Trang chủ
Bài viết mới
Diễn đàn
Bài mới trên hồ sơ
Hoạt động mới nhất
VIDEO
Mùa Tết
Văn Học Trẻ
Văn Học News
Media
New media
New comments
Search media
Đại Học
Đại cương
Chuyên ngành
Triết học
Kinh tế
KHXH & NV
Công nghệ thông tin
Khoa học kĩ thuật
Luận văn, tiểu luận
Phổ Thông
Lớp 12
Ngữ văn 12
Lớp 11
Ngữ văn 11
Lớp 10
Ngữ văn 10
LỚP 9
Ngữ văn 9
Lớp 8
Ngữ văn 8
Lớp 7
Ngữ văn 7
Lớp 6
Ngữ văn 6
Tiểu học
Thành viên
Thành viên trực tuyến
Bài mới trên hồ sơ
Tìm trong hồ sơ cá nhân
Credits
Transactions
Xu: 0
Đăng nhập
Đăng ký
Có gì mới?
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Chỉ tìm trong tiêu đề
Bởi:
Hoạt động mới nhất
Đăng ký
Menu
Đăng nhập
Đăng ký
Install the app
Cài đặt
Chào mừng Bạn tham gia Diễn Đàn VNKienThuc.com -
Định hướng Forum
Kiến Thức
- HÃY TẠO CHỦ ĐỀ KIẾN THỨC HỮU ÍCH VÀ CÙNG NHAU THẢO LUẬN Kết nối:
VnKienthuc FB
-
VNK groups
| Nhà Tài Trợ:
Trúc Coffee
-
Mì Cay Hàn Quốc
-
Cafe & Trà chanh Bắc Ninh
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Các hệ thống triết học hiện đại
JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before proceeding.
You are using an out of date browser. It may not display this or other websites correctly.
You should upgrade or use an
alternative browser
.
Trả lời chủ đề
Nội dung
<blockquote data-quote="Butchi" data-source="post: 12060" data-attributes="member: 7"><p><strong>7.</strong> <strong>Chủ nghĩa Tân hiện thực & Hiện thực phê phán </strong></p><p><strong></strong></p><p><strong></strong>Đây là hai hệ thống triết học chủ yếu được hình thành nhờ cống hiến của các triết gia Hoa Kỳ trong thế kỷ 20. Chủ Nghĩa Tân Hiện Thực (<em>Neorealism)</em> được sáng lập bởi: Ralph Barton Perry, Walter T. Marvin, Edwin G. Spaulieng, Edwin Giữa Holt, Walter Giữa Pitkin và William Pepperell Montague. Phủ nhận quan điểm của Chủ Nghĩa Duy Vật và Duy Tâm, những triết gia ấy thiết lập nên trường phái triết học riêng, Chủ nghĩa Hiện Thực Phê Phán <em>(Critical Realism</em>) được sáng lập bởi: Durant Drake, Arthur O.Lovejoy, James Bissett Pratt, Arthur Kenyon Rogers, George Santayana(4), Roy Wood Sellars và Charles Augustus Strong. Về sau, Sellars tách riêng, thành lập nên trường phái Hiện thực vật chất (<em>Physical Realism</em>), một hình thức của Chủ nghĩa Duy Vật.</p><p></p><p><em><strong>Chủ nghĩa Tân hiện thực</strong></em></p><p><em><strong></strong></em></p><p>Các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Tân Hiện Thực bao gồm: <em>1. Tách siêu hình học ra khỏi tri thức học</em>: Thực tại tối hậu không phụ thuộc vào các tiến trình nhận thức của con người. Các triết gia Duy Tâm, chẳng hạn như Berkeley, khẳng định rằng thực tại không nằm ngoài tri kiến của chủ thể tư duy (con người ), rằng sự hiện hữu của thế giới thực tại phụ thuộc vào kinh nghiệm nhận thức của chủ thể, các triết gia Tân Hiện Thực phủ nhận quan điểm ấy, cho rằng thực tại hoàn toàn độc lập với tiến trình tư duy và nhận thức của con người.</p><p> <em>2. Chủ nghĩa Hiện Thực Thuần Phác (Naive Realism</em>): Để hỗ trợ cho nhận định <em>" thực tại độc lập với nhận thức</em>", các triết gia vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Hiện Thực Ngây Thơ, cho rằng mọi vật tồn tại đúng như những gì mà các giác quan của chúng ta định hình nên, rằng sự vật thực hữu là hiện hữu đối với các giác quan. Cái bàn trước mắt ta không chỉ hiển hiện với một mặt bàn và bốn chân, bản chất hay thực thể tối hậu của nó cũng hiển bày ra đúng như những gì mà giác quan của ta ghi nhận được.</p><p></p><p><em>3. Nhất Nguyên Tri Thức luận (Epistemological Monism</em>): Các triết gia Hiện Thực Thuần Phác vốn là những người chủ trương Nhất Nguyên Tri Thức luận. Họ giữ vững niềm tin rằng tri thức và đối tượng của nó là nhất thể. Các giác quan giác quan của tôi nắm bắt ấn tượng về cái bàn, nhưng nhận thức của tôi không tách rời khỏi cái bàn ấy. Tri kiến của tôi về cái bàn và tự thân cái bàn ấy hợp thành nhất thể trong tiến trình nhận thức.</p><p></p><p><em>4. Khước từ quan điểm chủ quan</em>: Phần thảo luận bên trên cũng hàm ý phủ nhận quan điểm chủ quan (<em>subjectivism</em>), quan điểm cho rằng các đối tượng chỉ là những công trình tạo lập bởi các giác quan. Nói cách khác, các đối tượng tồn tại độc lập với chủ thể tri giác. Hơn nữa, do tri thức và đối tượng của nó là nhất thể, bản thân tri thức cũng là thực tại khách quan đối với chủ thể nhận thức. Theo đó, tri thức không thể là ý kiến chủ quan; nó là một phần thực tại khách quan thuộc về đối tượng nhận thức.</p><p></p><p><em>5. Đa Nguyên Siêu Hình luận </em>(<em>Metaphysical Pluralism</em>): Là quan điểm cho rằng thực tại tối hậu được cấu thành bởi rất nhiều thực thể riêng biệt và độc lập với nhau. Đó là một nguyên lý xuất phát từ những tiền đề cơ bản của Chủ nghĩa Tân Hiện Thực. Bởi vì đối với giác quan, mọi sự vật hiện hữu một cách riêng biệt và hoàn toàn độc lập với nhau (theo quan điểm Hiện Thực Thuần Phác), chúng được xem là những thực tại tối hậu. Theo đó, thế giới thực tại tất nhiên phải bao gồm nhiều thực thể riêng biệt.</p><p></p><p><em>6. Chủ nghĩa Hiện Thực theo quan điểm của Plato</em> (<em>Platonic Realism</em>): Các triết gia Tân Hiện Thực tin rằng thế giới sự vật khách quan hiện hữu quanh họ bao hàm một bản thể đích thực, chân xác và tối hậu. Thực tế, các nhà Tân Hiện Thực vẫn còn bất đồng quan điểm về bản chất của thực tại tối hậu. Tuy nhiên, họ thống nhất với nhau về sự hiện hữu của thực tại ấy và đề cập về nó như một thực thể độc lập, tương tự với khái niệm Ý Niệm (Idea) cuả Plato. Vì thế, về mặt bản chất, thực tại ấy có thể được so sánh với các nguyên lý toán học hay lý luận học.</p><p></p><p><em>7. Thuyết Thực Thể Trung Tính</em> (<em>Neutral Entities</em>): Dung hoà hai quan điểm đối lập về bản thể của thực tại (vật chất hay tinh thần), Ralph Barton Perry đã đưa ra khái niệm về sự hiện hữu của cái thực thể trung tính. Không phải là vật chất, cũng không phải là tinh thần, các thực thể có khả năng tự biểu hiện ra một trong hai yếu tố ấy. Học thuyết này được biết đến với cái tên Nhất Nguyên Trung Dung Luận (<em>Neutral Moism</em>).