Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Phổ Thông
LỊCH SỬ THPT
Lịch sử 12
Điều Gì Làm Nên Thắng Lợi Thần Tốc Của Cách mạng tháng Tám năm 1945?
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Trang Dimple" data-source="post: 201812" data-attributes="member: 288054"><p><strong>B. CÂU HỎI MỞ RỘNG</strong></p><p><strong></strong></p><p><strong>Câu 1: Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang những tính chất nào? Tính chất nào là chủ yếu?</strong></p><p></p><p>- Cách mạng tháng Tám trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính chất dân tộc.</p><p></p><p>+ Về đối tượng cách mạng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 nhằm vào kẻ thù là đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai. Chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai nên Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang tính chất dân tộc.</p><p></p><p>+ Xét về nhiệm vụ cách mạng: Các Hội nghị Trung ương Đảng (1939, 1940,1941) đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này là chống đế quốc giành độc lập dân tộc; chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất.</p><p></p><p>+ Xét về lực lượng: Cách mạng tháng Tám là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh. Việt Minh tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ). Như vậy, lực lượng đông đảo nhất của Mặt trận Việt Minh là lực lượng dân tộc. Vì thế Cách mạng tháng Tám mang tính chất dân tộc.</p><p></p><p>+ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một hình thức chính quyền nhà nước rộng rãi, không chỉ của công nhân và nông dân, mà của toàn thể dân tộc. Mọi người Việt Nam đã tham gia vào quá trình đấu tranh giành chính quyền thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia giành và giữ chính quyền.</p><p></p><p>- Cách mạng tháng Tám cũng mang tính chất dân chủ, biểu hiện là:</p><p></p><p>+ Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã bước từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Chính phủ cách mạng đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.</p><p></p><p>+ Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào tháng lợi của phe dân chủ chống phát xít trên thế giới,</p><p></p><p>+ Một bộ phận những quyền dân chủ của nông dân đã được giải quyết: cấp ruộng đất, giảm tô, chia lại ruộng công...</p><p></p><p>- Tuy nhiên, tính chất dân chủ của Cách mạng tháng Tám không phải là tính chất điển hình vì dù đã xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến nhưng Cách mạng tháng Tám chưa xóa bỏ triệt để mọi cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ phong kiến, chưa giải quyết triệt để khấu hiệu người cày có ruộng, chưa hoàn toàn xóa bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến (giai cấp địa chủ còn tồn tại, chưa được xóa bỏ về mặt giai cấp).</p><p></p><p>Như vậy, Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ mới, trong đó tính chất dân tộc hết sức điển hình</p><p></p><p><strong>Câu 2: Phân tích nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang của Đảng trong Cách nạng tháng Tám năm 1945.</strong></p><p></p><p>-Lê-nin nói: “Khởi nghĩa vũ trang là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật được tuân theo những nguyên tắc của nó và nổ ra đúng thời cơ”. Nlững điều đó đòi hỏi người lãnh đạo cách mạng phải nhận thức đúng và có lành động khéo léo.</p><p></p><p>-Nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng tháng Tám tập trung ở phương pháp cách mạng. Đây là yêu tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể hiện tập trung ở phương pháp chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang.</p><p></p><p>Nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng:</p><p></p><p>Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, dựa vào lực lương chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.</p><p></p><p>Về hình thái phát triển cách mạng</p><p></p><p>Nếu như cuộc Cách mạng tháng Mười Nga (1917) bùng nổ ở các trung tâm đô thị rồi tỏa về vùng nông thôn, cách mạng Trung Quốc từ nông thôn tiến vào thành thị, lấy nông thôn bao vây thành thị, thì Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam lại diễn ra với sự kết hợp hài hòa giữa nông thôn và thành thị. Đảng coi trọng nông thôn là trận địa vững chắc, dựa vào nông thôn để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, tiếp tục xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó lã điều kiện để phát động toàn dân nổi dậy ở cả nông thôn và thành thị, trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>Về hình thức phát triển của cách mạng:</p><p></p><p>Hội nghị lần thứ Tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) xác định chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; xác định hình thức cuộc khởi nghĩa ở nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa. Luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, khi có thời cơ sẽ chuyến từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. Thực chất của Cao trào kháng Nhật cứu nước (từ 9 - 3 đến giữa tháng 8 -1945) là một thời kì khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền bộ phận ở nhiều vùng nông thôn. Từ ngày 14-8 đến ngày 28-8-1945, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã tổ chức cho nhân dân cả nước tiến hành cuộc Tống khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình,</p><p></p><p>Chủ tịch Hô Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập.