]) có tính “chủ động”, như là [B]kết quả[/B] của một tiến trình [B]tự-phân biệt[/B], [B]tự-dị biệt hóa[/B]. Còn [B]“Verschiedenheit”[/B] (tạm dịch là [B]“tính khác biệt”[/B]/Anh: [B]diversity[/B]; Pháp: [B]diversité[/B]) thì có nghĩa “bị động” hơn là [B]Unterschied[/B], nó [B]không[/B] chứa đựng một tiến trình [B]tự[/B]-phân biệt chủ động. Đặc điểm của [B]“Verschiedenheit”[/B] là: [B]những cái khác nhau[/B] ([B]verschiedene[/B] Dinge) là dửng dưng (gleichgültig) đối với [B]sự phân biệt hay sự dị biệt (Unterschied) [/B]giữa chúng với nhau !.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](229)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Beschaffenheit”: “tính chất cấu tạo”:[/B]mặt biến dịch và hời hợt bên ngoài đối lập với bản tính bất biến bên trong. Vd: những mặt “tự nhiên” (thân thể) và cảm năng (ngũ quan) của con người so với bản tính có tư duy của con người. Tất nhiên, có thể làm cho “tính chất cấu tạo” tương ứng với bản tính trong chừng mực nào đó.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](230)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Ý thức muốn tránh [B]sự đối lập[/B] ở bên trong sự vật, nên phân biệt một bên là tính quy định [B]bản chất[/B] của sự vật, là cái làm cho nó tách rời với những sự vật khác và bên khác là một [B]tính chất cấu tạo đa tạp (mannigfaltige Beschaffenheit) [/B]không-bản chất, tuy vẫn cần thiết. Sự phân biệt này không đứng vững được: tính khác biệt (Verschiedenheit) cũng là tất yếu để sự vật được xác định và được phân biệt (unterschieden).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](231)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]“[B]Bestimmheit”: “tính quy định”:[/B] còn hiểu là “tính quy định về chất”. [B]Hegel[/B] tiếp thu quan niệm của [B]Spinoza[/B] rằng “mọi khẳng định là phủ định”, theo đó một sự vật hay Khái niệm chỉ được [B]xác định[/B] là nhờ vào sự đối lập của nó với những sự vật hay với những Khái niệm khác. Do đó, “tính quy định” luôn gắn liền với sự phủ định, nói lên bản tính của một cái gì để phân biệt với cái khác. (Xem: [B]Khoa học lô-gíc:[/B] Phần I: Học thuyết về Tồn tại).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](232)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Hoạt động của sự phủ định ở trong cái tồn tại-cho mình là sự tự-phủ định chính mình hay là sự quay trở lại với cái phổ biến.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](233)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Bestimmung” (“sự quy định”):[/B]thuật ngữ quan trọng của [B]Hegel[/B], thường hiểu tương đương với [B]“Khái niệm” (Begriff) [/B]về/của sự vật. ([B]Hegel[/B] thường phân biệt [B]“tính quy định”/“Bestimmheit”[/B] và [B]“sự quy định”/“Bestimmung”[/B], chẳng hạn trong hai cách hiểu về chữ [B]“thực sự” (reell)[/B]: [B]“một con người thực sự”[/B] là khác với pho tượng vì nó có [B]“tính quy định” [/B][về chất]/[B]“Bestimmheit”[/B] của một con người (vd: có lý trí); đồng thời, cũng có nghĩa là [B]“một con người thực sự”[/B] chỉ khi [B]thực hiện trọn vẹn “sự quy định” hay “vận mệnh”/“Bestimmung” [/B](hay [B]“Khái niệm”[/B] về con người), đó là, khi [B]thực sự[/B] suy nghĩ và hành động có lý trí). [B]Xem:[/B] [B]Khoa học Lô-gíc[/B], P.I. (và chú thích 223 cho §120).