</p><p></p><p><em>8. Phương pháp phân tích</em>: Các triết gia Tân HiệnThực tin rằng bản chất trung tính của thực tại là kết quả thu được từ quá trình phân tích. Phân tách cấu trúc của một vật thể đến phần vi tế nhất của nó, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng nó không phải là vật chất hay tinh thần, rằng nó là bản chất trung tính.</p><p></p><p>Theo họ, phân tích là phương pháp lý giải hay một tiêu chuẩn định chân lý. Chứng minh hay giải thích một đối tượng là phân tích đối tượng ấy, là chia sẻ nó ra cho đến khi nắm bắt được cấu trúc vi tế nhất, lý giải sự vật là phân tích cấu tạo, không phải là luận giải về mục đích của nó.</p><p></p><p>9<em>. Xác nhận Tính Tự Kỷ Trung Tâm</em> (<em>the Ego- centric Predicament</em>): Ralph Barton Perry đã đưa ra thuật ngữ này để nhấn mạnh ý nghĩa của vị thế tinh thần trong tri thức về ngoại giới của con người. Mọi tri kiến của con người về thế giới sự vật chung quanh đều nằm trong khuôn khổ bản chất tinh thần. Đối với con người, cảm giác, tri thức, lý lẽ, tư tưởng, ý kiến, khái niệm, tình cảm, kinh nghiệm, v.v.... đều mang thuộc tính tinh thần. Vì thế, dẫu cho thế giới thực tại có là gì đi nữa, nó cũng được chuyển thành bản chất tinh thần trước khi con người nắm bắt và nhận thức về nó.</p><p></p><p>Tri thức nhân loại mang tính tinh thần, cho du nó tồn tại dưới dạng kinh nghiệm, dưới dạng ý tưởng, cảm giác hay bất kỳ một hình thức nào đó. Hẳn là các nhà Duy Tâm sẽ đi đến nhân định rằng, nếu Tính Tự Kỷ Trung Tâm được công nhận là đúng, bản chất của thực tại không thể là vật chất mà phải là tinh thần.</p><p></p><p> <strong><em>Chủ nghĩa Hiện thực phê phán</em></strong></p><p></p><p> Cùng chia sẻ quan điểm với nhau về hầu hết mọi nguyên lý cơ bản, các triết gia của hai trường phái Hiện Thực lại bất đồng sâu sắc về lãnh vực tri thức học. Các nhà Hiện Thực Phê Phán ủng hộ quan điểm Nhị Nguyên Tri Thức luận (<em>Epistemological Dualism</em>), cho rằng chủ thể tri thức và đối tượng tri thức là hai thực thể riêng rẽ và khác biệt. Họ cho rằng Nhất Nguyên Tri Thức Luận không thể lý giải được những sự kiện lịch sử trong quá khứ. Nếu chủ thể và đối tượng là đồng nhất, làm thế nào chủ thể tri thức có thể biết được các sụ kiện trong quá khứ (đối tượng tri thức)? Do vây, Nhị Nguyên Tri Thức luận là phương cách lý giải thích đáng hơn đối với quá trình nhận thức.</p><p></p><p><strong>8. Chủ nghĩa Nhân Vị</strong> </p><p> Cùng với Chủ nghĩa Thực Dụng và Chủ nghĩa Tân Hiện Thực, Chủ nghĩa Nhân Vị <em>(Peronalism</em>) là hệ thống triết lý có nguồn gốc xuất phát từ Hoa Kỳ. Xem nhân vị là chiếc chìa khoá mở cánh cửa thực tại, Chủ nghĩa Nhân Vị có thể được định nghĩa như là một triết lý nhìn nhận con người như những thực thể có giá trị tự thân, vô hạn và tối hậu. Ngoài nhân vị chẳng còn thực tại hay giá trị nào cả. Bản thân vũ trụ cũng phải được hiểu theo khía cạnh ấy, theo giá trị và bản chất của nhân vị. Phi nhân vị, tinh thần tự nó chẳng thể tồn tại, cho dù nó là tinh thần của cá nhân hay Tinh Thần Vũ Trụ (Thượng Đế ). Mặc dù có quan điểm gần như vô thần như thế, hầu hết các triết gia Nhân Vị đều đặt niềm tin vào Thượng Đế như một Nhân Vị Tối Cao.</p><p></p><p style="text-align: center"><img src="https://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/4aa8a6b4a8744ebfbdca3bf2829a2dc1-chu-nghia-nhan-vi.jpg/chu-nghia-nhan-vi.jpg" alt="" class="fr-fic fr-dii fr-draggable " data-size="" style="" /></p><p></p><p>Trong số các triết gia Nhân Vị hàng đầu tại Hoa Kỳ, Borden Parker Bowne H. Howison là hai thành viên sáng lập ra trường phái này; Albert Cornelisu Knudson và Edgar Sheffield Brightman là hai thành viên cổ xuý tích cực nhất. Tại Châu Âu, triết gia Charles Bernard Renouvier cũng là người theo quan điểm Nhân Vị. Hai trung tâm chính của trường phái Nhân Vị tại Hoa Kỳ là trường Đại học Boston và trường đại học Nam California, nơi xuất bản tạp chí "Người Nhân Vị" (<em>The Personalist</em>).</p><p></p><p>Triết lý Nhân Vị bao gồm những nét chính yếu như sau:</p><p></p><p> <em>1. Nhân vị là chìa khoá mở cánh cửa thực tại</em>: Thực tại tối hậu thộc về bản chất của nhân vị. Cá nhân con người là thực tại tối hậu và là một nhân vị; những thực thể khác cũng thế, kể cả vũ trụ và Thượng Đế. Vượt qua ngoài nhân vị, mọi việc đều phi lý và vô nghĩa. Ý nghĩa chỉ quan trọng đối với con người, giá trị chỉ đáng kể đối với con người, hiện hữu chỉ có ý nghĩa đối với con người; cái đẹp chỉ thoả mãn mỹ cảm đối với con người; đạo đức chỉ để tôn vinh phẩm cách của con người. Tương tự, Thượng Đế chỉ thực sự có ý nghĩa trong phạm vi nhân vị; mọi ý tưởng, mục đích và toàn bộ sự vật trên thế giới này cũng thế mà thôi.</p><p></p><p><em>2. Mọi giá trị chỉ tồn tại trong con người và chỉ dành cho con người:</em> Ngoài nhân vị, không có giá trị nào cả. Chỉ vì con người là những tạo vật biết phân định những sự vật khác, họ ấn định giá trị cho mọi vật. Mọi giá trị đều vô nghĩa nếu chúng không thuộc về con người. Nếu con người không tồn tại trên thế giới này, các giá trị cũng tiêu biến bởi vì chỉ có con người mới quy kết giá trị cho vạn vât. Tuy nhiên, trước khi con người hiện diện trên quả đất này, chính Thượng Đế, Nhân Vị Tối Thượng (<em>Suprme Person</em>), đã sáng tạo và vun đắp giá trị cho vạn vật.</p><p></p><p>Để biên minh cho quan điểm này, các triết gia Nhân Vị yêu cầu chúng ta tự đặt mình vào vị trí Thượng Đế, Đấng sáng tạo ra hai thế giới: thế giới xấu xa, độc ác, tội lỗi và thế giới tươi đẹp, thiện lương, tốt lành. Liệu rằng có sự khác biệt thực sự nào giữa hai thế giới ấy, nếu như không có sự tồn tại của tạo vật có trí tuệ và biết phân định như con người? Ngoài Thượng Đế, Nhân Vị Tối Thượng, siêu việt bên trên mọi suy lường và phân biệt, chỉ có con người mới có đủ trí tuệ để xác lập và gìn giữ giá trị cho muôn loài vật.</p><p></p><p><em>3. Nhân phẩm là giá trị thực chất, vô hạn và tối hậu</em>: Mỗi cá nhân đều có nhân phẩm, là giá trị thực chất, vô hạn và tối hậu. Các sự vật phi nhân vị cũng có gía trị thực chất, giá trị sử dụng hay giá trị trao đổi, nhưng chúng không có giá trị thực chất vô hạn (infintive <em>tintrinsic value).