</p><p></p><p>Nghệ thuật chớp thời phát động Tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (đầu tháng 9 -1945), đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đểế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước thống nhất đều nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Đảng ta kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh (Anh - Pháp - Trung Hoa Dân quốc) vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, khiến Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và ít đồ máu.</p><p></p><p><strong>Câu 3: Cách mạng thắng Tám năm 1945 ở việt Nam có phải là một cuộc cách mạng bạo lực hay không? Tại sao?</strong></p><p></p><p>-Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một cuộc cách mạng bạo lực.</p><p></p><p>-Trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam, kẻ thù luôn dùng bạo lực để thống trị, đàn áp nhân dân ta, thì con đường để giành độc lập tự do chỉ có thể là con đường cách mạng bạo lực. Bạo lực là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân.</p><p></p><p>-Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc vùng dậy của cả dân tộc Việt Nam, diễn ra dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang. Đó là một cuộc cách mạng bạo lực. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng.</p><p></p><p>-Đảng và Hồ Chí Minh đã lãnh dạo xây dựng cơ sở của bạo lực cách mạng bao gồm hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ ưang.</p><p></p><p>+ Ngay từ khi ra đời, Đảng đã nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, quy tụ lực lượng sức mạnh của cả dân tộc, làm đẩy nên cao trào cách mạng năm 1930, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, Lực lượng chính trị cách mạng cũng được hình thành từ cao trào này.</p><p></p><p>+ Trong giai đoạn 1936 -1939, tận dụng khả năng hoạt động hợp pháp công khai, Đảng phát động phong trào dân chủ rộng lớn ở cả thành thị và nông thôn, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp xã hội, từ quần chúng cơ bản đến tầng lớp trên đấu tranh chống đế quốc phát xít, bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng, giành dân sinh, dân chủ. Từ phong trào này, Đảng đã xây dựng được một đội quân chính trị hùng hậu hàng triệu người.</p><p></p><p>+ Trong giai đoạn cứu nước 1939 - 1945:</p><p></p><p>Lực lượng chính trị được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện trong Mặt trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên “Cứu quốc”. Việt Minh là nơi tập hợp, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị cho cách mạng; đây là một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.</p><p></p><p>-Trên cơ sở lực lượng chính trị, Đảng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng vũ trang gồm Cứu quốc quân (1941), Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944), được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân (5-1945); lực lượng bán vũ trang (du kích, đội tự vệ).</p><p></p><p>-Từ tháng 3 đến giữa tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, các lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã tích cực tham gia đấu tranh chống Nhật.</p><p></p><p>Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản Chỉ thị quyết định phát động một Cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền dề cho cuộc Tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>Hình thức đấu tranh của quần chúng là từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang du kích, ở căn cứ địa Cao – Bắc - Lạng, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân cùng với quần chúng giải phóng nhiều xã, châu, huyện. Ở Bắc Kì, khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” thu hút hàng triệu người tham gia. Có nơi quân chúng đã giành được chính quyèn. Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Tiên Du (Bắc Ninh, 10 - 3 -1945), Bãn Yên Nhân (Hưng Yên, 11 - 3 - 1945). Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng (11- 3 -1945), thành lập Đội du kích Ba Tơ. Ở Nam Kì, Việt Minh hoạt động mạnh mẽ ở Mĩ Tho và Hậu Giang.</p><p></p><p>-Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, dựa vào lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.</p><p></p><p>Toàn thể dân tộc Việt Nam xuống đường với sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị quần chúng có vũ trang thô sơ là lực lượng đông đảo nhất và giữ vị trí quyết định thắng lợi. Lực lượng vũ trang, tuy số lượng ít, trang bị thiếu thốn, non yếu về trình độ tác chiến, nhưng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tiến công quân sự ở một số nơi, gây thắng thế cho cách mạng, đồng thời còn là lực lượng xung kích hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.</p><p></p><p>-Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.</p><p></p><p></p><p></p><p><strong>Câu 4: Chứng minh Cách mạng tháng Tám nỉm 1945 thắng lợi là kết quả cùa 15 năm chuẩn bị lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.</strong></p><p></p><p>*Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), thông qua Cương lĩnh chính trị là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có ý nghĩa quyết định cho những bước phát triển tiếp theo của lịch sử dân tộc Việt Nam.