Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Phổ Thông
LỊCH SỬ THPT
Lịch sử 12
Điều Gì Làm Nên Thắng Lợi Thần Tốc Của Cách mạng tháng Tám năm 1945?
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Trang Dimple" data-source="post: 201813" data-attributes="member: 288054"><p><strong>Câu 5: Bằng những sự kiện lịch sử chọn lọc, hãy làm sáng tò vai trò của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.</strong></p><p></p><p>*Xác định đường lối giải phóng dân tộc và chủ trương khởi nghĩa vũ trang</p><p></p><p>-Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) là người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Người đã xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc và truyền bá về Việt Nam. Những tư tưởng này là ngọn cờ hướng đạo cho phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì vận động thành lập Đảng, là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đang đi tìm chân lý đầu thế kỉ XX.</p><p></p><p>-Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam (1930), soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, xác định đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn. Cương lĩnh nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc.</p><p></p><p>-Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định đường lối và phương pháp cách mạng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị giương cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện mỗi nước Đông Dương. Nhờ sự chỉ đạo đó, toàn Đảng toàn dân đã tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.</p><p></p><p>*Sáng lập Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị lực lượng chính trị</p><p></p><p>-Người rất quan tâm đến lực lượng chính trị, đã chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941). Việt Minh là khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và các tôn giáo yêu nước, cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng.</p><p></p><p>-Sự phát triển của Mặt trận Việt Minh góp phần xây dựng, tổ chức, giác ngộ và chuẩn bị lực lượng chính trị cho cách mạng.</p><p></p><p>*Chuẩn bị lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng</p><p></p><p>-Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo cán bộ quân sự. Từ năm 1925 đến năm 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc) người mở các lớp đào tạo cán bộ quân sự, chính trị cho cách mạng Việt Nam. Một số cán bộ được Nguyễn Ái Quốc cử đi học tại các trường quân sự của Trung Quốc và Liên xô nhằm chuẩn bị lực lượng vũ trang cho cách mạng.</p><p></p><p>-Những năm 1941-1944, Người viết Kinh nghiệm du kích tàu, Kinh nghiệm du kích Nga. Đặc biệt, Người biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ quân sự, tiêu biểu là Chiến thuật du kích.</p><p></p><p>-Cuối năm 1941, Người chỉ thị thành lập một đội vũ trang gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc.</p><p></p><p>-Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt dộng và phương châm tác chiến của lực lượng vũ trang. Đó là cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng. Chấp hành Chỉ thị này, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Tuyên Quang), Đội Việt Nam Tuyên truyèn Giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy,</p><p></p><p>-Thực hiện tư tưởng vũ trang quân chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân của Hồ Chí Minh, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân (5-1945); đồng thời lực lượng bán vũ trang gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày càng rộng khắp. cả hai lực lượng chính trị và vũ trang đều là chỗ dựa của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.</p><p></p><p>-Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn Cao Bằng làm nơi dừng chân đầu tiên. Trong thời kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước.</p><p></p><p>-Tháng 5-1945, Người cùng Trung ương Đảng chuyển về Tân Trào (Tuyên Quang), sử dụng Tân Trào thành nơi chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.</p><p></p><p>Xác định đúng thời cơ, kiên quyết phát động Tổng khởi nghĩa</p><p></p><p>-Cùng với Trung ương Đảng, Người đã dự đoán chính xác thời cơ và kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa. Ngay từ đầu tháng 8-1945, nhận được những thông tin về chiến thắng của quân đội Đồng minh đối với phát xít Nhật, Người đã dự đoán được thời cơ thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyèn trong cả nưởc đã tới, nên đã khẳng định: “Lúc này thời cơ đã tới, dù có hi sinh, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết tâm giành cho được độc lập". Sự chỉ đạo của Người đã giúp cho Trung ương Đảng có chủ trương kịp thời và phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước trước khi quân đội Đồng minh kéo vào nước ta.</p><p></p><p>-Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật dầu hàng Đồng minh không điều kiện (15/8), hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ, "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Ngày 16-8-1945, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã dến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ”.</p><p></p><p>-Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam quyết tâm nổi dậy giành chính quyền trong tháng 8 - 1945. Cách mạng Việt Nam tiến đến bước nhảy vọt vĩ đại, nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần trong Cao trào kháng Nhật cứu nước lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.</p><p></p><p>-Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã giành được tháng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”.