</em> Chỉ có con người mới vượt lên trên mọi giá trị. Nếu có loại cân dành để đo lường giá trị và đặt một con người lên điã cân, không có cái gì, thậm chí là toàn bộ tài sản của cõi trần thế gian này, có thể quân bình cán cân, trừ phi đặt con người khác lên đĩa cân còn lại. Và bởi vì giá trị của mỗi con người là vô hạn, đặt một hay một ngàn con người lên đĩa cân còn lại cũng chỉ khiến cán cân quân bình như nhau. Dẫu có nhân lên hàng ngàn lần, vô hạn cũng chỉ là (chỉ bằng) vô hạn. Vì thế, không có gì trên đời này có giá trị đủ đổi lấy một con người.</p><p></p><p><em>4. Vũ trụ hoà hợp với các giá trị nhân bản</em>: Giả định rằng Nền Tảng Thế Giới (<em>World- Ground</em>) là một Tinh Thần Vũ Trụ (<em>Cosmic Mind</em>) hay Nhân Vị Tối Thượng, rằng mọi giá trị đều tồn tại trong con người và chỉ dành cho con người mà thôi, thế giới này tất phải hoà hợp với các giá trị nhân bản. Lập luận ngược lại, giả định rằng thế giới này hoà hợp với các giá trị nhân bản, ắt phải có sự tồn tại một Nhân vị Tối Thượng. Giả định này là điều kiện hình thành nên giả định kia. Con đường hướng con người đến mục đích hoàn thiện chỉ có thể đạt được dựa trên tiền đề cho rằng có sự tồn tại của các giá trị nhân bản và thế giới này vận hành hoà hợp với các giá trị ấy. Nói cách khác, đời sống đức độ phải là đời sống phù hợp với quy luật của vũ trụ</p><p></p><p><em>5. Cá thể tính của thực tại</em> (<em>the Individuality of Reality</em>): Các triết gia Nhân Vị đồng tình với quan niệm Tân Hiện Thực khi cho rằng, xét đến cùng, thế giới này bao gồm những thực thể riêng biệt. Đối với con người lẫn sự vật, sự thực hữu chỉ tồn tại ở mức cá thể; mọi hình thức phổ quát hoá đều là giả lập. Theo đó, thực sự không hề có cái được gọi là "<em>toàn thể nhân loại</em>", chỉ tồn tại những cá nhân con người mà thôi.</p><p></p><p><em>6. Thực tại năng động</em>: Không phải là một thể ù lì và trì trệ, thực tại tối hậu có bản chất năng động và tích cực, giống như cơ cấu hoạt động của nguyên tử vậy. Thế giới này vốn là môi trường tạo tác của Thượng Đế Toàn Năng.</p><p></p><p><em>7. Hiện tượng tính của vật chất</em> (<em>the Phenemenality of Matter</em>): không phải là thực tại tối hậu (chân xác về mặt bản thể), vật chất chỉ là hiện tượng, là hình thức biểu hiện bên ngoài của thực tại. Vật chất là dữ kiện mang đến ấn tượng cảm quan, không thực sự bộc lộ được bản chất tối hậu của đối tượng tri giác.</p><p></p><p><em>8. Nguyên lý nhân quả</em> (<em>Causality</em>): Các triết gia Nhân Vị đặt niềm tin vào tính xác thực của quan hệ nhân quả. Theo họ, nguyên lý nhân quả không chỉ tồn tại trong tâm trí con người, nó còn là động lực thực sự hiện hữu và vận hành trong thế giới tự nhiên, không phụ thuộc vao tư tưỏng và ước muốn của công nghiệp.</p><p></p><p><em>9. Tính thống nhất của thế giới</em> (<em>the Unity of the World</em>) và Nhân Vị Tối Thượng: Mặc dù thế giới được cấu thành bởi những cá thể riêng biệt, các cá thể vẫn liên kết với nhau nhờ có chung Nền Tảng thế giới hay Nhân Vị Tối Thượng. Nhân vị là thực thể duy nhất có khả năng kết hợp muôn vàn dị biệt vào một khối thống nhất. Là "một thể đồng nhất đa sắc thái" (<em>unitas multiplex- thuật ngữ do William Sten đề xuất</em>), mỗi nhân vị có nhiều hình thái nhưng chỉ có một thể duy nhất - mặc dù hình thái có thay đổi nhưng bản thể vẫn thường hằng và đồng nhất .</p><p> <strong></strong></p><p><strong>9. Hiện tượng học & Hiện tượng luận </strong></p><p><strong></strong></p><p><strong></strong>Hiện tượng học (<em>Phenomenology</em>), do triết gia Đức Edmund Husserl (1859-1938) sáng lập. Tuy "sinh sau đẻ muộn", học thuyết này vẫn được xem là cơ sở nền tảng của Chủ nghĩa Hiện Sinh được hình thành trước đó. Chúng ta cũng cần lưu ý phân biệt học thuyết này với Hiện tượng luận (<em>Phenomenalism</em>) luận thuyết cho rằng không có gì thực hữu ngoại trừ kinh nghiệm giác quan.</p><p></p><p><strong><em>Hiện tượng luận</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p>Như đã đề cập ở phần trước, David Hume, triết gia Anh thuộc trường phái Kinh Nghiệm, đã xác định quan điểm riêng của mình khi phủ nhận sự hiện hữu của thực tại tối hậu. Theo quan điểm kinh nghiệm của Hume (xây dựng trên giả định cho rằng tri thức chỉ được rút ra từ kinh nghiệm, từ các ấn tượng mà các giác quan cung cấp cho chúng ta), con người chỉ có thể nắm bắt được những dữ kiện cảm giác (hiện tượng), các đối tượng biểu hiện ra những dự kiện ấy (thực tại tối hậu) là bất khả tri. Theo đó, hiện tượng là dạng thực tại duy nhất mà con người có thể xác minh được, mọi giả định về thực tại siêu hình đều không thể được nhìn nhận là có giá trị và hiệu lực.</p><p></p><p>Thí dụ: Tôi thấy một hòn đá đang rơi, hòn đá ấy hiện hữu; nhưng trọng lực (điều mà tôi không cảm nhận được ) chẳng phải là một sự kiện kinh nghiệm của tôi. Chúng ta có thể lập luận rằng trọng lực là hiện tại chân xác và tối hậu, vì thế nó vượt qua năng lực và giác quan. Tuy nhiên, Hume sẽ phản bác rằng bởi lẽ trọng lực nằm ngoài khả năng xác minh của giác quan, nó không được xem là hiện hữu. Đối với Hume, cảm nhận là thước đo đáng tin cậy, những gì không thể cảm nhận được đều vô nghĩa.</p><p></p><p><strong><em>Hiện tượng học</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p><strong><em></em></strong>Học thuyết này nhận định rằng thực tại phải được thừa nhận, rằng có sự tồn tại của các thực thể khách quan. Husserl đề cập đến các thực thể siêu hình ấy như những "yếu tính" (<em>essences</em>). Yếu tính là cấu trúc thực sự của hiện tượng, là trí tuệ trong tự nhiên. Các tiến trình nhận thức của con người tìm ra được yếu tính từ các kinh nghiệm mang tính hiện tượng mà anh ta nhận thức được. Bằng cách tư duy và nắm bắt những gì diễn ra trong tâm thức của mình, không để các định kiến xen lẫn và can thiệp vào quá trình chứng nghiệm, con người có thể phát hiện ra thực tại từ những sắc thái của kinh nghiệm hiện tượng.