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](234)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Đó là cái đã tách rời sự thống nhất và tính đa tạp của sự vật. Những sự đối lập đa tạp (cái Cũng và cái Một; cái tồn tại-cho mình và tồn tại-cho cái khác; cái không-bản chất và cái bản chất) mà Ý thức cố [B]tách ra[/B] khỏi sự vật thì thực ra là những gì [B]tạo nên[/B] sự vật. Cái phổ biến – bị tác động bởi ý thức tri giác từ bên ngoài – là cái phổ biến có-điều kiện (bị ý thức điều kiện hóa) sẽ trở thành [B]cái phổ biến vô-điều kiện [/B]vì nó sẽ là tiến trình vận động [B]của cái đối lập tự tạo ra cái đối lập của chính mình[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](235)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Wesenheit” (“tính bản chất”): (Anh/Pháp: essentiality/essentialité):[/B]thuật ngữ của [B]Hegel[/B] chỉ cái gì tạo nên [B]bản chất[/B] của một sự vật. (Khi ở dạng “số nhiều”: [B]“Wesenheiten”[/B], thì tương đương với [B]“các quy định phản tư”/ Reflexionsbestimmungen[/B] (“đồng nhất”, “dị biệt”, “mâu thuẫn”...), tức các quy định tạo nên bản chất của [B]những[/B] sự vật và được tạo ra [B]bởi[/B] sự phản tư hay tương thích [B]với[/B] sự phản tư, được nghiên cứu trong Chương II của [B]“Học thuyết về Bản chất”[/B], phần 2 của [B]Khoa học Lô-gíc. [/B]Xem: [B]Khoa học Lô-gíc[/B], Meiner, II, tr. 24-59.[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](236)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“Gegensatz” (“sự đối lập”) (Anh/Pháp: opposition)[/B]hình thành từ thế kỷ 15 để dịch chữ latinh [B]“oppositio”[/B] (từ chữ [B]“opponere”[/B]: đặt ngược lại). Thường được Hegel dùng đồng nghĩa với chữ [B]“Entgegensetzung”[/B] (sự đối lập, từ chữ gốc: [B]Setzen[/B]: thiết định). Ông cũng dùng chữ [B]“Polarität” [/B](sự đối lập phân cực) có nguồn gốc Hy Lạp, hình thành từ thế kỷ 18, và chữ Đức ròng: [B]“Gegenteil”[/B] (cái đối lập, cái ngược lại) (xem §130). Chữ “sự đối lập” có nguồn gốc xa xưa trong triết học phương Tây. Người Hy Lạp thường xem thế giới được cấu tạo bởi những lực, chất hay bản thể đối lập (vd: nước-lửa; nóng-lạnh; ướt-khô...) (Anaximander, Pythagore, Heraklit). [B]Platon[/B] và [B]Aristote[/B] xem sự biến dịch là sự chuyển hóa từ một cái đối lập sang cái đối lập khác, cũng như xem những sự vật trung gian như là sự pha trộn của những cái đối lập (vd: màu sắc là sự pha trộn khác nhau giữa trắng và đen).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Quan niệm cho rằng các sự đối lập sẽ kết hợp lại và được hợp nhất trong cái Vô-tận (Thượng đế) là của [B]Nicolas Cusanus[/B] (vd minh họa của ông: đường kính của vòng tròn tăng lên thì độ cong của chu vi giảm đi; nên nếu đường kính tăng lên đến vô tận, nó sẽ thống nhất với đường thẳng!) và của G. Bruno. [B]Goethe[/B] và [B]phái lãng mạn[/B] xem thế giới là sự đối lập hay phân cực. [B]Hamann[/B] đề ra nguyên tắc về sự thống nhất các sự đối lập chống lại các sự nhị phân của [B]Kant[/B] và nguyên tắc này giữ vai trò trung tâm trong triết học [B]Schelling[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]Sự đối lập cũng là một đặc điểm của khái niệm và mệnh đề. [B]Aristote[/B] phân biệt mệnh đề đối lập (vd: “mọi A là B” và “không A nào là B”) với mệnh đề mâu thuẫn (“Mọi A là B” và “một số A là không-B”). Với [B]Hegel[/B], sự đối lập (Ggensatz) bao hàm cả sự mâu thuẫn (vd: “là A” và “là không-A”) lẫn sự tương phản (“đen” và “trắng”). Quan niệm về sự đối lập có vai trò trung tâm trong tư tưởng Hegel và gồm các đặc điểm sau:[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- [B]Một sự vật chỉ có một cái đối lập[/B]: nếu “bắc” đối lập với “nam”, nó không thể đối lập với cái gì khác (đây là tư tưởng bắt nguồn từ Platon và Aristote: nếu “bén” vừa đối lập với “phẳng” và “cùn”, chữ “bén” hẳn có hai ý nghĩa (Aristote).