</p><p></p><p>*Sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa</p><p></p><p>-Ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào đã cử ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.</p><p></p><p>-Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.</p><p></p><p><strong>Câu 6. CM tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình.</strong></p><p><strong></strong></p><p><strong><em>a. Cách mạng tháng Tám trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính chất dân tộc.</em></strong></p><p></p><p>- Đối tượng cách mạng: CM tháng Tám năm 1945, nhằm vào kẻ thù là đế quốc, phát xít Pháp- Nhật và tay sai. Chống đế quốc phát xít Pháp – Nhật và tay sai nên CM tháng Tám năm 1945 mang tính chất dân tộc.</p><p></p><p>- Xét về nhiệm vụ cách mạng: Các Hội nghị W Đảng (1939, 1940,1941) đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc; Chủ trương giải quyết mối qun hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất.</p><p></p><p>- Xét về lực lượng: CM tháng Tám là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết trong mặt trận Việt Minh. Việt Minh tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ). Như vậy, lực lượng đông đảo nhất của mặt trận Việt Minh là lực lượng dân tộc. Vì thế Cách mạng tháng Tám mang tính chất dân tộc.</p><p></p><p>- Nhà nước VNDCCH là một hình thức chính quyền rộng rãi, không chỉ của công nhân và nông dân, mà của toàn thể dân tộc. Mọi người Việt Nam đã tham gia vào quá trình đấu tranh giành chính quyền thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia giành và giữ chính quyền.</p><p></p><p><strong><em>b. CM tháng Tám cũng mang tính chất dân chủ:</em></strong></p><p></p><p>- Với thắng lợi của CM tháng Tám, nhân dân VN đã bước từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Chính phủ cách mạng đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.</p><p></p><p>- Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào thắng lợi của phe dân chủ chống phát xít trên thế giới.</p><p></p><p>- Một bộ phận những quyền dân chủ của nông dân đã được giải quyết cấp ruộng đất giảm tô, chia lại ruộng công,…</p><p></p><p><strong><em>c. Tuy nhiên</em></strong>, tính chất dân chủ của cách mạng tháng Tám không phải là tính chất điển hình, ví dụ đã xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến nhưng cách mạng tháng Tám chưa xoá bỏ triệt để mọi cơ sở kinh tế, xã hội của chế độ phong kiến, chưa giải quyết triệt để khẩu hiệu người cày có ruộng, chưa hoàn toàn xoá bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến (giai cấp địa chủ còn tồn tại, chưa được xoá bỏ về mặt giai cấp).</p><p></p><p><strong><em>=> Như vậy cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ mới, trong đó tính chất dân tộc hết sức điển hình.</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p> <strong><em></em></strong></p><p><strong></strong></p><p> <strong>Câu 7: Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý ngĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm cách mạng tháng Tám?</strong></p><p><strong></strong></p><p><strong><em>a. Nguyên nhân thắng lợi:</em></strong></p><p></p><p><em>* Nguyên nhân khách quan:</em></p><p></p><p>- Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và lực lượng dân chủ đã thừng bước làm thất bại lực lượng phát xít, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng.</p><p></p><p>- 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan đông của Nhật ở Đông Bắc, Trung Quốc. Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirosima và Nagaxaki của Nhật Bản, giết hại hàng vạn người dân vô tội.</p><p></p><p>+ Ngày 15/8/1945,Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Đó là thời cơ “nghìn năm có một” cho nhân dân Việt Nam đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu.</p><p></p><p><em>* Chủ quan:</em></p><p></p><p>- Dân tộc VN vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy khi ĐCSĐD và Mặt trận Việt Minh phất cao cờ cứu nước thì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà.</p><p></p><p>- Có sự lãnh đạo của ĐCSĐD, đứng đầu là chủ tịch HCM, đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo.</p><p></p><p>- Đảng có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, đặc biệt là lãnh đạo chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.</p><p></p><p>- Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo, chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.</p><p></p><p><strong><em> </em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p><strong><em>b. Ý nghĩa lịch sử:</em></strong></p><p></p><p><em>* Đối với trong nước: </em></p><p></p><p>- Mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và phát xít Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.</p><p></p><p>- Thắng lợi của CM tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng VN, mở đầu kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc: Kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước, kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng nhân dân lao động.</p><p></p><p>- ĐCSĐ D từ chỗ hoạt động bí mật, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai, từ hoạt động bất hợp pháp, trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước.</p><p></p><p><em>* Với thế giới:</em></p><p></p><p>- Thắng lợi của CM tháng Tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới, một dân tộc nhỏ yếu tự giải phóng khỏi ách thống trị thực dân đế quốc và là thắng lợi đầu tiên của Đảng vô sản ở nước thuộc địa, giành được chính quyền CM trong cả nước. Do đó, CM tháng Tám góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Lào và Cam-puchia.</p><p></p><p>- Góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, tạo điều kiện để các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng.</p><p></p><p><strong><em> </em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p><strong><em>c. Những bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám.</em></strong></p><p></p><p>- Đảng vận dụng sáng tạo CN mac-Lê nin vào hoàn cảnh thực tiễn VN, nắm bắt diễn biễn tình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp đúng đắn sáng tạo nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đưa nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hàng đầu, nhằm tập trung lực lượng để thực hiện cho kỳ được yêu cầu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.</p><p></p><p>+ Dưới thời thuộc địa, xã hội VN có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc và giai cấp, trong đó mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất. Vì vậy nhiệm vụ giải phóng đan tộc là nhiệm vụ hàng đầu.</p><p></p><p>+ Giai cấp nông dân VN chiếm hơn 90% dân số, là lực lượng chủ lực của CM. Giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng nông dân. Yêu cầu được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là yêu cầu hàng đầu của nông dân. Yêu cầu ruộng đất cho nông dân chỉ là thứ yếu so với yêu cầu độc lập.</p><p></p><p>+ Xuất phát từ đặc điểm trên, trong giai đoạn vận động cách mạng tháng Tám, Đảng đã thay đổi chủ trương chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Nhờ đó đã phân hoá hàng ngũ kẻ thù và huy động được sức mạnh của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của CM tháng Tám.</p><p></p><p>- Đảng tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi- mặt trận Việt Minh- tạo nên sức mạnh toàn dân. Đánh giá đúng và biết tập hợp, tổ chức lực lượng các giai cấp cách mạng, trong đó công nông là đội quân chủ lực. Trên cơ sở khối liên minh công nông, biết khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp yêu nước và tiến bộ trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng.</p><p></p><p>- Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị với khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị tiến tới tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>+ Bạo lực cách mạng là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng. Từ nhận thức trên, Đảng chỉ đạo xây dựng chỗ dựa của bạo lực bao gồm cả dân tộc, được tổ chức thành hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.</p><p></p><p>+ Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đảng đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.</p><p></p><p>+ Nhận rõ vai trò, vị trí của nông thôn và thành thị, Đảng ta đã xây dựng lực lượng cách mạng trên cả 2 địa bàn với mức độ khác nhau: Nông thôn được xem là trận địa vững chắc, là chỗ dựa để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, ra sức xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó là điều kiện phát động toàn dân nổi dậy cả nông thôn và thành thị. Trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi Tổng KN tháng Tám.</p><p></p><p>- Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng để vững mạnh về tổ chức. đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công</p><p></p><p>+ Trong vòng 15 năm lãnh đạo (1930-1945), Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Qua đó, Đảng đẫ rèn luyện được đội ngũ cán bộ đảng viên làm cho Đảng ngày càng phát triển và trưởng thành.</p><p></p><p>+ Nhờ quan hệ gắn bó với nhân dân, từng bước đấu tranh cho quyền lợi dân tộc, của nhân dân. Đảng đã vững mạnh về tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo CM thành công.</p><p></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Trang Dimple, post: 201813, member: 288054"] [B]Câu 5: Bằng những sự kiện lịch sử chọn lọc, hãy làm sáng tò vai trò của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.[/B] *Xác định đường lối giải phóng dân tộc và chủ trương khởi nghĩa vũ trang -Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) là người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Người đã xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc và truyền bá về Việt Nam. Những tư tưởng này là ngọn cờ hướng đạo cho phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì vận động thành lập Đảng, là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đang đi tìm chân lý đầu thế kỉ XX. -Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam (1930), soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, xác định đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn. Cương lĩnh nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. -Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định đường lối và phương pháp cách mạng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị giương cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện mỗi nước Đông Dương. Nhờ sự chỉ đạo đó, toàn Đảng toàn dân đã tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. *Sáng lập Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị lực lượng chính trị -Người rất quan tâm đến lực lượng chính trị, đã chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941). Việt Minh là khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và các tôn giáo yêu nước, cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng. -Sự phát triển của Mặt trận Việt Minh góp phần xây dựng, tổ chức, giác ngộ và chuẩn bị lực lượng chính trị cho cách mạng. *Chuẩn bị lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng -Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo cán bộ quân sự. Từ năm 1925 đến năm 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc) người mở các lớp đào tạo cán bộ quân sự, chính trị cho cách mạng Việt Nam. Một số cán bộ được Nguyễn Ái Quốc cử đi học tại các trường quân sự của Trung Quốc và