</p><p></p><p style="text-align: center"><img src="https://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/2ccb462ff6a74442b2c7802e390d1c78-hien-tuong-hoc-3.jpg/hien-tuong-hoc-3.jpg" alt="" class="fr-fic fr-dii fr-draggable " data-size="" style="" /></p><p></p><p>Các nhà hiện tượng học còn tin rằng các yếu tính có thể được phát hiện từ toàn bộ kinh nghiệm nhận thức của con người - không chỉ từ các hiện tượng của đối tượng vật chất, mà còn từ các kinh nghiệm tôn giáo và giá trị đạo đức. Hãy lấy các hoạt động tâm lý do bất công gây ra làm thí dụ. Ngay cả một đứa trẻ nhỏ cũng cảm nhận được sự bất công một cách rõ ràng. Nếu hai đứa trẻ cùng phạm phải một lỗi lầm như nhau nhưng lại chịu hình phạt không đồng đều, đứa trẻ bị trách phạt nặng hơn sẽ cảm nhận sâu sắc sự bất công mà nó phải chịu. Nhận thức về sự bất công là một kinh nghiệm tâm lý, yếu tính của nó có thể rút ra được từ quá trình phân tích và suy luận mà Husserl đã đề xuất. Ông gọi đó là tiến trình tóm lược hiện tượng.</p><p></p><p>Một triết gia Đức khác, Max Scheler (1874-1928), ứng dụng hiện tượng học vào lãnh vực giá trị đạo đức. Được xây dựng trên nền tảng củ Hiện tượng luận của David Hume, ý tưởng củ Descarte, Chủ nghĩa Duy Tâm của Plato và Tiên Nghiệm Luận của Kant (<em>Kant's Transcendentalism</em>), hiên tượng học, về cơ bản, có thể được xem là một hình thức của Chủ Nghĩa Tân Duy Tâm (<em>Neo Idcalism</em>).</p><p> <strong></strong></p><p><strong>10. Chủ nghĩa Hiện sinh & Tân chính thống </strong></p><p><strong></strong></p><p>Có hai trường phái triết lý Hiện sinh mà chúng ta cần phân biệt rõ:</p><p></p><p>- Trường phái mang tính tôn giáo do Soren Aa bye Kierkegaard (1813-1855), cha đẻ của Chủ Nghĩa Hiện Sinh (existentialism), vạch ra.</p><p></p><p>- Trường phái mang tính vô thần, đại diện la Jean- Paul Sartre (1905-1980), văn sĩ Hiện sinh nổi tiếng của Pháp.</p><p></p><p>Bên cạnh đó, một số triết gia danh tiếng thuộc hai trường phái trên khước từ danh xưng "nhà Hiện Sinh", một số khác, thuộc quan điểm tôn giáo, chấp nhận được mọi người biết đến như là những triết gia Tân Chính Thống (<em>Neo- Orthoxy</em>).</p><p></p><p><strong><em>Chủ Nghĩa Hiện Sinh </em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p><strong><em></em></strong>- Định Nghĩa: Các nhà Hiện Sinh chấp nhận quan điểm cho rằng "hiện hữu có trước yếu tính" (<em>l'existence Précède l'esseence</em>): một số còn tiến xa hơn khi cho rằng yếu tính (hay bản chất) không thực hữu. Mọi triết gia Hiện Sinh đều nhìn nhận con người là chủ thể hiện sinh. Một số khác còn cho rằng chỉ có chủ thể mới hiện hữu, nó cũng chỉ là trạng thái hiện hữu chủ quan của cá nhân mà thôi.</p><p></p><p><strong><em>Con người và tự do ý chí</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p>Mọi triết gia Hiện Sinh đều nhấn mạnh đến quyền tự do bẩm sinh của con người. Với quyền tự do này, con người chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình, chịu trách nhiệm về sự phát triển và kết quả hình thành tính cách bản thân. Một số nhà Hiện Sinh, trong đó có Sartre, tin rằng con người bẩm sinh không sở hữu bất kỳ một đặc tính nào thuộc về cái được gọi là "nhân bản". Theo Sartre, con người không có bản tính thiên phú, mỗi cá nhân phát triển tính cách riêng thông qua "<em>những chọn lựa và quyết định trong đời</em>". Chúng tạo nên tính cách cho mình. Không lúc nào con người bước ra khỏi quá trình phát triển tính cách; mỗi cá nhân tự sáng tạo bản thân bằng những quyết định trong đời. Vì thế, con người (hiện sinh) tự chọn lấy bản chất (yếu tính) cho mình.</p><p></p><p>Dưới áp lực của vô số trách nhiệm đè nặng trên thân phận của một con người, trong đó phải kể đến áp lực của những lựa chọn và hệ quả kéo theo của chúng, con người luôn cảm thấy lo lắng và phiền não. Thật đáng sợ khi nhận thức ra rằng mỗi lựa chọn của ta định hình nên thực tại. Ý thức được nỗi ám ảnh hãi hùng ấy, đồng thời chấp nhận sự kiện rằng lý trí của con người vốn mong manh và bất lực trước những sức ép như thế, các triết gia Hiện Sinh thuộc trường phái tôn giáo tìm kiếm sự hướng dẫn nơi thiên khải. Dẫu sao đi nữa, con người luôn phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Con người không thể chối bỏ trách nhiệm bằng cách khước từ hành động, bởi lẽ anh ta luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống, luôn phải đối mặt với những quyết định trong đời.</p><p></p><p><strong><em>Triết lý về Thuyết phi lý</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p>Các nhà Hiện Sinh không tin vào một thế giới thực tại có trật tự và lý tính. Với họ, sự hiện hữu của con người là chủ quan và phi lý tính; mọi quyết định, lựa chọn và ứng xử của con người đều được thực hiện độc lập với ý chí. Con người chủ quan luôn bị thúc đẩy bởi cảm tính, bởi lo âu và nhịp sống phi lý; chúng ta chi phối và làm lệch hướng mọi quyết định của con người. Sự kiện hữu không có lý tính, nó bị tràn ngập bởi cảm giác căng thẳng, lo âu, lạc lõng, thất vọng, v.v... Chúng góp phần cấu thành nên tri thức chân lý của con người.</p><p></p><p>Tâm trí của con người không có khả năng khám phá chân lý thông qua lý lẽ, bởi vì sự thật chỉ được tìm thấy trong các nghịch lý. Xét từ cái nhìn của Đấng siêu việt trên mọi phân biệt (Thượng Đế), sự thật thể hiện lý tính một cách minh bạch và rõ ràng. Tuy nhiên, trong khoảng rối rắm xuất phát từ chủ quan tính nơi con người, chân lý luôn bao hàm mâu thuẫn - một dạng nghịch lý.</p><p></p><p><strong><em>Chủ quan tính là chân lý, là thực tại</em></strong></p><p><strong><em></em></strong></p><p><strong><em></em></strong>Kierkegad viết: "<em>Chủ quan tính la chân lý; chủ quan tính là thực tại</em>." Từ những gì đã được thảo luận ở trên, nhận định ấy là kết luận tất yếu. Chân lý không ở quanh ta; nó ở trong chúng ta. Tuy nhiên, không nên hiểu nhận định ấy theo nghĩa rằng chân lý chỉ là vấn đề ý kiến chủ quan. Thực tại không nằm bên ngoài chúng ta, nó ở trong chúng ta. Mọi hình thức khái quát hoá hay các quy luật về bản chất con người vốn không thật; nhưng chúng ta, những cá nhân hiện sinh, là thực hữu. Hoạt động tự quyết, chứ không phải một quyết định, là thực hữu. Con người, xét theo danh nghĩa một con người, không phải là một thực tại; nhưng anh ta thực sự tồn tại như một cá nhân hiện sinh. Chân lý là nội tại; thực tại cũng thế. Bởi lẽ thế giới Hiện Sinh bao gồm tính chủ quan nội tại.