</p><p></p><p>-Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung nguyện suốt đời hy sinh cho lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân.</p><p></p><p>-Cho dù còn vắn tẳt nhưng là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đán, sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và nhân văn theo con đường cách mạng vô sản. Độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh, được phản ánh đầy đủ trong cương lĩnh này. Cương lĩnh đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại.</p><p></p><p>*Phong trào cách mạng 1930 -1931 là cuộc tập dượt đầu tiên cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.</p><p></p><p>-Phong trào cách mạng 1930 -1931 đã khẳng định vai trò của khối liên minh công nông; xây dựng được đội ngũ cán bộ và đảng viên.</p><p></p><p>-Nếu không có phong trào cách mạng 1930 -1931, trong đó quần chúng công, nông đã vung ra một nghị lực cách mạng phi thường thì không thể có thắng lợi của phong trào dân chủ 1936 -1939 và Cách mạng tháng Tám 1945</p><p></p><p>*Phong trào dân chủ 1936 -1939 là cuộc tập dượt lần thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.</p><p></p><p>-Qua phong trào này, quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; uy tín và ảnh hưởng của Đảng được nâng cao trong quần chúng; đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành; Đảng thêm trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu.</p><p></p><p>-Phong trào dân chủ 1936 -1939 là một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.</p><p></p><p>*Chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa (1939-1945)</p><p></p><p>-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939 đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu “lập chính quyền Xô viết công - nông - binh” bằng khẩu hiệu “lập chính quyền dân chủ cộng hòa”.</p><p></p><p>-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (5 -1941) đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; chỉ rõ một cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có đủ điêu kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ; xác định hình thái khởi nghĩa vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa.</p><p></p><p>-Chuẩn bị lực lượng chính trị</p><p></p><p>+ Xây dựng lực lượng chính trị gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Việt Minh (bao gồm các đoàn thể quần chúng mang tên "Cứu quốc”). Chương trình của việt Minh đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, nên phong trào của Việt Minh ngày càng phát triển mạnh.</p><p></p><p>+ Lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng đông đảo nhất, một lực lượng cơ bản, giữ vai trò quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.</p><p></p><p>Việt Minh là nơi tổ chức, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chinh trị, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng.</p><p></p><p>-Chuẩn bị lực lượng vũ trang</p><p></p><p>+ Cùng với quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, Đảng từng bước chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang.</p><p></p><p>+ Sau cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (11 - 1940), lực lượng vũ trang Bắc Sơn được duy trì để làm vốn quân sự cho cách mạng. Bước sang năm 1941 những đội du kích ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội cứu quốc quân 1 (14 - 2 -1941), Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 7 -1941 đến tháng 2 -1942). Ngày 15 - 9 -1941, Trung đội cứu quốc quân II ra đời.</p><p></p><p>+ ở Cao Bằng, trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh, các đội tự vệ cứu quốc ra đời. Cuối năm 1941, Nguyền Ái Quốc chỉ thị thành lập đội tự vệ gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. Người biên soạn nhiều tài liệu để huấn luyện cán bộ quân sự như Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Tàu...</p><p></p><p>+ Ngày 22 - 12 -1944, thực hiện chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Đội việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, lúc đâu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ba ngày sau, đội đánh thắng hai trận liên tiếp ở Phay Khắt và Nà Ngần.</p><p></p><p>+ Ngày 15 - 5 - 1945, Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân.</p><p></p><p>+ Lực lượng bán vũ trang cũng được xây dựng rộng khắp, ở cả nông thôn và thành thị, gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu.</p><p></p><p>+ Cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều là cơ sở của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong Tổng khởi nghĩa toàn dân, đập tan chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.</p><p></p><p>- Xây dựng căn cứ địa</p><p></p><p>+ Năm 1940, sau cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn, vùng Bắc Sơn - Võ Nhai được xây dựng thành một trung tâm căn cứ địa, gắn liền với sự ra đời và hoạt động của đội du kích Bắc Sơn.</p><p></p><p>+ Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chọn Cao Bằng làm nơi đầu tiên để xây dựng căn cứ địa. Từ đó, căn cứ địa cách mạng ngày càng mở rộng, phát triền thành căn cứ Cao – Bắc-Lạng.