Liên xô nhằm chuẩn bị lực lượng vũ trang cho cách mạng. -Những năm 1941-1944, Người viết Kinh nghiệm du kích tàu, Kinh nghiệm du kích Nga. Đặc biệt, Người biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ quân sự, tiêu biểu là Chiến thuật du kích. -Cuối năm 1941, Người chỉ thị thành lập một đội vũ trang gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. -Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt dộng và phương châm tác chiến của lực lượng vũ trang. Đó là cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng. Chấp hành Chỉ thị này, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Tuyên Quang), Đội Việt Nam Tuyên truyèn Giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, -Thực hiện tư tưởng vũ trang quân chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân của Hồ Chí Minh, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân (5-1945); đồng thời lực lượng bán vũ trang gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày càng rộng khắp. cả hai lực lượng chính trị và vũ trang đều là chỗ dựa của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. -Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn Cao Bằng làm nơi dừng chân đầu tiên. Trong thời kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước. -Tháng 5-1945, Người cùng Trung ương Đảng chuyển về Tân Trào (Tuyên Quang), sử dụng Tân Trào thành nơi chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Xác định đúng thời cơ, kiên quyết phát động Tổng khởi nghĩa -Cùng với Trung ương Đảng, Người đã dự đoán chính xác thời cơ và kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa. Ngay từ đầu tháng 8-1945, nhận được những thông tin về chiến thắng của quân đội Đồng minh đối với phát xít Nhật, Người đã dự đoán được thời cơ thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyèn trong cả nưởc đã tới, nên đã khẳng định: “Lúc này thời cơ đã tới, dù có hi sinh, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết tâm giành cho được độc lập". Sự chỉ đạo của Người đã giúp cho Trung ương Đảng có chủ trương kịp thời và phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước trước khi quân đội Đồng minh kéo vào nước ta. -Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật dầu hàng Đồng minh không điều kiện (15/8), hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ, "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Ngày 16-8-1945, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã dến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ”. -Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam quyết tâm nổi dậy giành chính quyền trong tháng 8 - 1945. Cách mạng Việt Nam tiến đến bước nhảy vọt vĩ đại, nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần trong Cao trào kháng Nhật cứu nước lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. -Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã giành được tháng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”. *Sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa -Ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào đã cử ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. -Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. [B]Câu 6. CM tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình. [I]a. Cách mạng tháng Tám trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính chất dân tộc.[/I][/B] - Đối tượng cách mạng: CM tháng Tám năm 1945, nhằm vào kẻ thù là đế quốc, phát xít Pháp- Nhật và tay sai. Chống đế quốc phát xít Pháp – Nhật và tay sai nên CM tháng Tám năm 1945 mang tính chất dân tộc. - Xét về nhiệm vụ cách mạng: Các Hội nghị W Đảng (1939, 1940,1941) đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc; Chủ trương giải quyết mối qun hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. - Xét về lực lượng: CM tháng Tám là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết trong mặt trận Việt Minh. Việt Minh tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ). Như vậy, lực lượng đông đảo nhất của mặt trận Việt Minh là lực lượng dân tộc. Vì thế Cách mạng tháng Tám mang tính chất dân tộc. - Nhà nước VNDCCH là một hình thức chính quyền rộng rãi, không chỉ của công nhân và nông dân, mà của toàn thể dân tộc. Mọi người Việt Nam đã tham gia vào quá trình đấu tranh giành chính quyền thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia giành và giữ chính quyền. [B][I]b. CM tháng Tám cũng mang tính chất dân chủ:[/I][/B] - Với thắng lợi của CM tháng Tám, nhân dân VN đã bước từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Chính phủ cách mạng đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. - Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào thắng lợi của phe dân chủ chống phát xít trên thế giới. - Một bộ phận những quyền dân chủ của nông dân đã được giải quyết cấp ruộng đất giảm tô, chia lại ruộng công,… [B][I]c. Tuy nhiên[/I][/B], tính chất dân chủ của cách mạng tháng Tám không phải là tính chất điển hình, ví dụ đã xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến nhưng cách mạng tháng Tám chưa xoá bỏ triệt để mọi cơ sở kinh tế, xã hội của chế độ phong kiến, chưa giải quyết triệt để khẩu hiệu người cày có ruộng, chưa hoàn toàn xoá bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến (giai cấp địa chủ còn tồn tại, chưa được xoá bỏ về mặt giai cấp). [B][I]=> Như vậy cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ mới, trong đó tính chất dân tộc hết sức điển hình. [/I] Câu 7: Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý ngĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm cách mạng tháng Tám? [I]a. Nguyên nhân thắng lợi:[/I][/B] [I]* Nguyên nhân khách quan:[/I] - Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và lực lượng dân chủ đã thừng bước làm thất bại lực lượng phát xít, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng. - 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan đông của Nhật ở Đông Bắc, Trung Quốc. Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirosima và Nagaxaki của Nhật Bản, giết hại hàng vạn người dân vô tội. + Ngày 15/8/1945,Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Đó là thời cơ “nghìn năm có một” cho nhân dân Việt Nam đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu. [I]* Chủ quan:[/I] - Dân tộc VN vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy khi ĐCSĐD và Mặt trận Việt Minh phất cao cờ cứu nước thì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà. - Có sự lãnh đạo của ĐCSĐD, đứng đầu là chủ tịch HCM, đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo. - Đảng có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, đặc biệt là lãnh đạo chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939-1945. - Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo, chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền. [B][I] b. Ý nghĩa lịch sử:[/I][/B] [I]* Đối với trong nước: [/I] - Mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và phát xít Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. - Thắng lợi của CM tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng VN, mở đầu kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc: Kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước, kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng nhân dân lao động. - ĐCSĐ D từ chỗ hoạt động bí mật, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai, từ hoạt động bất hợp pháp, trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước. [I]* Với thế giới:[/I] - Thắng lợi của CM tháng Tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới, một dân tộc nhỏ yếu tự giải phóng khỏi ách thống trị thực dân đế quốc và là thắng lợi đầu tiên của Đảng vô sản ở nước thuộc địa, giành được chính quyền CM trong cả nước. Do đó, CM tháng Tám góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Lào và Cam-puchia. - Góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, tạo điều kiện để các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng. [B][I] c. Những bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám.[/I][/B] - Đảng vận dụng sáng tạo CN mac-Lê nin vào hoàn cảnh thực tiễn VN, nắm bắt diễn biễn tình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp đúng đắn sáng tạo nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đưa nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hàng đầu, nhằm tập trung lực lượng để thực hiện cho kỳ được yêu cầu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc. + Dưới thời thuộc địa, xã hội VN có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc và giai cấp, trong đó mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất. Vì vậy nhiệm vụ giải phóng đan tộc là nhiệm vụ hàng đầu. + Giai cấp nông dân VN chiếm hơn 90% dân số, là lực lượng chủ lực của CM. Giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng nông dân. Yêu cầu được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là yêu cầu hàng đầu của nông dân. Yêu cầu ruộng đất cho nông dân chỉ là thứ yếu so với yêu cầu độc lập. + Xuất phát từ đặc điểm trên, trong giai đoạn vận động cách mạng tháng Tám, Đảng đã thay đổi chủ trương chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Nhờ đó đã phân hoá hàng ngũ kẻ thù và huy động được sức mạnh của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của CM tháng Tám. - Đảng tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi- mặt trận Việt Minh- tạo nên sức mạnh toàn dân. Đánh giá đúng và biết tập hợp, tổ chức lực lượng các giai cấp cách mạng, trong đó công nông là đội quân chủ lực. Trên cơ sở khối liên minh công nông, biết khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp yêu nước và tiến bộ trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng. - Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị với khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị tiến tới tổng khởi nghĩa. + Bạo lực cách mạng là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng. Từ nhận thức trên, Đảng chỉ đạo xây dựng chỗ dựa của bạo lực bao gồm cả dân tộc, được tổ chức thành hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. + Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đảng đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. + Nhận rõ vai trò, vị trí của nông thôn và thành thị, Đảng ta đã xây dựng lực lượng cách mạng trên cả 2 địa bàn với mức độ khác nhau: Nông thôn được xem là trận địa vững chắc, là chỗ dựa để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, ra sức xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó là điều kiện phát động toàn dân nổi dậy cả nông thôn và thành thị. Trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi Tổng KN tháng Tám. - Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng để vững mạnh về tổ chức. đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công + Trong vòng 15 năm lãnh đạo (1930-1945), Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Qua đó, Đảng đẫ rèn luyện được đội ngũ cán bộ đảng viên làm cho Đảng ngày càng phát triển và trưởng thành. + Nhờ quan hệ gắn bó với nhân dân, từng bước đấu tranh cho quyền lợi dân tộc, của nhân dân. Đảng đã vững mạnh về tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo CM thành công. [B] [/B] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Phổ Thông
LỊCH SỬ THPT
Lịch sử 12
Điều Gì Làm Nên Thắng Lợi Thần Tốc Của Cách mạng tháng Tám năm 1945?
Top