</p><p> ----------------------------------------</p><p><em>Ghi chú</em>: </p><p> (1)<em>Ludwig Josef Johann Wittgenstein</em> (1889-1961): <em>Triết gia gốc Áo, sống tại Anh từ năm 1911. Ông tiến hành nghiên cứu các học thuyết về ngôn ngữ dưới sự hướng dẫn của Bertrand Russell. Trong tác phẩm </em>Tractatus Logico- Philosophicus. <em>Ông đề xuất quan điểm cho rằng ngôn ngữ "minh hoạ" sự vật theo các quy ước có sẵn. Về sau, ông thay đổi quan điểm, cho rằng ngôn ngữ có tầm quan trọng hơn các quy ước tiền định. (ND)</em></p><p> <em>(2)Sir Alfred jules Ayer (1910-1989) : Triết gia Anh, nổi tiếng với những đóng góp cho Chủ Nghĩa Thực Chứng Luận Lý, đặc biệt với tác phẩm </em>"Ngôn ngữ, Chân lý và luận lý" <em>(Language, Truth and Logic), xuất bản năm 1936. (ND)</em></p><p> <em>(3) Trích từ</em> "Tổng luận thần học" <em>(Summa Theologica) của Thánh Thomas Aquinas, bản dịch của Anton C. Pegis. (Nhà xuất bản Random House, New york, 1945). (TG)</em></p><p> <em>(4) George Santayana (1863-1952): Triết gia và văn sĩ Hoa Kỳ gốc Tây Ban Nha, về sau định cư tại La Mã. Ngoài các công trình triết học, bao gồm tác phẩm</em> "Đời sống lý trí"<em> (The life of Reason), ông còn sáng tác thơ, viết phê bình và tiểu thuyết rất thành công. (ND)</em></p><p><em></em></p><p><em></em><strong>William S. Sahakan & Mabel. Sahakan- Thanh Chân dịch</strong></p><p>Tư tưởng các triết gia vĩ đại - NXB TP.HCM</p></blockquote><p></p>
[QUOTE="Butchi, post: 12060, member: 7"] [B]7.[/B] [B]Chủ nghĩa Tân hiện thực & Hiện thực phê phán [/B]Đây là hai hệ thống triết học chủ yếu được hình thành nhờ cống hiến của các triết gia Hoa Kỳ trong thế kỷ 20. Chủ Nghĩa Tân Hiện Thực ([I]Neorealism)[/I] được sáng lập bởi: Ralph Barton Perry, Walter T. Marvin, Edwin G. Spaulieng, Edwin Giữa Holt, Walter Giữa Pitkin và William Pepperell Montague. Phủ nhận quan điểm của Chủ Nghĩa Duy Vật và Duy Tâm, những triết gia ấy thiết lập nên trường phái triết học riêng, Chủ nghĩa Hiện Thực Phê Phán [I](Critical Realism[/I]) được sáng lập bởi: Durant Drake, Arthur O.Lovejoy, James Bissett Pratt, Arthur Kenyon Rogers, George Santayana(4), Roy Wood Sellars và Charles Augustus Strong. Về sau, Sellars tách riêng, thành lập nên trường phái Hiện thực vật chất ([I]Physical Realism[/I]), một hình thức của Chủ nghĩa Duy Vật. [I][B]Chủ nghĩa Tân hiện thực [/B][/I] Các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Tân Hiện Thực bao gồm: [I]1. Tách siêu hình học ra khỏi tri thức học[/I]: Thực tại tối hậu không phụ thuộc vào các tiến trình nhận thức của con người. Các triết gia Duy Tâm, chẳng hạn như Berkeley, khẳng định rằng thực tại không nằm ngoài tri kiến của chủ thể tư duy (con người ), rằng sự hiện hữu của thế giới thực tại phụ thuộc vào kinh nghiệm nhận thức của chủ thể, các triết gia Tân Hiện Thực phủ nhận quan điểm ấy, cho rằng thực tại hoàn toàn độc lập với tiến trình tư duy và nhận thức của con người. [I]2. Chủ nghĩa Hiện Thực Thuần Phác (Naive Realism[/I]): Để hỗ trợ cho nhận định [I]" thực tại độc lập với nhận thức[/I]", các triết gia vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Hiện Thực Ngây Thơ, cho rằng mọi vật tồn tại đúng như những gì mà các giác quan của chúng ta định hình nên, rằng sự vật thực hữu là hiện hữu đối với các giác quan. Cái bàn trước mắt ta không chỉ hiển hiện với một mặt bàn và bốn chân, bản chất hay thực thể tối hậu của nó cũng hiển bày ra đúng như những gì mà giác quan của ta ghi nhận được. [I]3. Nhất Nguyên Tri Thức luận (Epistemological Monism[/I]): Các triết gia Hiện Thực Thuần Phác vốn là những người chủ trương Nhất Nguyên Tri Thức luận. Họ giữ vững niềm tin rằng tri thức và đối tượng của nó là nhất thể. Các giác quan giác quan của tôi nắm bắt ấn tượng về cái bàn, nhưng nhận thức của tôi không tách rời khỏi cái bàn ấy. Tri kiến của tôi về cái bàn và tự thân cái bàn ấy hợp thành nhất thể trong tiến trình nhận thức. [I]4. Khước từ quan điểm chủ quan[/I]: Phần thảo luận bên trên cũng hàm ý phủ nhận quan điểm chủ quan ([I]subjectivism[/I]), quan điểm cho rằng các đối tượng chỉ là những công trình tạo lập bởi các giác quan. Nói cách khác, các đối tượng tồn tại độc lập với chủ thể tri giác. Hơn nữa, do tri thức và đối tượng của nó là nhất thể, bản thân tri thức cũng là thực tại khách quan đối với chủ thể nhận thức. Theo đó, tri thức không thể là ý kiến chủ quan; nó là một phần thực tại khách quan thuộc về đối tượng nhận thức. [I]5. Đa Nguyên Siêu Hình luận [/I]([I]Metaphysical Pluralism[/I]): Là quan điểm cho rằng thực tại tối hậu được cấu thành bởi rất nhiều thực thể riêng biệt và độc lập với nhau. Đó là một nguyên lý xuất phát từ những tiền đề cơ bản của Chủ nghĩa Tân Hiện Thực. Bởi vì đối với giác quan, mọi sự vật hiện hữu một cách riêng biệt và hoàn toàn độc lập với nhau (theo quan điểm Hiện Thực Thuần Phác), chúng được xem là những thực tại tối hậu. Theo đó, thế giới thực tại tất nhiên phải bao gồm nhiều thực thể riêng biệt. [I]6. Chủ nghĩa Hiện Thực theo quan điểm của Plato[/I] ([I]Platonic Realism[/I]): Các triết gia Tân Hiện Thực tin rằng thế giới sự vật khách quan hiện hữu quanh họ bao hàm một bản thể đích thực, chân xác và tối hậu. Thực tế, các nhà Tân Hiện Thực vẫn còn bất đồng quan điểm về bản chất của thực tại tối hậu. Tuy nhiên, họ thống nhất với nhau về sự hiện hữu của thực tại ấy và đề cập về nó như một thực thể độc lập, tương tự với khái niệm Ý Niệm (Idea) cuả Plato. Vì thế, về mặt bản chất, thực tại ấy có thể được so sánh với các nguyên lý toán học hay lý luận học. [I]7. Thuyết Thực Thể Trung Tính[/I] ([I]Neutral Entities[/I]): Dung hoà hai quan điểm đối lập về bản thể của thực tại (vật chất hay tinh thần), Ralph Barton Perry đã đưa ra khái niệm về sự hiện hữu của cái thực thể trung tính. Không phải là vật chất, cũng không phải là tinh thần, các thực thể có khả năng tự biểu hiện ra một trong hai yếu tố ấy. Học thuyết này được biết đến với cái tên Nhất Nguyên Trung Dung Luận ([I]Neutral Moism[/I]). [I]8. Phương pháp phân tích[/I]: Các triết gia Tân HiệnThực tin rằng bản chất trung tính của thực tại là kết quả thu được từ quá trình phân tích. Phân tách cấu trúc của một vật thể đến