</p><p></p><p>+ Tháng 6 -1945, Khu giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đó là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới trong tương lai.</p><p></p><p>Tân Trào là thủ đô Khu giải phóng, ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập.</p><p></p><p>+ Công cuộc chuẩn bị lực lượng được tiến hành chu đáo. Toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng đón chờ thời cơ vùng dậy Tống khởi nghĩa.</p><p></p><p></p><p></p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Trang Dimple, post: 201812, member: 288054"] [B]B. CÂU HỎI MỞ RỘNG Câu 1: Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang những tính chất nào? Tính chất nào là chủ yếu?[/B] - Cách mạng tháng Tám trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mang tính chất dân tộc. + Về đối tượng cách mạng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 nhằm vào kẻ thù là đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai. Chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật và tay sai nên Cách mạng tháng Tám năm 1945 mang tính chất dân tộc. + Xét về nhiệm vụ cách mạng: Các Hội nghị Trung ương Đảng (1939, 1940,1941) đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này là chống đế quốc giành độc lập dân tộc; chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. + Xét về lực lượng: Cách mạng tháng Tám là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh. Việt Minh tập hợp lực lượng hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân) đến tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ). Như vậy, lực lượng đông đảo nhất của Mặt trận Việt Minh là lực lượng dân tộc. Vì thế Cách mạng tháng Tám mang tính chất dân tộc. + Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một hình thức chính quyền nhà nước rộng rãi, không chỉ của công nhân và nông dân, mà của toàn thể dân tộc. Mọi người Việt Nam đã tham gia vào quá trình đấu tranh giành chính quyền thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia giành và giữ chính quyền. - Cách mạng tháng Tám cũng mang tính chất dân chủ, biểu hiện là: + Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã bước từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước. Chính phủ cách mạng đã tuyên bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. + Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào tháng lợi của phe dân chủ chống phát xít trên thế giới, + Một bộ phận những quyền dân chủ của nông dân đã được giải quyết: cấp ruộng đất, giảm tô, chia lại ruộng công... - Tuy nhiên, tính chất dân chủ của Cách mạng tháng Tám không phải là tính chất điển hình vì dù đã xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến nhưng Cách mạng tháng Tám chưa xóa bỏ triệt để mọi cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ phong kiến, chưa giải quyết triệt để khấu hiệu người cày có ruộng, chưa hoàn toàn xóa bỏ những tàn tích phong kiến, nửa phong kiến (giai cấp địa chủ còn tồn tại, chưa được xóa bỏ về mặt giai cấp). Như vậy, Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có tính chất dân chủ mới, trong đó tính chất dân tộc hết sức điển hình [B]Câu 2: Phân tích nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang của Đảng trong Cách nạng tháng Tám năm 1945.[/B] -Lê-nin nói: “Khởi nghĩa vũ trang là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật được tuân theo những nguyên tắc của nó và nổ ra đúng thời cơ”. Nlững điều đó đòi hỏi người lãnh đạo cách mạng phải nhận thức đúng và có lành động khéo léo. -Nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng tháng Tám tập trung ở phương pháp cách mạng. Đây là yêu tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể hiện tập trung ở phương pháp chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang. Nghệ thuật sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng: Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, dựa vào lực lương chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. Về hình thái phát triển cách mạng Nếu như cuộc Cách mạng tháng Mười Nga (1917) bùng nổ ở các trung tâm đô thị rồi tỏa về vùng nông thôn, cách mạng Trung Quốc từ nông thôn tiến vào thành thị, lấy nông thôn bao vây thành thị, thì Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam lại diễn ra với sự kết hợp hài hòa giữa nông thôn và thành thị. Đảng coi trọng nông thôn là trận địa vững chắc, dựa vào nông thôn để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, tiếp tục xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó lã điều kiện để phát động toàn dân nổi dậy ở cả nông thôn và thành thị, trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa. Về hình thức phát triển của cách mạng: Hội nghị lần thứ Tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) xác định chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; xác định hình thức cuộc khởi nghĩa ở nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa. Luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, khi có thời cơ sẽ chuyến từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. Thực chất của Cao trào kháng Nhật cứu nước (từ 9 - 3 đến giữa tháng 8 -1945) là một thời kì khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền bộ phận ở nhiều vùng nông thôn. Từ ngày 14-8 đến ngày 28-8-1945, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã tổ chức cho nhân dân cả nước tiến hành cuộc Tống khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hô Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập. Nghệ thuật chớp thời phát động Tổng khởi nghĩa. Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (đầu tháng 9 -1945), đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đểế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước thống nhất đều nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Đảng ta kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh (Anh - Pháp - Trung Hoa Dân quốc) vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, khiến Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và ít đồ máu. [B]Câu 3: Cách mạng thắng Tám năm 1945 ở việt Nam có phải là một cuộc cách mạng bạo lực hay không? Tại sao?[/B] -Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một cuộc cách mạng bạo lực. -Trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam, kẻ thù luôn dùng bạo lực để thống trị, đàn áp nhân dân ta, thì con đường để giành độc lập tự do chỉ có thể là con đường cách mạng bạo lực. Bạo lực là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng của nhân dân. -Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc vùng dậy của cả dân tộc Việt Nam, diễn ra dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang. Đó là một cuộc cách mạng bạo lực. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng. -Đảng và Hồ Chí Minh đã lãnh dạo xây dựng cơ sở của bạo lực cách mạng bao gồm hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ ưang. + Ngay từ khi ra đời, Đảng đã nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, quy tụ lực lượng sức mạnh của cả dân tộc, làm đẩy nên cao trào cách mạng năm 1930, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, Lực lượng chính trị cách mạng cũng được hình thành từ cao trào này. + Trong giai đoạn 1936 -1939, tận dụng khả năng hoạt động hợp pháp công khai, Đảng phát động phong trào dân chủ rộng lớn ở cả thành thị và nông thôn, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp xã hội, từ quần chúng cơ bản đến tầng lớp trên đấu tranh chống đế quốc phát xít, bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng, giành dân sinh, dân chủ. Từ phong trào này, Đảng đã xây dựng được một đội quân chính trị hùng hậu hàng triệu người. + Trong giai đoạn cứu nước 1939 - 1945: Lực lượng chính trị được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện trong Mặt trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên “Cứu quốc”. Việt Minh là nơi tập hợp, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị cho cách mạng; đây là một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. -Trên cơ sở lực lượng chính trị, Đảng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Lực lượng vũ trang gồm Cứu quốc quân (1941), Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944), được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân (5-1945); lực lượng bán vũ trang (du kích, đội tự vệ). -Từ tháng 3 đến giữa tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, các lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã tích cực tham gia đấu tranh chống Nhật. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản Chỉ thị quyết định phát động một Cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền dề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh của quần chúng là từ bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến biểu tình, thị uy, vũ trang du kích, ở căn cứ địa Cao – Bắc - Lạng, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân cùng với quần chúng giải phóng nhiều xã, châu, huyện. Ở Bắc Kì, khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” thu hút hàng triệu người tham gia. Có nơi quân chúng đã giành được chính quyèn. Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Tiên Du (Bắc Ninh, 10 - 3 -1945), Bãn Yên Nhân (Hưng Yên, 11 - 3 - 1945). Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng (11- 3 -1945), thành lập Đội du kích Ba Tơ. Ở Nam Kì, Việt Minh hoạt động mạnh mẽ ở Mĩ Tho và Hậu Giang. -Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, dựa vào lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, Đảng phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Toàn thể dân tộc Việt Nam xuống đường với sự kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị quần chúng có vũ trang thô sơ là lực lượng đông đảo nhất và giữ vị trí quyết định thắng lợi. Lực lượng vũ trang, tuy số lượng ít, trang bị thiếu thốn, non yếu về trình độ tác chiến, nhưng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tiến công quân sự ở một số nơi, gây thắng thế cho cách mạng, đồng thời còn là lực lượng xung kích hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. -Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. [B]Câu 4: Chứng minh Cách mạng tháng Tám nỉm 1945 thắng lợi là kết quả cùa 15 năm chuẩn bị lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.