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- [B]Nếu hai sự vật đối lập nhau, chúng thiết yếu tác động lẫn nhau và không thể tách rời nhau[/B]: (Vd: hai cực của nam châm; cái xấu, cái ác là điều kiện tất yếu của cái thiện, do đó không thể loại trừ cái ác ra khỏi thế giới, thậm chí ra khỏi cá nhân con người).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- [B]Đối với một số sự đối lập, không chỉ mỗi cái đối lập đòi hỏi có cái khác mà mỗi cái cũng là hay cũng trở thành cái khác.[/B][/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- [B]Một số cái đối lập không thể phân biệt với nhau từ bản thân chúng mà chỉ từ sự đối lập giữa chúng với nhau[/B]: (Vd: hai cực của nam châm không có sự dị biệt “tự thân”, vì thế Hegel không gọi chúng là “giống nhau”/“khác nhau” mà gọi là “cùng tên”/“khác tên” khi chúng hút hoặc đẩy nhau. (Xem: Chương III, §156 và tiếp).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- [B]Các cái đối lập chuyển hóa sang nhau khi chúng đạt đến cực điểm[/B]: Vd: lý giải ví dụ trên đây của Nicolas Cusanus theo [B]tính vô tận [/B]“tốt”, “đúng thật” (xem chú thích 270); sự chuyển hóa trong quan hệ Chủ-Nô (xem Chương IV, §178 và tiếp); chuyển hóa của các khái niệm đối lập như là động lực của phép biện chứng: vd: tồn tại thuần túy trở thành hư vô thuần túy và ngược lại. (Khoa học lô-gíc).[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][FONT=Arial][SIZE=4]- Khác Schelling, Hegel không xem các cái đối lập là trở thành (hay bắt nguồn từ) một cái Tuyệt đối trung tính hay điểm bất phân biệt mà chuyển hóa sang cái khác ở cực điểm của chúng. Sự hợp nhất tối hậu của chúng ở trong “Ý niệm tuyệt đối” cũng không phải là sự trung tính trần trụi mà là một [B]tính toàn thể cụ thể [/B]hay là [B]Hệ thống[/B], vượt bỏ sự đối lập nhưng không “thủ tiêu” nó. Tuy nhiên, nhìn chung, quan niệm của Hegel về sự đối lập có tính minh họa, miêu tả hơn là có hệ thống, vì ông không phân biệt thực rõ những loại hình khác nhau của sự đối lập lẫn những phương thức đối lập của chúng. (Xem thêm: chú thích 285 cho §160 [B]về “sự mâu thuẫn” (der Widerspruch)).[/B][/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](237)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4]Đúc kết tiến trình và bước chuyển sang [B]Giác tính[/B]: Cái phổ biến thoát thai từ tri giác cảm tính đã để tính đa tạp [B]ở bên ngoài[/B] mình. [B]Từ nay[/B], nhất thể tự phản tư vào trong tính đa tạp, và tính đa tạp tự phản tư vào trong tính nhất thể. Các yếu tố không còn được đặt tách rời nhau mà chuyển hóa sang nhau. Bản chất khách quan sẽ là [B]Lực[/B] (Chương III, §136) và hình thái ý thức nắm bắt yếu tố này [B]ở trong[/B] yếu tố kia sẽ là [B]Giác tính[/B].[/SIZE][/FONT][/FONT] [FONT=times new roman][B][FONT=Arial][SIZE=4](238)[/SIZE][/FONT][/B][FONT=Arial][SIZE=4][B]“die Sophisterei” [/B](“sự ngụy biện”): Lô-gíc của tri giác là lô-gíc ngụy biện (“trong chừng mực”, “cái Một”, “cái Cũng”...) hòng cứu vãn tính nhất thể cứng nhắc của sự vật.[/SIZE][/FONT][/FONT] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Đông
Hegel- hiện tượng học tinh thần
Top