phần vi tế nhất của nó, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng nó không phải là vật chất hay tinh thần, rằng nó là bản chất trung tính. Theo họ, phân tích là phương pháp lý giải hay một tiêu chuẩn định chân lý. Chứng minh hay giải thích một đối tượng là phân tích đối tượng ấy, là chia sẻ nó ra cho đến khi nắm bắt được cấu trúc vi tế nhất, lý giải sự vật là phân tích cấu tạo, không phải là luận giải về mục đích của nó. 9[I]. Xác nhận Tính Tự Kỷ Trung Tâm[/I] ([I]the Ego- centric Predicament[/I]): Ralph Barton Perry đã đưa ra thuật ngữ này để nhấn mạnh ý nghĩa của vị thế tinh thần trong tri thức về ngoại giới của con người. Mọi tri kiến của con người về thế giới sự vật chung quanh đều nằm trong khuôn khổ bản chất tinh thần. Đối với con người, cảm giác, tri thức, lý lẽ, tư tưởng, ý kiến, khái niệm, tình cảm, kinh nghiệm, v.v.... đều mang thuộc tính tinh thần. Vì thế, dẫu cho thế giới thực tại có là gì đi nữa, nó cũng được chuyển thành bản chất tinh thần trước khi con người nắm bắt và nhận thức về nó. Tri thức nhân loại mang tính tinh thần, cho du nó tồn tại dưới dạng kinh nghiệm, dưới dạng ý tưởng, cảm giác hay bất kỳ một hình thức nào đó. Hẳn là các nhà Duy Tâm sẽ đi đến nhân định rằng, nếu Tính Tự Kỷ Trung Tâm được công nhận là đúng, bản chất của thực tại không thể là vật chất mà phải là tinh thần. [B][I]Chủ nghĩa Hiện thực phê phán[/I][/B] Cùng chia sẻ quan điểm với nhau về hầu hết mọi nguyên lý cơ bản, các triết gia của hai trường phái Hiện Thực lại bất đồng sâu sắc về lãnh vực tri thức học. Các nhà Hiện Thực Phê Phán ủng hộ quan điểm Nhị Nguyên Tri Thức luận ([I]Epistemological Dualism[/I]), cho rằng chủ thể tri thức và đối tượng tri thức là hai thực thể riêng rẽ và khác biệt. Họ cho rằng Nhất Nguyên Tri Thức Luận không thể lý giải được những sự kiện lịch sử trong quá khứ. Nếu chủ thể và đối tượng là đồng nhất, làm thế nào chủ thể tri thức có thể biết được các sụ kiện trong quá khứ (đối tượng tri thức)? Do vây, Nhị Nguyên Tri Thức luận là phương cách lý giải thích đáng hơn đối với quá trình nhận thức. [B]8. Chủ nghĩa Nhân Vị[/B] Cùng với Chủ nghĩa Thực Dụng và Chủ nghĩa Tân Hiện Thực, Chủ nghĩa Nhân Vị [I](Peronalism[/I]) là hệ thống triết lý có nguồn gốc xuất phát từ Hoa Kỳ. Xem nhân vị là chiếc chìa khoá mở cánh cửa thực tại, Chủ nghĩa Nhân Vị có thể được định nghĩa như là một triết lý nhìn nhận con người như những thực thể có giá trị tự thân, vô hạn và tối hậu. Ngoài nhân vị chẳng còn thực tại hay giá trị nào cả. Bản thân vũ trụ cũng phải được hiểu theo khía cạnh ấy, theo giá trị và bản chất của nhân vị. Phi nhân vị, tinh thần tự nó chẳng thể tồn tại, cho dù nó là tinh thần của cá nhân hay Tinh Thần Vũ Trụ (Thượng Đế ). Mặc dù có quan điểm gần như vô thần như thế, hầu hết các triết gia Nhân Vị đều đặt niềm tin vào Thượng Đế như một Nhân Vị Tối Cao. [CENTER][IMG]https://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/4aa8a6b4a8744ebfbdca3bf2829a2dc1-chu-nghia-nhan-vi.jpg/chu-nghia-nhan-vi.jpg[/IMG][/CENTER] Trong số các triết gia Nhân Vị hàng đầu tại Hoa Kỳ, Borden Parker Bowne H. Howison là hai thành viên sáng lập ra trường phái này; Albert Cornelisu Knudson và Edgar Sheffield Brightman là hai thành viên cổ xuý tích cực nhất. Tại Châu Âu, triết gia Charles Bernard Renouvier cũng là người theo quan điểm Nhân Vị. Hai trung tâm chính của trường phái Nhân Vị tại Hoa Kỳ là trường Đại học Boston và trường đại học Nam California, nơi xuất bản tạp chí "Người Nhân Vị" ([I]The Personalist[/I]). Triết lý Nhân Vị bao gồm những nét chính yếu như sau: [I]1. Nhân vị là chìa khoá mở cánh cửa thực tại[/I]: Thực tại tối hậu thộc về bản chất của nhân vị. Cá nhân con người là thực tại tối hậu và là một nhân vị; những thực thể khác cũng thế, kể cả vũ trụ và Thượng Đế. Vượt qua ngoài nhân vị, mọi việc đều phi lý và vô nghĩa. Ý nghĩa chỉ quan trọng đối với con người, giá trị chỉ đáng kể đối với con người, hiện hữu chỉ có ý nghĩa đối với con người; cái đẹp chỉ thoả mãn mỹ cảm đối với con người; đạo đức chỉ để tôn vinh phẩm cách của con người. Tương tự, Thượng Đế chỉ thực sự có ý nghĩa trong phạm vi nhân vị; mọi ý tưởng, mục đích và toàn bộ sự vật trên thế giới này cũng thế mà thôi. [I]2. Mọi giá trị chỉ tồn tại trong con người và chỉ dành cho con người:[/I] Ngoài nhân vị, không có giá trị nào cả. Chỉ vì con người là những tạo vật biết phân định những sự vật khác, họ ấn định giá trị cho mọi vật. Mọi giá trị đều vô nghĩa nếu chúng không thuộc về con người. Nếu con người không tồn tại trên thế giới này, các giá trị cũng tiêu biến bởi vì chỉ có con người mới quy kết giá trị cho vạn vât. Tuy nhiên, trước khi con người hiện diện trên quả đất này, chính Thượng Đế, Nhân Vị Tối Thượng ([I]Suprme Person[/I]), đã sáng tạo và vun đắp giá trị cho vạn vật. Để biên minh cho quan điểm này, các triết gia Nhân Vị yêu cầu chúng ta tự đặt mình vào vị trí Thượng Đế, Đấng sáng tạo ra hai thế giới: thế giới xấu xa, độc ác, tội lỗi và thế giới tươi đẹp, thiện lương, tốt lành. Liệu rằng có sự khác biệt thực sự nào giữa hai thế giới ấy, nếu như không có sự tồn tại của tạo vật có trí tuệ và biết phân định như con người? Ngoài Thượng Đế, Nhân Vị Tối Thượng, siêu việt bên trên mọi suy lường và phân biệt, chỉ có con người mới có đủ trí tuệ để xác lập và gìn giữ giá trị cho muôn loài vật. [I]3. Nhân phẩm là giá trị thực chất, vô hạn và tối hậu[/I]: Mỗi cá nhân đều có nhân phẩm, là giá trị thực chất, vô hạn và tối hậu. Các sự vật phi nhân vị cũng có gía trị thực chất, giá trị sử dụng hay giá trị trao đổi, nhưng chúng không có giá trị thực chất vô hạn (infintive [I]tintrinsic value).