[/B] *Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), thông qua Cương lĩnh chính trị là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có ý nghĩa quyết định cho những bước phát triển tiếp theo của lịch sử dân tộc Việt Nam. -Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung nguyện suốt đời hy sinh cho lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân. -Cho dù còn vắn tẳt nhưng là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đán, sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và nhân văn theo con đường cách mạng vô sản. Độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh, được phản ánh đầy đủ trong cương lĩnh này. Cương lĩnh đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại. *Phong trào cách mạng 1930 -1931 là cuộc tập dượt đầu tiên cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. -Phong trào cách mạng 1930 -1931 đã khẳng định vai trò của khối liên minh công nông; xây dựng được đội ngũ cán bộ và đảng viên. -Nếu không có phong trào cách mạng 1930 -1931, trong đó quần chúng công, nông đã vung ra một nghị lực cách mạng phi thường thì không thể có thắng lợi của phong trào dân chủ 1936 -1939 và Cách mạng tháng Tám 1945 *Phong trào dân chủ 1936 -1939 là cuộc tập dượt lần thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. -Qua phong trào này, quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; uy tín và ảnh hưởng của Đảng được nâng cao trong quần chúng; đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành; Đảng thêm trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu. -Phong trào dân chủ 1936 -1939 là một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này. *Chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa (1939-1945) -Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939 đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu “lập chính quyền Xô viết công - nông - binh” bằng khẩu hiệu “lập chính quyền dân chủ cộng hòa”. -Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (5 -1941) đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; chỉ rõ một cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có đủ điêu kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ; xác định hình thái khởi nghĩa vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa. -Chuẩn bị lực lượng chính trị + Xây dựng lực lượng chính trị gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Việt Minh (bao gồm các đoàn thể quần chúng mang tên "Cứu quốc”). Chương trình của việt Minh đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, nên phong trào của Việt Minh ngày càng phát triển mạnh. + Lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng đông đảo nhất, một lực lượng cơ bản, giữ vai trò quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Việt Minh là nơi tổ chức, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chinh trị, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. -Chuẩn bị lực lượng vũ trang + Cùng với quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, Đảng từng bước chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang. + Sau cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn (11 - 1940), lực lượng vũ trang Bắc Sơn được duy trì để làm vốn quân sự cho cách mạng. Bước sang năm 1941 những đội du kích ở khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai lớn mạnh lên và thống nhất thành Trung đội cứu quốc quân 1 (14 - 2 -1941), Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 7 -1941 đến tháng 2 -1942). Ngày 15 - 9 -1941, Trung đội cứu quốc quân II ra đời. + ở Cao Bằng, trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh, các đội tự vệ cứu quốc ra đời. Cuối năm 1941, Nguyền Ái Quốc chỉ thị thành lập đội tự vệ gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. Người biên soạn nhiều tài liệu để huấn luyện cán bộ quân sự như Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Tàu... + Ngày 22 - 12 -1944, thực hiện chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Đội việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, lúc đâu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ba ngày sau, đội đánh thắng hai trận liên tiếp ở Phay Khắt và Nà Ngần. + Ngày 15 - 5 - 1945, Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. + Lực lượng bán vũ trang cũng được xây dựng rộng khắp, ở cả nông thôn và thành thị, gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu. + Cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều là cơ sở của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong Tổng khởi nghĩa toàn dân, đập tan chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. - Xây dựng căn cứ địa + Năm 1940, sau cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn, vùng Bắc Sơn - Võ Nhai được xây dựng thành một trung tâm căn cứ địa, gắn liền với sự ra đời và hoạt động của đội du kích Bắc Sơn. + Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chọn Cao Bằng làm nơi đầu tiên để xây dựng căn cứ địa. Từ đó, căn cứ địa cách mạng ngày càng mở rộng, phát triền thành căn cứ Cao – Bắc-Lạng. + Tháng 6 -1945, Khu giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đó là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới trong tương lai. Tân Trào là thủ đô Khu giải phóng, ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập. + Công cuộc chuẩn bị lực lượng được tiến hành chu đáo. Toàn Đảng, toàn dân sẵn sàng đón chờ thời cơ vùng dậy Tống khởi nghĩa. [B][I] [/I][/B] [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KIẾN THỨC PHỔ THÔNG
Trung Học Phổ Thông
LỊCH SỬ THPT
Lịch sử 12
Điều Gì Làm Nên Thắng Lợi Thần Tốc Của Cách mạng tháng Tám năm 1945?
Top