[/I] Chỉ có con người mới vượt lên trên mọi giá trị. Nếu có loại cân dành để đo lường giá trị và đặt một con người lên điã cân, không có cái gì, thậm chí là toàn bộ tài sản của cõi trần thế gian này, có thể quân bình cán cân, trừ phi đặt con người khác lên đĩa cân còn lại. Và bởi vì giá trị của mỗi con người là vô hạn, đặt một hay một ngàn con người lên đĩa cân còn lại cũng chỉ khiến cán cân quân bình như nhau. Dẫu có nhân lên hàng ngàn lần, vô hạn cũng chỉ là (chỉ bằng) vô hạn. Vì thế, không có gì trên đời này có giá trị đủ đổi lấy một con người. [I]4. Vũ trụ hoà hợp với các giá trị nhân bản[/I]: Giả định rằng Nền Tảng Thế Giới ([I]World- Ground[/I]) là một Tinh Thần Vũ Trụ ([I]Cosmic Mind[/I]) hay Nhân Vị Tối Thượng, rằng mọi giá trị đều tồn tại trong con người và chỉ dành cho con người mà thôi, thế giới này tất phải hoà hợp với các giá trị nhân bản. Lập luận ngược lại, giả định rằng thế giới này hoà hợp với các giá trị nhân bản, ắt phải có sự tồn tại một Nhân vị Tối Thượng. Giả định này là điều kiện hình thành nên giả định kia. Con đường hướng con người đến mục đích hoàn thiện chỉ có thể đạt được dựa trên tiền đề cho rằng có sự tồn tại của các giá trị nhân bản và thế giới này vận hành hoà hợp với các giá trị ấy. Nói cách khác, đời sống đức độ phải là đời sống phù hợp với quy luật của vũ trụ [I]5. Cá thể tính của thực tại[/I] ([I]the Individuality of Reality[/I]): Các triết gia Nhân Vị đồng tình với quan niệm Tân Hiện Thực khi cho rằng, xét đến cùng, thế giới này bao gồm những thực thể riêng biệt. Đối với con người lẫn sự vật, sự thực hữu chỉ tồn tại ở mức cá thể; mọi hình thức phổ quát hoá đều là giả lập. Theo đó, thực sự không hề có cái được gọi là "[I]toàn thể nhân loại[/I]", chỉ tồn tại những cá nhân con người mà thôi. [I]6. Thực tại năng động[/I]: Không phải là một thể ù lì và trì trệ, thực tại tối hậu có bản chất năng động và tích cực, giống như cơ cấu hoạt động của nguyên tử vậy. Thế giới này vốn là môi trường tạo tác của Thượng Đế Toàn Năng. [I]7. Hiện tượng tính của vật chất[/I] ([I]the Phenemenality of Matter[/I]): không phải là thực tại tối hậu (chân xác về mặt bản thể), vật chất chỉ là hiện tượng, là hình thức biểu hiện bên ngoài của thực tại. Vật chất là dữ kiện mang đến ấn tượng cảm quan, không thực sự bộc lộ được bản chất tối hậu của đối tượng tri giác. [I]8. Nguyên lý nhân quả[/I] ([I]Causality[/I]): Các triết gia Nhân Vị đặt niềm tin vào tính xác thực của quan hệ nhân quả. Theo họ, nguyên lý nhân quả không chỉ tồn tại trong tâm trí con người, nó còn là động lực thực sự hiện hữu và vận hành trong thế giới tự nhiên, không phụ thuộc vao tư tưỏng và ước muốn của công nghiệp. [I]9. Tính thống nhất của thế giới[/I] ([I]the Unity of the World[/I]) và Nhân Vị Tối Thượng: Mặc dù thế giới được cấu thành bởi những cá thể riêng biệt, các cá thể vẫn liên kết với nhau nhờ có chung Nền Tảng thế giới hay Nhân Vị Tối Thượng. Nhân vị là thực thể duy nhất có khả năng kết hợp muôn vàn dị biệt vào một khối thống nhất. Là "một thể đồng nhất đa sắc thái" ([I]unitas multiplex- thuật ngữ do William Sten đề xuất[/I]), mỗi nhân vị có nhiều hình thái nhưng chỉ có một thể duy nhất - mặc dù hình thái có thay đổi nhưng bản thể vẫn thường hằng và đồng nhất . [B] 9. Hiện tượng học & Hiện tượng luận [/B]Hiện tượng học ([I]Phenomenology[/I]), do triết gia Đức Edmund Husserl (1859-1938) sáng lập. Tuy "sinh sau đẻ muộn", học thuyết này vẫn được xem là cơ sở nền tảng của Chủ nghĩa Hiện Sinh được hình thành trước đó. Chúng ta cũng cần lưu ý phân biệt học thuyết này với Hiện tượng luận ([I]Phenomenalism[/I]) luận thuyết cho rằng không có gì thực hữu ngoại trừ kinh nghiệm giác quan. [B][I]Hiện tượng luận [/I][/B] Như đã đề cập ở phần trước, David Hume, triết gia Anh thuộc trường phái Kinh Nghiệm, đã xác định quan điểm riêng của mình khi phủ nhận sự hiện hữu của thực tại tối hậu. Theo quan điểm kinh nghiệm của Hume (xây dựng trên giả định cho rằng tri thức chỉ được rút ra từ kinh nghiệm, từ các ấn tượng mà các giác quan cung cấp cho chúng ta), con người chỉ có thể nắm bắt được những dữ kiện cảm giác (hiện tượng), các đối tượng biểu hiện ra những dự kiện ấy (thực tại tối hậu) là bất khả tri. Theo đó, hiện tượng là dạng thực tại duy nhất mà con người có thể xác minh được, mọi giả định về thực tại siêu hình đều không thể được nhìn nhận là có giá trị và hiệu lực. Thí dụ: Tôi thấy một hòn đá đang rơi, hòn đá ấy hiện hữu; nhưng trọng lực (điều mà tôi không cảm nhận được ) chẳng phải là một sự kiện kinh nghiệm của tôi. Chúng ta có thể lập luận rằng trọng lực là hiện tại chân xác và tối hậu, vì thế nó vượt qua năng lực và giác quan. Tuy nhiên, Hume sẽ phản bác rằng bởi lẽ trọng lực nằm ngoài khả năng xác minh của giác quan, nó không được xem là hiện hữu. Đối với Hume, cảm nhận là thước đo đáng tin cậy, những gì không thể cảm nhận được đều vô nghĩa. [B][I]Hiện tượng học [/I][/B]Học thuyết này nhận định rằng thực tại phải được thừa nhận, rằng có sự tồn tại của các thực thể khách quan. Husserl đề cập đến các thực thể siêu hình ấy như những "yếu tính" ([I]essences[/I]). Yếu tính là cấu trúc thực sự của hiện tượng, là trí tuệ trong tự nhiên. Các tiến trình nhận thức của con người tìm ra được yếu tính từ các kinh nghiệm mang tính hiện tượng mà anh ta nhận thức được. Bằng cách tư duy và nắm bắt những gì diễn ra trong tâm thức của mình, không để các định kiến xen lẫn và can thiệp vào quá trình chứng nghiệm, con người có thể phát hiện ra thực tại từ những sắc thái của kinh nghiệm hiện tượng. [CENTER][IMG]https://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/2ccb462ff6a74442b2c7802e390d1c78-hien-tuong-hoc-3.jpg/hien-tuong-hoc-3.jpg[/IMG][/CENTER] Các nhà hiện tượng học còn tin rằng các yếu tính có thể được phát hiện từ toàn bộ kinh nghiệm nhận thức của con người - không chỉ từ các hiện tượng của đối tượng vật chất, mà còn từ các kinh nghiệm tôn giáo và giá trị đạo đức. Hãy lấy các hoạt động tâm lý do bất công gây ra làm thí dụ. Ngay cả một đứa trẻ nhỏ cũng cảm nhận được sự bất công một cách rõ ràng. Nếu hai đứa trẻ cùng phạm phải một lỗi lầm như nhau nhưng lại chịu hình phạt không đồng đều, đứa trẻ bị trách phạt nặng hơn sẽ cảm nhận sâu sắc sự bất công mà nó phải chịu. Nhận thức về sự bất công là một kinh nghiệm tâm lý, yếu tính của nó có thể rút ra được từ quá trình phân tích và suy luận mà Husserl đã đề xuất. Ông gọi đó là tiến trình tóm lược hiện tượng. Một triết gia Đức khác, Max Scheler (1874-1928), ứng dụng hiện tượng học vào lãnh vực giá trị đạo đức. Được xây dựng trên nền tảng củ Hiện tượng luận của David Hume, ý tưởng củ Descarte, Chủ nghĩa Duy Tâm của Plato và Tiên Nghiệm Luận của Kant ([I]Kant's Transcendentalism[/I]), hiên tượng học, về cơ bản, có thể được xem là một hình thức của Chủ Nghĩa Tân Duy Tâm ([I]Neo Idcalism[/I]). [B] 10. Chủ nghĩa Hiện sinh & Tân chính thống [/B] Có hai trường phái triết lý Hiện sinh mà chúng ta cần phân biệt rõ: - Trường phái mang tính tôn giáo do Soren Aa bye Kierkegaard (1813-1855), cha đẻ của Chủ Nghĩa Hiện Sinh (existentialism), vạch ra. - Trường phái mang tính vô thần, đại diện la Jean- Paul Sartre (1905-1980), văn sĩ Hiện sinh nổi tiếng của Pháp. Bên cạnh đó, một số triết gia danh tiếng thuộc hai trường phái trên khước từ danh xưng "nhà Hiện Sinh", một số khác, thuộc quan điểm tôn giáo, chấp nhận được mọi người biết đến như là những triết gia Tân Chính Thống ([I]Neo- Orthoxy[/I]). [B][I]Chủ Nghĩa Hiện Sinh [/I][/B]- Định Nghĩa: Các nhà Hiện Sinh chấp nhận quan điểm cho rằng "hiện hữu có trước yếu tính" ([I]l'existence Précède l'esseence[/I]): một số còn tiến xa hơn khi cho rằng yếu tính (hay bản chất) không thực hữu. Mọi triết gia Hiện Sinh đều nhìn nhận con người là chủ thể hiện sinh. Một số khác còn cho rằng chỉ có chủ thể mới hiện hữu, nó cũng chỉ là trạng thái hiện hữu chủ quan của cá nhân mà thôi. [B][I]Con người và tự do ý chí [/I][/B] Mọi triết gia Hiện Sinh đều nhấn mạnh đến quyền tự do bẩm sinh của con người. Với quyền tự do này, con người chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình, chịu trách nhiệm về sự phát triển và kết quả hình thành tính cách bản thân. Một số nhà Hiện Sinh, trong đó có Sartre, tin rằng con người bẩm sinh không sở hữu bất kỳ một đặc tính nào thuộc về cái được gọi là "nhân bản". Theo Sartre, con người không có bản tính thiên phú, mỗi cá nhân phát triển tính cách riêng thông qua "[I]những chọn lựa và quyết định trong đời[/I]". Chúng tạo nên tính cách cho mình. Không lúc nào con người bước ra khỏi quá trình phát triển tính cách; mỗi cá nhân tự sáng tạo bản thân bằng những quyết định trong đời. Vì thế, con người (hiện sinh) tự chọn lấy bản chất (yếu tính) cho mình. Dưới áp lực của vô số trách nhiệm đè nặng trên thân phận của một con người, trong đó phải kể đến áp lực của những lựa chọn và hệ quả kéo theo của chúng, con người luôn cảm thấy lo lắng và phiền não. Thật đáng sợ khi nhận thức ra rằng mỗi lựa chọn của ta định hình nên thực tại. Ý thức được nỗi ám ảnh hãi hùng ấy, đồng thời chấp nhận sự kiện rằng lý trí của con người vốn mong manh và bất lực trước những sức ép như thế, các triết gia Hiện Sinh thuộc trường phái tôn giáo tìm kiếm sự hướng dẫn nơi thiên khải. Dẫu sao đi nữa, con người luôn phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Con người không thể chối bỏ trách nhiệm bằng cách khước từ hành động, bởi lẽ anh ta luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống, luôn phải đối mặt với những quyết định trong đời. [B][I]Triết lý về Thuyết phi lý [/I][/B] Các nhà Hiện Sinh không tin vào một thế giới thực tại có trật tự và lý tính. Với họ, sự hiện hữu của con người là chủ quan và phi lý tính; mọi quyết định, lựa chọn và ứng xử của con người đều được thực hiện độc lập với ý chí. Con người chủ quan luôn bị thúc đẩy bởi cảm tính, bởi lo âu và nhịp sống phi lý; chúng ta chi phối và làm lệch hướng mọi quyết định của con người. Sự kiện hữu không có lý tính, nó bị tràn ngập bởi cảm giác căng thẳng, lo âu, lạc lõng, thất vọng, v.v... Chúng góp phần cấu thành nên tri thức chân lý của con người. Tâm trí của con người không có khả năng khám phá chân lý thông qua lý lẽ, bởi vì sự thật chỉ được tìm thấy trong các nghịch lý. Xét từ cái nhìn của Đấng siêu việt trên mọi phân biệt (Thượng Đế), sự thật thể hiện lý tính một cách minh bạch và rõ ràng. Tuy nhiên, trong khoảng rối rắm xuất phát từ chủ quan tính nơi con người, chân lý luôn bao hàm mâu thuẫn - một dạng nghịch lý. [B][I]Chủ quan tính là chân lý, là thực tại [/I][/B]Kierkegad viết: "[I]Chủ quan tính la chân lý; chủ quan tính là thực tại[/I]." Từ những gì đã được thảo luận ở trên, nhận định ấy là kết luận tất yếu. Chân lý không ở quanh ta; nó ở trong chúng ta. Tuy nhiên, không nên hiểu nhận định ấy theo nghĩa rằng chân lý chỉ là vấn đề ý kiến chủ quan. Thực tại không nằm bên ngoài chúng ta, nó ở trong chúng ta. Mọi hình thức khái quát hoá hay các quy luật về bản chất con người vốn không thật; nhưng chúng ta, những cá nhân hiện sinh, là thực hữu. Hoạt động tự quyết, chứ không phải một quyết định, là thực hữu. Con người, xét theo danh nghĩa một con người, không phải là một thực tại; nhưng anh ta thực sự tồn tại như một cá nhân hiện sinh. Chân lý là nội tại; thực tại cũng thế. Bởi lẽ thế giới Hiện Sinh bao gồm tính chủ quan nội tại. ---------------------------------------- [I]Ghi chú[/I]: (1)[I]Ludwig Josef Johann Wittgenstein[/I] (1889-1961): [I]Triết gia gốc Áo, sống tại Anh từ năm 1911. Ông tiến hành nghiên cứu các học thuyết về ngôn ngữ dưới sự hướng dẫn của Bertrand Russell. Trong tác phẩm [/I]Tractatus Logico- Philosophicus. [I]Ông đề xuất quan điểm cho rằng ngôn ngữ "minh hoạ" sự vật theo các quy ước có sẵn. Về sau, ông thay đổi quan điểm, cho rằng ngôn ngữ có tầm quan trọng hơn các quy ước tiền định. (ND)[/I] [I](2)Sir Alfred jules Ayer (1910-1989) : Triết gia Anh, nổi tiếng với những đóng góp cho Chủ Nghĩa Thực Chứng Luận Lý, đặc biệt với tác phẩm [/I]"Ngôn ngữ, Chân lý và luận lý" [I](Language, Truth and Logic), xuất bản năm 1936. (ND)[/I] [I](3) Trích từ[/I] "Tổng luận thần học" [I](Summa Theologica) của Thánh Thomas Aquinas, bản dịch của Anton C. Pegis. (Nhà xuất bản Random House, New york, 1945). (TG)[/I] [I](4) George Santayana (1863-1952): Triết gia và văn sĩ Hoa Kỳ gốc Tây Ban Nha, về sau định cư tại La Mã. Ngoài các công trình triết học, bao gồm tác phẩm[/I] "Đời sống lý trí"[I] (The life of Reason), ông còn sáng tác thơ, viết phê bình và tiểu thuyết rất thành công. (ND) [/I][B]William S. Sahakan & Mabel. Sahakan- Thanh Chân dịch[/B] Tư tưởng các triết gia vĩ đại - NXB TP.HCM [/QUOTE]
Tên
Mã xác nhận
Gửi trả lời
KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIẾT HỌC
Triết học phương Tây
Các hệ thống triết học hiện đại
Top